Văn hóa tâm linh đóng vai trò quan trọng trong chỉnh thể hệ thống giá trị văn hóa Việt Nam, gắn bó mật thiết với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và là một phương diện hữu hiệu để con người bộc lộ tình cảm, niềm tin, sự ước vọng, triết lý sâu sắc trong suốt chiều dài lịch sử. Nghiên cứu về văn hóa tâm linh được các học giả như Phan Kế Bính, Trần Ngọc Thêm, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Đăng Duy... đề cập trong các công trình nghiên cứu của mình. Các học giả chủ yếu tiếp cận một phương diện cụ thể về văn hóa tôn giáo, văn hóa tín ngưỡng nhằm nỗ lực làm rõ biểu hiện của văn hóa tâm linh trong đời sống của cộng đồng. Song, việc tiếp cận văn hóa tâm linh dưới lăng kính của ca dao, tục ngữ vẫn chưa nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, dù ca dao, tục ngữ được xem là một kho tàng tri thức của dân tộc, đúc kết một cách hệ thống và chi tiết các quan niệm, niềm tin, triết lý của cộng đồng.
Tín ngưỡng nông nghiệp của người Việt được xem là một hình thái tín ngưỡng cổ xưa, phản ánh mối quan hệ sâu sắc giữa con người và tự nhiên trong xã hội nông nghiệp truyền thống. Xét ở góc độ văn hóa tâm linh, tín ngưỡng nông nghiệp qua các quan niệm về chu kỳ mùa vụ, nghi lễ nông nghiệp, lễ hội dân gian đã cho thấy sự gắn bó mật thiết đối với đời sống tâm linh của cộng đồng. Trong bài viết này, chúng tôi nhận diện và phân tích các biểu hiện của văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng nông nghiệp của người Việt thông qua hệ thống ca dao, tục ngữ có liên quan. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần mang đến một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu văn hóa tâm linh, mà còn khẳng định chiều sâu tinh thần và tính nhân văn, bản sắc văn hóa Việt Nam.
1. Cơ sở lý luận
1.1. Khái niệm “văn hóa tâm linh”
Với tư cách là một bộ phận cấu thành văn hóa Việt Nam, thể hiện chiều sâu tinh thần và ẩn chứa những ước vọng của con người về chân - thiện - mĩ, văn hóa tâm linh có thể hiểu là hệ thống các giá trị, niềm tin, biểu tượng và hành vi mang tính thiêng liêng, thể hiện mối quan hệ giữa con người - tự nhiên - xã hội và thế giới siêu việt trong tiến trình lịch sử - văn hóa. Văn hóa tâm linh tồn tại với đa dạng các phương thức từ văn hóa vô hình, hữu hình đến văn hóa hành động. Song dưới hình thức nào thì bản chất nhân văn, hướng thiện vẫn được xem là đặc trưng cốt lõi của văn hóa tâm linh. Trong mối quan hệ với tín ngưỡng, văn hóa tâm linh thể hiện sự gắn bó chặt chẽ không chỉ qua những biểu hiện về niềm tin, biểu tượng, nghi lễ mà còn ở cách tri ân người có công với cộng đồng.... Tuy vậy, văn hóa tâm linh không đồng nhất với tín ngưỡng mà nó vượt lên trên cả niềm tin về cái thiêng để bộc lộ những giá trị tốt đẹp của con người, những tình cảm sâu sắc thể hiện đức tính của người Việt. Trần Đình Sử nhận định: “Văn hóa tâm linh sẽ theo suốt sự tồn tại của các dân tộc trên trái đất, gắn với con người và thể hiện trong văn học, nghệ thuật. Trong con người hiện đại vẫn đan xen con người khoa học và con người tâm linh, chung sống với nhau trong một cơ thể, một tâm hồn”. Quan niệm này đã chỉ ra rằng văn học, nghệ thuật (trong đó có ca dao, tục ngữ) là một phương tiện phản ánh rõ nét văn hóa tâm linh của người Việt. Do vậy, việc nghiên cứu đời sống tâm linh nói chung và đặc sắc văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng nông nghiệp qua cách tiếp cận ca dao, tục ngữ không mâu thuẫn mà còn hoàn toàn phù hợp với tinh thần và nội hàm của khái niệm.
1.2. Khái quát về tín ngưỡng nông nghiệp của người Việt
Tín ngưỡng nông nghiệp là một hình thái tín ngưỡng cổ xưa và bền vững, phản ánh sâu sắc mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong xã hội nông nghiệp truyền thống. Ở Việt Nam - một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, nơi nền văn minh lúa nước hình thành từ rất sớm - tín ngưỡng nông nghiệp trở thành một bộ phận quan trọng trong đời sống tâm linh của cộng đồng cư dân. Sự hiện diện của nó không chỉ thể hiện ở các hình thức thờ cúng mà còn gắn liền với chu kỳ mùa vụ, nghi lễ nông nghiệp và các lễ hội dân gian.
Trong hệ thống tín ngưỡng nông nghiệp, có thể nhận thấy sự hiện diện của bốn nhóm chính: (1) Tín ngưỡng phồn thực - thể hiện mong ước sinh sôi, nảy nở; (2) Tín ngưỡng thờ các lực lượng tự nhiên như Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước, Bà Mưa, Bà Mây, Bà Sấm, Bà Chớp - những nhân cách hóa của các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng; (3) Tín ngưỡng thờ Hồn Lúa - linh hồn được tin là cư ngụ trong mỗi cây lúa, cần được chăm sóc và giữ gìn; (4) Tín ngưỡng thờ Thần Mặt Trời - biểu tượng của ánh sáng, sức sống, mùa màng. Thực hành tín ngưỡng nông nghiệp ở Việt Nam được thể hiện rõ nét trong các lễ hội gắn với mùa vụ và vòng đời cây lúa. Lễ hội không chỉ là thời gian nghỉ ngơi mà còn là dịp để cộng đồng thực hành nghi thức cầu mùa, tạ ơn thần linh và thể hiện niềm tin tập thể. Những nghi lễ như rước nước, tế trời đất, rước Hồn Lúa, hay các trò chơi dân gian như đánh phết, ném còn, cướp cầu… đều mang ý nghĩa cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và sinh sôi phát triển.
Có thể nói, thực hành tín ngưỡng nông nghiệp là sự hòa quyện giữa nghi lễ, tâm linh và văn hóa sản xuất. Nó phản ánh nhận thức sơ khai của con người về thế giới tự nhiên, đồng thời là biểu hiện của bản sắc tinh thần cộng đồng Việt gắn bó với nông nghiệp lúa nước. Trong xã hội hiện đại, dù hình thức biểu hiện đã thay đổi, nhưng tín ngưỡng nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần người Việt, vừa như một di sản văn hóa, vừa là hệ giá trị góp phần giáo dục con người về lối sống hài hòa với tự nhiên, biết ơn.
2. Thảo luận
2.1. Biểu tượng truyền thống trọng nông
Khi con người chuyển từ nền kinh tế tước đoạt sang nông nghiệp đã kéo theo những biến chuyển trong mọi mặt của đời sống, trong đó có văn hóa. Đời sống nông nghiệp hay nói cách khác là nền nông nghiệp lúa nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành các đặc điểm tính cách, cách ứng xử của người Việt. Người Việt với đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp đã thể hiện bản sắc của một dân tộc trọng nông ngay từ rất sớm, cụ thể qua các hành vi tín ngưỡng nguyên thủy như thờ trời, đất, đến các lễ hội nông nghiệp đã phản ánh phần nào đặc điểm tinh thần này của người Việt. Trên nền tảng tín ngưỡng, người Việt dùng ca dao, tục ngữ để bày tỏ sự tôn sùng của mình với các thế lực siêu nhiên đã che chở, bảo vệ đời sống nông nghiệp của họ. Có thể nói, từ phương diện tiếp cận ca dao, tục ngữ trong bối cảnh của tín ngưỡng đã càng khẳng định tinh thần trọng nông của người Việt.
Người Việt có câu ca dao:
“Ơn Trời mưa nắng phải thì,
Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu.
Công lênh chẳng quản lâu lâu,
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.
Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang,
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu”.
Nhìn tổng thể, câu ca dao đề cập đến đời sống của người làm nông nghiệp, ở đó con người lao động vất vả, gắn liền mình với cánh đồng, với cày bừa nặng nhọc. Vượt lên trên mọi khó khăn, mỗi người nông dân đều ẩn chứa niềm tin về tương lai ấm no, hạnh phúc, như đơn vị ca dao đề cập: “Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng”. Để có được tinh thần lạc quan đó, người Việt phải dựa vào truyền thống trọng nông, xem nông nghiệp là động lực, là nguồn sống để phấn đấu lao động. Bên cạnh đó, truyền thống trọng nông nghiệp còn thể hiện qua lời dặn dò ở cuối câu ca dao: “Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang,/ Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu”. Như vậy, niềm tin vào đời sống nông nghiệp càng được nhấn mạnh qua đơn vị ca dao trên. Truyền thống trọng nông chính là một trong những bản chất của tín ngưỡng, đó chính là sự phụ thuộc vào thiên nhiên, dẫn đến sự tin tưởng, tôn trọng nông nghiệp. Truyền thống trọng nông từ đó gắn chặt với đời sống tâm linh tín ngưỡng, vừa là nguồn gốc ra đời, vừa là động lực thúc đẩy con người tăng thêm niềm tin vào các đối tượng thiêng trong nông nghiệp. Các đơn vị ca dao, tục ngữ đóng vai trò như chất xúc tác, là nơi con người bày tỏ tình cảm, tâm tư vào đời sống nông nghiệp, là công cụ để truyền dạy tinh thần trọng nông đến các thế hệ sau. Qua đó, niềm tin vào nông nghiệp nói chung và đời sống tâm linh liên quan đến nông nghiệp có cơ hội bén rễ sâu vào tâm thức và ảnh hưởng rộng đến nhiều thế hệ con người.
2.2. Trời - biểu tượng cho quyền năng tối cao của tín ngưỡng nông nghiệp
Như đã trình bày, tín ngưỡng nông nghiệp truyền thống với các thành tố nhỏ đã hòa nhập vào đời sống, lồng ghép vào các loại hình tín ngưỡng khác nhau, do đó không còn được hiện hữu một cách rõ ràng. Song, trong quá trình khảo sát, tác giả nhận thấy niềm tin vào Trời được thể hiện một cách phổ biến trong các đơn vị ca dao, tục ngữ. Từ góc độ tín ngưỡng nông nghiệp, Trời là một đối tượng được thờ cúng từ rất sớm. Theo Phan Ngọc, ngay sau khi con người bước qua giai đoạn kinh tế nông nghiệp, hành vi tôn thờ các hiện tượng thiên nhiên gắn liền với đời sống nông nghiệp đã ra đời, trong đó có tín ngưỡng thờ Trời (Phan Ngọc, 1998). Tín ngưỡng thờ Trời bắt đầu phát triển và có nhiều dạng thức thờ tự khác nhau: Bà Trời, Bà Thiên sau phát triển thành các Mẫu Cửu Trùng, Cửu Thiên Huyền Nữ.... Nhìn chung, thờ Trời có nguồn gốc ra đời rất sớm, gắn bó mật thiết với đời sống tâm linh tín ngưỡng của người dân gốc nông nghiệp. Người nông dân tin vào Trời vì Trời ban nắng, mưa - vốn là những yếu tố quan trọng, quyết định mùa màng có bội thu, cây cối sum suê, vạn vật có phát triển hay không. Trong kho tàng ca dao của người Việt, yếu tố Trời xuất hiện tương đối phổ biến, trở thành một biểu tượng chủ đạo biểu hiện niềm tin của người dân, đồng thời phản ánh những khát khao, ước vọng về một mùa màng bội thu, tươi tốt. Có thể đề cập đến một số ngữ liệu như: “Ai ơi! Nhớ lấy lời này:/ Tằm nuôi ba lứa, ruộng cày ba năm./ Nhờ Trời hòa cốc phong đăng,/Cấy lúa lúa tốt, nuôi tằm tằm tươi./Được thua dù có tại Trời,/ Chớ thấy sóng cả mà rời tay co./ Lạy Trời mưa thuận gió hòa,/ Để cho chiêm tốt, mùa tươi em mừng./ Ngô khoai chẳng được thì đừng,/ Có nếp có tẻ trông chừng có ăn./ Người ta đi cấy lấy công,/ Đây tôi đi cấy còn trông nhiều bề./ Trông trời, trông đất, trông mây,/ Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm./ Trông cho chân cứng đá mềm,/ Trời êm bể lặng mới êm tấm lòng./ Ơn Trời mưa nắng phải thì,/ Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu./ Công lênh chẳng quản lâu lâu,/ Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng./ Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang,/ Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu./ Nhờ trời mưa thuận gió hòa,/ Cây nào cây nấy trẻ già khuyên nhau./ Chim gà, cá lệch, cành cau,/ Mùa nào thức ấy giữ màu nhà quê./ Người ta rượu sớm trà trưa,/ Em nay đi nắng về mưa đã nhiều,/ Lạy trời mưa thuận gió đều,/ Cho đồng lúa tốt, cho chiều lòng em”. Trong các đơn vị vừa nêu, yếu tố Trời xuất hiện với quyền năng ban mưa, nắng, gió cho con người. Các yếu tố trên là điều kiện tối cần thiết cho đời sống nông nghiệp. Để trồng trọt không thể không phụ thuộc vào những điều kiện tự nhiên trên. Tuy nhiên, con người không thể làm chủ được các điều kiện trên, không thể tự mình hô mưa, gọi gió và điều hòa tự nhiên theo ý của mình. Từ đó, con người càng phụ thuộc vào tự nhiên, gắn mình chặt chẽ với tự nhiên và tôn sùng Trời. Trời trở thành một đối tượng tối cao, có quyền lực định đoạt đến đời sống nông nghiệp. Trong ca dao, người ta sử dụng những từ ngữ thể hiện sự trang trọng, tôn kính, phụ thuộc vào Trời như: “nhờ”, “lạy”, “ơn”, “trông”. Các từ ngữ đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của Trời đối với tâm thức của người nông dân. Ngoài việc tôn trọng Trời, trong tín ngưỡng nông nghiệp, người Việt còn tôn trọng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, niềm tin này được nhân dân đúc kết qua câu tục ngữ: “Trông trời trông đất trông mây, trông mưa trông gió trông ngày trông đêm”. Như đã trình bày, một số yếu tố (trong đó có nước) đã hòa nhập vào đời sống tâm linh của người Việt, thường chỉ biểu hiện thông qua một số hành vi thực hành tín ngưỡng. Nhưng không thể phủ nhận việc có tồn tại và ảnh hưởng của các yếu tố này trong tâm thức của người Việt. Qua kết quả khảo sát các đơn vị ca dao, tác giả nhận thấy có sự xuất hiện của niềm tin thờ nước của người Việt, được biểu hiện qua hành vi rước nước trong các lễ hội. Để minh họa cho quan điểm một số tín ngưỡng hòa nhập với nhau và được biểu hiện trong nghi lễ nông nghiệp, tác giả dẫn ra và phân tích đơn vị ca dao sau: “Ba năm mở hội một lần,/ Tiếng đồn nô nức xa gần đến xem./ Hai phố chôn hai dãy đèn,/ Làm hai cái cổng dưới trên phố Hàm./ Làm thêm cái cổng Tam quan,/ Làm nhà tám mái bày đồ hàng ngơi./ Dân ta mở hội mồng mười,/ Mười một rước nước thỉnh kinh lên chùa./ Rước nước trên sông Bồ Đề,/ Thỉnh kinh chùa Đá rước về chùa Mơ”. Bên cạnh phụ thuộc vào Trời, nước cũng là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến canh tác nông nghiệp lúa nước. Trong đơn vị ca dao, hành vi “rước nước” xuất hiện như một biểu hiện cho niềm tin thờ nước của người dân gốc nông nghiệp. Không chỉ riêng hội chùa Hàm Long (nay không còn) mà hầu hết các lễ hội nông nghiệp Việt Nam đều có nghi lễ rước nước. Nghi lễ trên được thực hiện long trọng, nghiêm túc trong các hội đền ở nhiều quy mô khác nhau (ví dụ như nghi lễ rước nước của hội Gióng tại đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, Hà Nội bây giờ). Do đó, có thể thấy, dù không còn tồn tại một cách độc lập, nhưng tín ngưỡng thờ cúng các hiện tượng nông nghiệp vẫn luôn gắn bó, ảnh hưởng trong đời sống tâm linh của người Việt. Như vậy, ca dao, tục ngữ của người Việt đã phản ánh niềm tin vào tín ngưỡng nông nghiệp cụ thể qua các biểu tượng như (1) Truyền thống trọng nông; (2) Trời - Biểu tượng cho quyền năng tối cao. Tín ngưỡng nông nghiệp ngày nay không còn được tồn tại một cách độc lập mà hòa nhập vào nhau, một số được biểu hiện qua ca dao, tục ngữ (trường hợp Trời). Trong khi đó, một số yếu tố khác thường hòa quyện vào nhau và biểu hiện qua hoạt động thực hành tín ngưỡng (các nghi lễ nông nghiệp). Nhìn chung, mối quan hệ giữa ca dao, tục ngữ với văn hóa tâm linh trong trường hợp này cho thấy sự tôn trọng và lưu truyền các giá trị văn hóa đến các thế hệ sau của người Việt. Nhưng thông qua ca dao, tục ngữ, đã phản ánh tương đối rõ nét sự tương tác giữa văn hóa tâm linh với môi trường tự nhiên. Các đối tượng trong tự nhiên bằng niềm tin của người dân Việt đã trở thành những vị thần, thánh có quyền năng tối thượng, quyết định được đời sống, lao động sản xuất của con người; con người qua đó bày tỏ tôn sùng, lệ thuộc vào các yếu tố tự nhiên. Đồng thời, với lịch sử phát triển khá sớm của tín ngưỡng nông nghiệp, đã chứng minh được rằng văn hóa tâm linh có thể đã tồn tại và phát triển song hành với niềm tin tín ngưỡng của người Việt, được bảo tồn và phát triển trong đời sống tinh thần của họ cho đến tận ngày nay.
3. Kết luận
Bài viết tập trung nhận diện và phân tích những biểu hiện của văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng nông nghiệp của người Việt từ hướng tiếp cận ca dao, tục ngữ. Qua đó, bài viết chỉ ra đời sống tâm linh không chỉ đơn thuần phản ánh tính thiêng liêng mà còn ẩn chứa đằng sau những biểu tượng đó là hệ thống triết lý, tư tưởng của người Việt về phương thức ứng xử với môi trường tự nhiên. Trong mối quan hệ với tự nhiên, con người thể hiện niềm tin mãnh liệt với các thế lực siêu nhiên đang chi phối đời sống canh tác nông nghiệp của họ (trọng nông), sâu sắc hơn là thái độ tôn trọng thiên nhiên, hướng đến lối sống hài hòa - một triết lý sống của người Việt từ bao đời nay. Như vậy, việc tiếp cận ca dao, tục ngữ đồng thời cho thấy khả năng luận giải những biểu hiện của văn hóa tâm linh - đó là chiều sâu tinh thần, tính nhân văn sâu sắc và bản sắc văn hóa Việt Nam.
Chú thích:
* NCS, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội; Giảng viên Học viện Giáo dục quốc tế, Học viện Sư phạm Ngọc Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc.
1 Nguyễn Đăng Duy (1998), Văn hóa tâm linh, NXB Hà Nội, Hà Nội, tr. 29.
2 Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, NXB Văn học, Hà Nội.
3 Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.
4 Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
5 Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm linh, NXB Hà Nội, Hà Nội.
6 Nguyễn Đăng Duy (2001), Văn hóa tâm linh, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
7 Trần Đình Sử (2018), “Văn học và văn hóa tâm linh”, Kỷ yếu hội thảo Văn học và Văn hóa tâm linh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 41-50.