Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Lý luận sở dĩ quan trọng là vì nó dạy ta hành động” và “Không có lý luận thì như người mù đi đêm”, lý luận chính trị không chỉ là ánh sáng soi đường mà còn là vũ khí để Đảng lãnh đạo toàn diện sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Tầm quan trọng của công tác giáo dục lý luận chính trị (GDLLCT) đã được khẳng định trong lịch sử cũng như qua các kỳ đại hội của Đảng. Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã chỉ rõ: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng, cho nên công tác giáo dục và nghiên cứu lý luận là một công tác quan trọng bậc nhất của mỗi đảng Mác - Lênin”. Trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, công tác GDLLCT luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) coi là nhiệm vụ trung tâm, giữ vai trò định hướng tư tưởng, dẫn dắt hành động và bảo đảm sự thống nhất trong toàn Đảng về mục tiêu, lý tưởng, lập trường cách mạng. Giáo dục lý luận chính trị chính là quá trình trang bị nền tảng thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Qua đó, giúp họ hiểu rõ và kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Việc thấm nhuần lý luận cách mạng không chỉ củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, mà còn tạo ra sự thống nhất nhận thức, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, tăng cường sức đề kháng trước các quan điểm sai trái, phản động. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta...” phần lớn đều bắt nguồn từ sự lơ là học tập lý luận chính trị, thiếu tu dưỡng về tư tưởng, đạo đức cách mạng. Hơn nữa, công tác GDLLCT không chỉ nhằm củng cố, nâng cao chất lượng đảng viên về tư tưởng mà còn trực tiếp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Lý luận là kim chỉ nam cho hành động; người cán bộ không có nền tảng lý luận vững chắc thì khó có thể xử lý đúng đắn các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, khó bảo vệ được lập trường, quan điểm của Đảng trước những tình huống phức tạp. Đặc biệt, trong bối cảnh Đảng đang đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị toàn diện, thì GDLLCT chính là công cụ then chốt để thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII về phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Không chỉ dừng lại ở nội bộ Đảng, GDLLCT còn là phương tiện hữu hiệu để bồi dưỡng, định hướng tư tưởng chính trị cho thế hệ trẻ - lực lượng nòng cốt của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh các giá trị xã hội truyền thống bị xáo trộn bởi ảnh hưởng của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng thụ, thì việc GDLLCT sẽ góp phần định hình lại giá trị sống, khơi dậy khát vọng cống hiến, lòng yêu nước và lý tưởng cách mạng trong giới trẻ.
1. Thực trạng công tác giáo dục lý luận chính trị
Trong thời gian qua, công tác GDLLCT của ĐCSVN đã có nhiều chuyển biến tích cực cả về nội dung, hình thức, phương pháp và hệ thống tổ chức. Đây là một trong những lĩnh vực được Đảng đặc biệt quan tâm, thể hiện rõ trong các nghị quyết, chỉ thị như Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2003 của Ban Bí thư, Kết luận số 94-KL/TW ngày 28/3/2014, Quy định số 256-QĐ/TW ngày 16/9/2009 về chế độ học LLCT đối với cán bộ, đảng viên. Nhiều địa phương, ban ngành, đoàn thể đã chủ động triển khai chương trình bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên, từng bước nâng cao nhận thức chính trị và năng lực tư duy lý luận cho các đối tượng. Hệ thống các trường chính trị, trung tâm chính trị cấp huyện, các học viện, nhà trường được kiện toàn, chất lượng đào tạo có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, nhìn một cách thẳng thắn và khách quan, thực trạng công tác GDLLCT trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, đòi hỏi phải được nhận diện nghiêm túc để có giải pháp khắc phục hiệu quả: “Việc học tập lý luận chính trị tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác thông tin, tuyên truyền một số đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa kịp thời, hình thức chưa phong phú...”; nội dung GDLLCT ở nhiều nơi còn nặng tính kinh viện, chậm được cập nhật theo thực tiễn đổi mới và hội nhập. Nhiều bài giảng vẫn còn khuôn mẫu, thiếu tính thời sự, thiếu sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, giữa tư duy chính trị với các vấn đề thực tế của đất nước và địa phương. Điều này làm cho người học, đặc biệt là thế hệ trẻ, khó tiếp cận và cảm thấy xa rời với thực tiễn cuộc sống: “Một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng”. Phương pháp giảng dạy LLCT ở nhiều cơ sở còn chậm đổi mới, chưa phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, phản biện của người học: “Công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị còn hạn chế về chất lượng, trùng lặp về nội dung, chương trình, giáo trình; chậm đổi mới về phương pháp”. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa tài liệu, sử dụng mô hình lớp học mở, mô phỏng tình huống chính trị - xã hội vẫn còn hạn chế, dẫn đến hiệu quả tiếp nhận kiến thức lý luận chưa cao. Đặc biệt, tình trạng học LLCT mang tính hình thức, học để đối phó, học để “đủ điều kiện bổ nhiệm” vẫn diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Không ít người học xong vẫn “lý luận không thông, thực tiễn không tỏ”, không có khả năng vận dụng lý luận vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Đội ngũ giảng viên LLCT - lực lượng then chốt bảo đảm chất lượng giáo dục lý luận hiện nay vẫn còn thiếu và chưa đồng đều về trình độ, năng lực lý luận, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng sư phạm. Một bộ phận giảng viên chưa được đào tạo bài bản, thiếu thực tiễn công tác lãnh đạo, quản lý, do đó hạn chế khả năng truyền đạt sinh động, gắn bó với cuộc sống thực tế của đất nước và của địa phương. Trong khi đó, các chính sách đãi ngộ, cơ chế tuyển dụng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên LLCT vẫn chưa tương xứng với vai trò đặc biệt quan trọng của họ. Công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá chất lượng công tác GDLLCT chưa thực sự chặt chẽ, toàn diện và khách quan. Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả học tập lý luận chưa được hoàn thiện; chưa có cơ chế kết nối giữa kết quả học lý luận với hiệu quả công tác, phẩm chất chính trị và đạo đức của cán bộ, đảng viên. Những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là lớp trẻ. Đây chính là hồi chuông cảnh tỉnh về sự cần thiết phải tăng cường giáo dục lý luận chính trị không chỉ ở chiều rộng mà cả chiều sâu, bảo đảm tính thường xuyên, liên tục và thực chất. Bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa sâu rộng và chuyển đổi số toàn diện - sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đang đứng trước những vận hội lớn lao đan xen với thách thức gay gắt. Trong bối cảnh đó, vai trò lãnh đạo của ĐCSVN tiếp tục là yếu tố quyết định sự thành bại của công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, để Đảng giữ vững được vai trò cầm quyền, lãnh đạo toàn diện, hiệu lực và hiệu quả, một trong những nhiệm vụ trọng tâm, then chốt, có ý nghĩa sống còn, chính là phải tăng cường và đổi mới mạnh mẽ công tác GDLLCT.
2. Một số giải pháp chủ yếu tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn hiện nay
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, cả hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, giảng viên, đảng viên về công tác giáo dục lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay.
Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, thực hiện tốt giải pháp này sẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các tổ chức, các lực lượng về công tác giáo dục lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay. Bởi vì, hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, có mục đích dựa trên sự nắm bắt và tuân thủ quy luật khách quan.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Nhận thức hướng dẫn hành động, nhận thức đúng thì hành động đúng; ngược lại, nhận thức không đúng sẽ vấp phải những sai lầm, khuyết điểm, sẽ thất bại trong hoạt động thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng được”. Các cấp ủy Đảng, cả hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, giảng viên, đảng viên nhận thức không đúng đắn sẽ dẫn đến tình trạng xem nhẹ, buông lỏng và tất yếu sẽ không đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị trong giai đoạn cách mạng mới. Để thực hiện được giải pháp trên cần phải: Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác giáo dục lý luận chính trị qua thực tiễn và nêu gương. Trong đó chú trọng nâng cao nhận thức về mục tiêu, quan điểm của Đảng về công tác giáo dục lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay. Tổ chức học tập, nghiên cứu nghiêm túc các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Trung ương về công tác lý luận chính trị (như Kết luận 94-KL/TW, Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội XIII, Chỉ thị 23-CT/ TW…). Thứ hai, xây dựng chuyên mục GDLLCT trên các phương tiện truyền thông của Đảng, cơ quan báo chí, đài phát thanh - truyền hình, nền tảng mạng xã hội. Thứ ba, phát động các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng về vai trò GDLLCT trong xây dựng Đảng, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Thứ tư, nâng cao nhận thức qua thực tiễn và nêu gương; tổ chức cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ trẻ, tham gia các lớp học lý luận gắn với thực tiễn như đi cơ sở, tìm hiểu lịch sử cách mạng địa phương, mô hình phát triển kinh tế - xã hội. Khuyến khích cấp ủy viên, lãnh đạo đơn vị, trưởng phòng ban trực tiếp tham gia giảng dạy hoặc báo cáo chuyên đề lý luận. Nêu gương bằng hành động cụ thể: tự học LLCT, phát biểu chính luận, viết bài tham luận, chia sẻ nhận thức LLCT tại các cuộc họp chi bộ.
Hai là, kết hợp giáo dục lý luận chính trị với tự phê bình và phê bình trong Đảng, đấu tranh phê phán quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Thứ nhất, đưa nội dung tự phê bình và phê bình thành một phần bắt buộc trong chương trình học lý luận chính trị các cấp. Bổ sung chuyên đề riêng hoặc lồng ghép nội dung về “tự phê bình và phê bình trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh” vào các lớp giáo dục lý luận chính trị. Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề kết hợp giữa học lý luận và thực hành tự phê bình. Thứ hai, nâng cao vai trò của cấp ủy Đảng trong chỉ đạo thực hiện tự phê bình và phê bình gắn với học lý luận chính trị. Yêu cầu chi bộ tổ chức sinh hoạt định kỳ với mô hình “học nghị quyết + tự phê bình”, trong đó đảng viên liên hệ lý luận với công việc cá nhân. Tăng cường giám sát chất lượng sinh hoạt chi bộ, bảo đảm không hình thức, né tránh, nể nang. Thứ ba, bồi dưỡng kỹ năng lý luận và phản biện cho cán bộ, đảng viên. Tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng tự phê bình và phê bình dựa trên nguyên tắc của Đảng, tinh thần xây dựng, có lập luận vững chắc. Phát triển “văn hóa phê bình trong Đảng”, nhấn mạnh sự chân thành, công tâm, lý lẽ và tính xây dựng, tránh chỉ trích cá nhân hoặc hời hợt.
Ba là, phát huy tính tự giác, tự giáo dục trong học tập lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên. Thứ nhất, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo, tọa đàm về vai trò của lý luận chính trị đối với sự phát triển tư duy, phẩm chất, năng lực lãnh đạo. Phát động các phong trào thi đua học tập lý luận chính trị trong toàn Đảng như: “Đảng viên tự học, tự rèn”, “Học lý luận để hành động đúng”. Gắn yêu cầu học tập lý luận với việc xây dựng bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng, chống suy thoái tư tưởng và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Thứ hai, gắn trách nhiệm tự học lý luận chính trị với đánh giá, phân loại cán bộ, đảng viên hằng năm. Bổ sung tiêu chí về kết quả tự học LLCT, khả năng vận dụng vào thực tiễn vào đánh giá cuối năm, tiêu chuẩn quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ. Đưa nội dung tự học lý luận chính trị vào bản cam kết tu dưỡng, rèn luyện hằng năm của cán bộ, đảng viên. Có hình thức kiểm tra, đánh giá định kỳ như viết thu hoạch cá nhân, làm bài kiểm tra kiến thức chính trị, trình bày chuyên đề trước chi bộ. Thứ ba, kết hợp việc tự học LLCT với thực tiễn cách mạng và rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Khuyến khích cán bộ, đảng viên viết bài thu hoạch gắn học lý luận với giải pháp cho những vấn đề cụ thể của ngành, địa phương và nhiệm vụ cụ thể của bản thân. Tổ chức học lý luận gắn với hoạt động về nguồn, tham quan địa chỉ đỏ, trải nghiệm tại các mô hình phát triển kinh tế - xã hội tiêu biểu. Gắn học lý luận với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thiết thực. Thứ tư, xây dựng môi trường lành mạnh tạo động lực khuyến khích tự học lý luận chính trị. Cấp ủy các cấp, người đứng đầu nêu gương trong tự học, chia sẻ tài liệu, kinh nghiệm học tập cho cán bộ, đảng viên. Khen thưởng, biểu dương các cá nhân tiêu biểu trong tự học LLCT qua các phong trào, hội thi, diễn đàn chính luận. Khuyến khích học tập chủ động - suốt đời qua cơ chế, chính sách và môi trường. Tạo không gian học tập LLCT tại cơ sở: thư viện sách LLCT, kệ sách chi bộ, nhóm học LLCT trực tuyến, câu lạc bộ lý luận trẻ…
Bốn là, đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và quản lý công tác giáo dục lý luận chính trị của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Thứ nhất, đổi mới nội dung, chương trình giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Cập nhật kịp thời những nội dung mới từ Cương lĩnh, Nghị quyết, Văn kiện của Đảng. Thiết kế nội dung, chương trình linh hoạt, theo hướng phân hóa đối tượng. Tăng cường hàm lượng thực tiễn trong nội dung, chương trình giáo dục lý luận chính trị. Định kỳ sơ kết, tổng kết, rà soát, cập nhật nội dung, chương trình, các tài liệu GDLLCT bảo đảm sát với tình hình mới.
Thứ hai, đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng lấy người học làm trung tâm. Tăng cường phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm chủ thể. Đa dạng hóa hình thức học tập LLCT, tránh khô khan, hình thức. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để tạo môi trường học hiện đại, thân thiện. Cá nhân hóa việc học - tôn trọng nhu cầu, trình độ và hứng thú của đối tượng GDLLCT, tăng cường đánh giá quá trình thay vì chỉ kiểm tra cuối khóa.
Thứ ba, tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên theo hướng đa dạng, phong phú, hiện đại, chuyên nghiệp và ứng dụng chuyển đổi số. Tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các cơ sở giáo dục lý luận chính trị. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục lý luận chính trị. Đổi mới hệ thống tài liệu, học liệu LLCT theo hướng phong phú, cập nhật, dễ tiếp cận. Đẩy mạnh việc hợp tác và huy động mọi nguồn lực xã hội cho chuyển đổi số trong giáo dục LLCT.
Năm là, xây dựng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên làm công tác giáo dục lý luận chính trị vững vàng về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, giỏi về năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, tăng cường công tác tuyển chọn và quy hoạch đội ngũ giảng viên, báo cáo viên làm công tác giáo dục lý luận chính trị. Tuyển chọn giảng viên, báo cáo viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức tốt, am hiểu lý luận chính trị và có kinh nghiệm thực tiễn. Quy hoạch đội ngũ theo hướng kế thừa và phát triển, ưu tiên cán bộ trẻ có triển vọng, được đào tạo bài bản trong và ngoài nước.
Thứ hai, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên, báo cáo viên. Xây dựng và triển khai quy chế rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, phong cách mẫu mực trong giảng dạy cho đội ngũ giảng viên, báo cáo viên. Mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Bồi dưỡng kỹ năng sư phạm hiện đại, phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung tâm.
Thứ ba, xây dựng cơ chế đánh giá, phân loại, sử dụng và đãi ngộ phù hợp để thu hút, khuyến khích đội ngũ giảng viên, báo cáo viên cống hiến. Thiết lập hệ thống đánh giá năng lực, phẩm chất giảng viên một cách khách quan, khoa học, gắn với chất lượng giảng dạy và phản hồi của người học. Có cơ chế, chính sách động viên, khen thưởng kịp thời đối với giảng viên, báo cáo viên tiêu biểu. Cải thiện chế độ tiền lương, phụ cấp và các chế độ ưu đãi khác đối với giảng viên giáo dục lý luận chính trị.
Thứ tư, chú trọng phát triển đội ngũ cộng tác viên và báo cáo viên tại chỗ ở cơ sở. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên cấp cơ sở (xã) làm công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tại địa phương. Tăng cường kết nối một cách hệ thống giảng viên, báo cáo viên giữa các cấp để nâng cao chất lượng thông tin và năng lực truyền đạt. Từ những yêu cầu khách quan của thời đại và nhiệm vụ cấp bách của sự nghiệp cách mạng, xuất phát từ tính chất phức tạp, nguy hiểm và lâu dài của cuộc đấu tranh tư tưởng, càng đòi hỏi ĐCSVN phải tăng cường công tác GDLLCT như một “lá chắn tư tưởng”, một “vũ khí mềm” nhưng mang tính quyết định. Do đó, có thể khẳng định: tăng cường công tác GDLLCT không chỉ là yêu cầu cấp thiết, mà còn là sự chuẩn bị căn cơ, chiến lược để ĐCSVN vững vàng dẫn dắt dân tộc trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hùng cường, thịnh vượng và phát triển bền vững, giữ vững độc lập, chủ quyền, hội nhập thành công và nâng cao vị thế dân tộc ta trên trường quốc tế. Tình hình đó đặt ra yêu cầu cấp thiết và mang tính chiến lược lâu dài là: phải tăng cường công tác GDLLCT như một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên và xuyên suốt trong toàn Đảng, toàn dân, không chỉ để phòng ngừa suy thoái từ bên trong mà còn để phản công hiệu quả những luận điệu sai trái từ bên ngoài. Lý luận chính trị không chỉ là nền tảng tư tưởng, mà còn là “vũ khí phản công sắc bén” trong cuộc chiến không tiếng súng nhưng đầy khốc liệt giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa tư tưởng cách mạng và những trào lưu hoài nghi, phủ định.
Chú thích:
* Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
1 Hồ Chí Minh toàn tập (tập 5), NXB. Chính trị quốc gia, 2011, tr. 234.
2 Hồ Chí Minh toàn tập (tập 5), NXB. Chính trị quốc gia, 2011, tr. 233.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II,NXB. Chính trị quốc gia, tr. 168.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, NXB. Chính trị quốc gia, tr. 172.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, NXB. Chính trị quốc gia, tr. 168.
6 Ban Chấp hành Trung ương (2014), Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030.
7 Hồ Chí Minh toàn tập (tập 4), NXB. Chính trị quốc gia, 2011, tr. 234, tr. 50.