ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI) TRONG DẠY HỌC THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Ở BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (SAU QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG 01 BỘ SÁCH GIÁO KHOA)

Bài viết đề xuất đổi mới phương pháp dạy học thơ trung đại Việt Nam ở bậc THPT thông qua việc kết hợp hoạt động trải nghiệm, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI). Các giải pháp này giúp kích thích hứng thú, phát triển năng lực tự học và phẩm chất toàn diện cho học sinh, đáp ứng mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

   1. Về chương trình giảng dạy thơ trung đại Việt Nam ở bậc Trung học phổ thông và sự cần thiết phải đổi mới phương pháp giảng dạy

   Dạy học phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học là mục tiêu cốt lõi của Chương trình giáo dục phổ thông 2018; trong đó coi trọng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; đào tạo được những con người vừa có kiến thức, vừa biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống, nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của toàn cầu hóa, của kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo (AI).

   Trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông, văn học trung đại Việt Nam chiếm khối lượng lớn, là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình vận động, phát triển của nền thơ ca dân tộc, là đỉnh cao của văn học Việt Nam thuộc phạm trù ý thức hệ phong kiến. Có nhiều tác giả, tác phẩm văn học thuộc gia đoạn này được giảng dạy ở bậc phổ thông, đó là những bài thơ tiêu biểu cho tư tưởng (triết luận), ngôn ngữ và phong cách thể loại của thời phong kiến. Để chuẩn bị tốt cho công tác giảng dạy và học tập theo Quyết định mới của ngành Giáo dục, chúng tôi đề xuất một số phương pháp như dạy học gắn liền với hoạt động trải nghiệm sáng tạo, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI)… nhằm để nâng cao chất lượng giảng dạy thơ trung đại Việt Nam ở trường trung học phổ thông (THPT). Những định hướng, gợi mở với mục đích hướng đến việc phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học như mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 đã đặt ra.

   Thực hiện bài viết này, ngoài việc kế thừa các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp tiếp cận văn bản học, phương pháp lịch sử - văn hóa, phương pháp liên ngành, phương pháp phân tích ngôn ngữ thơ..., chúng tôi sử dụng một số phương pháp mới như đề xuất dạy thực nghiệm, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo vào giảng dạy thơ trung đại Việt Nam. Mục đích của các phương pháp mới là tư vấn, hỗ trợ giáo viên thiết kế được những bài giảng đỡ khô khan và bớt trừu tượng; làm cho tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn và hiệu quả hơn. Theo đó, trong quá trình giảng dạy, bên cạnh phương pháp dạy học truyền thống như khảo cứu văn bản, thuyết trình, thảo luận… còn có các video clip, băng ghi âm thanh, tranh ảnh, các bài giảng đa phương tiện, công nghệ số để làm cho bài giảng trở nên sinh động, thực tế, hấp dẫn và dễ hiểu hơn. Ứng dụng công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo giúp giáo viên thuận lợi hơn trong quá trình định hướng, dẫn dắt học sinh tìm hiểu về các đặc điểm, giá trị cốt lõi của thơ trung đại Việt Nam. Sử dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo, giáo viên có thể tạo các cuộc thảo luận, các hoạt động tương tác phong phú giúp học sinh trao đổi, đặt câu hỏi và chia sẻ quan điểm của cá nhân về các tác phẩm; qua đó đưa ra những phản hồi cá nhân hóa, giúp học sinh nhận biết giá trị nội dung và hình thức của bài thơ. Cách thức tổ chức tiết học như trên sẽ làm tăng hứng thú và mức độ tham gia của người học. Qua quá trình tham gia, tương tác, học sinh có thể tạo ra các phiên bản khác nhau của cùng một bài thơ bằng sự sáng tạo độc đáo của mỗi cá nhân, từ đó hình thành được phiên bản tốt nhất của mỗi học sinh. Những định hướng này sẽ góp phần và việc thực hiện thắng lợi mục tiêu “phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học” mà của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 hướng đến.

   Ở bậc Trung học phổ thông (THPT), có 9 bài thơ trung đại Việt Nam (của các tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ và Đặng Dung) được đưa vào chương trình giảng dạy. Về thời gian, thơ trung đại Việt Nam được sáng tác trong khoảng thời gian từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống thi pháp thơ trung đại, đặc biệt là thể loại thơ Đường luật (một thể thơ tiêu biểu của Trung Quốc). Về nội dung và hình thức, thơ trung đại Việt Nam mang những đặc trưng chung của thi pháp văn học trung đại. Nội dung chủ yếu là ca ngợi tư tưởng trung quân, ái quốc; ca ngợi những chiến công oanh liệt trong công cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược; ca ngợi triều đình phong kiến, phong cảnh quê hương, đất nước; phản ánh tâm sự của nhà thơ về thời cuộc, về vận nước, về những điều trông thấy, về những thân phận bé mọn, bất hạnh… Hầu hết thơ trung đại Việt Nam đều rất coi trọng chức năng giáo huấn theo quan niệm “văn dĩ tải đạo” và “thi dĩ ngôn chí”. Đặc trưng thi pháp của thơ trung đại Việt Nam là tính khuôn mẫu, công thức (tính quy phạm); tính ước lệ, tượng trưng và đặc biệt rất sính dùng điển tích và điển cố... Thơ trung đại Việt Nam (đặc biệt là thơ Đường luật) quy định rất chặt chẽ về số câu, số tiếng (số chữ) trong mỗi câu thơ, bài thơ; về niêm, luật, đối và cách gieo vần. Vì vậy, trong quá trình dạy học và nghiên cứu cần bám sát đặc trưng thể loại để khai thác tốt các tín hiệu nghệ thuật, các “mã hóa” đã được các tác giả đưa vào trong thơ. Trên cơ sở đó dẫn dắt học sinh đi tìm cái hay, cái đẹp trong nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Về văn tự và thể loại, thơ trung đại Việt Nam trong chương trình THPT được sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về thể loại, có 3 bài được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú (Bạch Đằng hải khẩu, Độc Tiểu Thanh ký, Cảm hoài); 02 bài theo thể ngũ ngôn bát cú (Dục Thúy Sơn, Mộng đắc thái liên); 02 bài theo thể thất ngôn xen lục ngôn - phá cách (Bảo kính cảnh giới - số 43, Ngôn chí - bài 3); 01 bài theo thể hành - cổ phong (Dương phụ hành); 01 theo thể hát nói (Bài ca ngất ngưởng). Trong sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống), các tác phẩm thơ trung đại Việt Nam được sắp xếp chủ yếu ở phần “Đọc hiểu”, có thời lượng giảng dạy từ 1 đến 2 tiết/bài. Thời gian ít nhưng lượng kiến thức lại nhiều nên đã tạo ra không ít áp lực đối với giáo viên. Sự bó hẹp về thời gian cộng với nhiều kiến thức trừu tượng đã khiến cho người dạy đôi lúc rơi vào tình trạng độc thoại, thuyết giảng, từ đó dẫn tới hạn chế trong việc kích thích tư duy, sự sáng tạo của người học. Bên cạnh đó, đặc trưng về thi pháp, văn tự, ngôn ngữ, tư tưởng... là những khó khăn, trở ngại rất lớn đối với học sinh trong quá trình tiếp nhận văn bản thơ trung đại Việt Nam. Việc dạy và cảm thụ thơ ca trung đại chưa bao giờ là dễ dàng, đặc biệt đối với giới trẻ. Đó là những thách thức không nhỏ khiến giáo viên phải tìm ra các giải pháp để trong một khoảng thời gian ngắn giúp học sinh có thể thẩm thấu kiến thức một cách hào hứng và hiệu quả.

   2. Đổi mới phương pháp, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy học thơ trung đại Việt Nam

   Đổi mới phương pháp dạy học thơ trung đại Việt Nam cần chuyển từ truyền thụ một chiều sang tổ chức các hoạt động tương tác, trải nghiệm, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo nhằm giúp học sinh chủ động tìm tòi, khám phá trong quá trình lĩnh hội tri thức và cảm thụ tác phẩm. Dưới đây chúng tôi đề xuất một số phương pháp và cách thức ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong quá trình dạy và học thơ trung đại Việt Nam.

   2.1. Đổi mới phương pháp dạy học

   2.1.1. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, các trò chơi

   Tổ chức hoạt động trải nghiệm, các trò chơi là một trong những phương thức đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông. Thông qua hoạt động trải nghiệm thực tiễn, các trò chơi, người học được tích cực hoá trong quá trình tiếp nhận tri thức, phát triển và hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo. Mục tiêu của môn Ngữ văn là phát triển năng lực giao tiếp của người học ở tất cả các kỹ năng: đọc, viết, nói, nghe và năng lực giao tiếp đa phương thức thông qua nội dung của bài học. Từ những tác phẩm văn học sẽ hình thành ở người học những phẩm chất tốt đẹp như yêu quê hương, đất nước; chăm chỉ, trung thực và sống có trách nhiệm với gia đình và cộng đồng. Qua các hoạt động trải nghiệm, người học có cơ hội khám phá bản thân, thấu hiểu con người, biết đồng cảm, sẻ chia và ứng xử có văn hóa.

   Tổ chức trò chơi là một trong những cách thức khơi dậy hứng thú của học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản văn học trung đại. Cách thức tiến hành có thể thực hiện là vào đầu mỗi giờ học, giáo viên tổ chức phần Khởi động để tạo tâm lý hứng khởi đối với học sinh, cũng có thể tổ chức trong quá trình giảng dạy hoặc ở phần luyện tập. Cách thức này giúp cho học sinh vừa có cơ hội tìm hiểu, ôn tập kiến thức một cách nhẹ nhàng, thoải mái vừa được rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo trong tư duy. Biện pháp này nhằm tạo động lực, kích thích sự sáng tạo ở mỗi cá nhân hoặc nhóm học sinh. Dạy học dưới dạng trò chơi, áp lực học tập được giảm nhẹ, học sinh sẽ tham gia một cách hào hứng, chủ động và tích cực; nhờ vậy mà kiến thức được hình thành, lưu giữ sâu và lâu bền hơn đối với mỗi học sinh. Các trò chơi có thể là Đi tìm mảnh ghép, Giải ô chữ bí mật, Nhìn hình đoán chữ, Rung chuông vàng... Và để đạt hiệu quả tốt nhất trước khi đi vào bài học, giáo viên có thể kết hợp với phương pháp phát vấn sự hiểu biết của học sinh về giai đoạn văn học liên quan đến các nhân vật vừa kể tên ở trên. Như thế, phần khởi động vừa có hoạt động trò chơi tạo hứng thú, vừa có sự kết nối kiến thức về nội dung và nghệ thuật nổi bật của thơ trung đại giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, từ đó giáo viên dẫn dắt học sinh vào bài học một cách nhẹ nhàng, vui vẻ với nhiều năng lượng tích cực.

   2.1.2. Sân khấu hoá, phát huy năng khiếu, tính sáng tạo của học sinh

   Dạy học theo định hướng phát triển năng lực được thiết kế theo hướng phân hóa dựa trên hứng thú, nhu cầu và nền tảng kiến thức, sở thích cũng như sở trường, sở đoản của học sinh. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội thể hiện năng khiếu, sở trường, được thử sức trong việc biến đổi bài học qua nhiều dạng thức, loại hình khác nhau như: Sân khấu hoá; ngâm thơ; tập sáng tác thơ Đường luật; cảm nhận thơ bằng tranh; bằng phổ nhạc hoặc cho học sinh tranh biện về một vấn đề được gợi mở từ nội dung của tác phẩm… Thông thường thì việc sân khấu hoá tác phẩm văn học vẫn luôn có sức hấp dẫn với học sinh bởi phương pháp này đã khơi gợi được cho học sinh mong muốn tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm... Đây là một hình thức mới trong thực hiện định hướng dạy học phát triển năng lực của học sinh, là cách tạo điều kiện để học sinh phát huy vai trò tự chủ trong việc học. Học sinh sẽ không bị giới hạn, bó buộc bởi những nội dung trong bài giảng của giáo viên. Với các bài thơ Bảo kính cảnh giới, Dương phụ hành, Độc Tiểu Thanh học sinh có thể chuyển hoá thành hoạt cảnh, nhập vai nhân vật để giãi bày, bộc lộ cảm xúc. Với bài Cảm hoài, giáo viên định hướng cho học sinh có thể lựa chọn một điểm nào đó trong bài học để chuyển thể thành loại hình khác (vẽ tranh, tạo hình…), chẳng hạn như tái hiện lại hình ảnh “hằng đêm mang thanh gươm báu ra mài dưới ánh trăng” để hiểu thêm về nỗi niềm uất nghẹn, ý chí làm trai và khát vọng muốn được xả thân vì dân, vì nước của tác giả Đặng Dung. Ngoài ra, giáo viên có thể cho học sinh tiếp nhận tác phẩm qua phương thức ngâm thơ, vẽ tranh, phổ nhạc… Đây cũng là cách cảm thụ tác phẩm thơ trung đại rất tốt. Các hình thức này vừa phát huy được năng khiếu của học sinh, vừa đem đến một sự mới lạ trong việc tiếp nhận và cảm thụ thi ca của người học. Các hình thức này nếu được thực hiện công phu, bài bản, nghiêm túc sẽ mang lại những kết quả thú vị cho các tiết học thơ trung đại Việt Nam cũng như các tác phẩm văn học khác.

   Thơ trung đại Việt Nam (nhất là thơ Đường luật) có những yêu cầu hết sức chặt chẽ và nghiêm ngặt về niêm, luật, vần, đối... Vì vậy sáng tác thơ Đường luật là một việc không dễ (nếu không muốn nói là rất khó và rất cầu kỳ). Tuy nhiên, nếu được giáo viên cung cấp đầy đủ những yêu cầu về mặt cấu trúc của thơ Đường luật thì học sinh cũng có thể làm được, cho dù có thể đó mới chỉ là những sáng tác còn khá vụng về và thô ráp. Cùng với những thao tác trên, trong quá trình giảng dạy thơ trung đại, giáo viên có thể tổ chức các hoạt động tranh biện về một vấn đề nào đó trong tác phẩm văn học. Giáo viên chọn một vấn đề trọng tâm, nổi bật nhất để khai thác được nhiều ý kiến khác nhau từ phía học sinh; chẳng hạn như suy nghĩ, đánh giá của các em về chữ “thẹn” trong bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão; quan niệm sống về chữ “đế” của Lý Thường Kiệt trong bài Nam quốc sơn hà; tinh thần “vị nghĩa, vị dân” trong thơ của Nguyễn Trãi; nỗi niềm thương cảm, xót xa với cuộc đời và thân phận người phụ nữ trong Độc Tiểu Thanh ký, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du... Có thể nói, những phương thức dạy học như trên sẽ giúp cho người học dễ dàng kết nối, xâu chuỗi kiến thức một cách có hệ thống, logic và vững chắc hơn. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả tốt nhất, khi thực hiện biện pháp này, giáo viên cần lưu ý một số điểm như không được thay thế văn bản; khi liên hệ, so sánh phải đảm bảo mục tiêu bài học; ưu tiên hướng tới mục đích làm nổi bật vấn đề đang được nói tới trong bài học; sử dụng lời gợi dẫn thích hợp để kích thích học sinh tư duy, mở ra trường liên tưởng sâu rộng trong quá trình tiếp nhận tri thức của học sinh.

   2.1.3. Khích lệ sự tìm tòi, mở rộng vốn từ, nâng cao khả năng sử dụng từ Hán - Việt

   Phương pháp này nhằm rèn luyện tinh thần tự chủ, tính năng động của học sinh trong hành trình chinh phục tri thức thông qua việc tự học, tự tìm tòi, khám phá; là thao tác giúp học sinh hình thành thói quen học tập suốt đời. Quá trình hướng dẫn cho học sinh tự học, tự khám phá để chiếm lĩnh tri thức, là cơ sở hình thành và phát triển năng lực tự chủ cho học sinh. Thông qua việc đọc hiểu tác phẩm thơ trung đại Việt Nam, học sinh sẽ có được vốn từ Hán - Việt nhất định và với vốn từ này học sinh có thể tiếp cận để hiểu được nhiều bài thơ chữ Hán khác. Vấn đề này cũng đã được Trần Đình Sử nói đến trong bài viết “Đọc - hiểu văn bản - một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy học hiện nay”; “Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực tự đọc, kỹ năng để học sinh có thể hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại”.

   Để học sinh khai thác tốt các từ Hán - Việt phục vụ cho việc đọc hiểu văn bản thơ trung đại thì giáo viên là người định hướng, dẫn dắt cho học sinh nhận thức đúng đắn ngữ nghĩa của các từ này. Điều đầu tiên, giáo viên cho học sinh nhận diện từ Hán - Việt trong văn bản theo cách: Đối chiếu nghĩa từ Hán - Việt với từ thuần Việt, nghĩa là tìm những từ thuần Việt có nghĩa tương đồng với từ Hán - Việt; hoặc căn cứ vào khả năng sản sinh của các yếu tố Hán - Việt, giáo viên cho học sinh tìm các từ bằng cách dùng phép cấu tạo từ song tiết, theo cách ghép nó với một yếu tố Hán - Việt khác. Đây là cách dạy học sinh nâng cao khả năng sưu tầm, tìm hiểu các từ Hán - Việt trong văn bản. Từ đó, học sinh có được vốn từ Hán - Việt nhất định, tạo được thói quen tư duy mỗi khi tiếp cận với các văn bản chữ Hán. Việc giải nghĩa của từ Hán - Việt giúp học sinh hiểu từ và thông nghĩa, hiểu câu thơ trước rồi sau đó mới cảm thụ tác phẩm. Nếu không hiểu nghĩa của từ thì không thể nào hiểu được các câu thơ cũng như toàn bộ bài thơ. Để thực hiện việc này, học sinh có thể tự tra từ điển Hán - Việt hoặc giáo viên có thể hướng dẫn lối chiết tự (tách từ). Ví dụ giáo viên hướng dẫn và yêu cầu học sinh tìm nghĩa của từ “đồ điếu” trong câu thơ “Thời lai đồ điếu thành công dị” trong bài Cảm hoài của Đặng Dung nghĩa là gì, sau đó cho học sinh so sánh, nêu nhận xét với câu “Sự khứ anh hùng ẩm hận đa”. Từ đó học sinh hiểu được rằng, nếu sinh ra gặp thời thế thì những kẻ bình dân làm nghề đi câu, mổ lợn cũng có thể có được những “kỳ công vĩ tích”; còn không gặp thời thế thì những kẻ anh hùng cũng chỉ biết ôm một mối hận ngàn thu mà thôi. Qua đó giúp cho học sinh - độc giả hiểu được tấm lòng, nỗi trăn trở của Đặng Dung với “gánh nợ non sông”. Đặng Dung những muốn vùng vẫy khắp non sông để báo đền ơn vua, nợ nước nhưng kẻ sĩ sinh ra không gặp thời nên đành ôm mối hận nghìn thu; hằng đêm chỉ biết mang thanh bảo kiếm ra mài dưới ánh trăng để phần nào vơi đi nỗi uất hận của đấng anh hùng trước vận mệnh của giang sơn, đất nước. Ngoài ra, học sinh còn phải dựa vào văn cảnh, ngữ cảnh để giải nghĩa của từ vì trong thơ trung đại có rất nhiều điển tích, điển cố; có những từ nghĩa gốc đã mờ nhạt hoặc đã biến đổi. Ví dụ cho học sinh tìm nghĩa của “kiếp má hồng” trong câu “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” và “kiếp hồng nhan” trong “Kiếp hồng nhan tự ngàn xưa; Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có nghĩa là gì? Và đặt câu hỏi cho học sinh tìm mối liên hệ với “trơ cái hồng nhan” trong bài Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương xem nó có chung một trường nghĩa không? Từ đó học sinh có thể hiểu “hồng nhan, má hồng” thường được dùng để chỉ những cuộc đời lắm đa đoan và nhiều lận đận; chồng chất những khổ đau của người phụ nữ trong xã hội phong kiến thuở xưa. Giáo viên cũng có thể sử dụng một cách đơn giản hơn là căn cứ vào phần chú thích dưới chân trang của sách giáo khoa, yêu cầu học sinh đọc kỹ phần chú giải đối với từ cần tìm để giải nghĩa. Cách làm này giúp học sinh có thể hiểu được các từ Hán - Việt cũng như các điển tích, điển cố được sử dụng trong bài thơ. Những thao tác nêu trên, giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện ở nhà; ở trên lớp giáo viên không phân tích tất cả các từ mà có sự lựa chọn những từ ngữ tiêu biểu, nổi bật theo phương châm “học ít, hiểu kỹ”, “học ít, biết nhiều”; tức là học sinh chỉ cần nắm được một lượng từ Hán - Việt nhất định. Từ đây học sinh có được những kiến thức cơ sở để phân tích tác phẩm đang học và xa hơn là tự mình có thể đọc hiểu được các tác phẩm thơ chữ Hán khác. Giáo viên là người hướng dẫn bước đầu cho học sinh để các em nhận diện được các từ Hán - Việt trong thơ trung đại Việt Nam, tiếp đến là hướng dẫn học sinh sử dụng từ Hán - Việt đúng ngữ nghĩa, đúng văn cảnh; thấy được cái hay, vẻ đẹp và sự trong sáng của tiếng Việt. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần lồng ghép, tích hợp kiến thức, kỹ năng để học sinh tiếp nhận, tích lũy được nhiều vốn từ Hán - Việt; đồng thời khơi dậy ở người học ý thức gìn giữ và phát huy sự phong phú, tinh tế của ngôn ngữ dân tộc.

   2.2. Ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI)

   Trong bối cảnh hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI) vào quá trình dạy học nói chung và giảng dạy ngữ văn nói riêng như là một tất yếu, nhất là trong việc hỗ trợ học sinh nâng cao khả năng tự học và sáng tạo. AI có khả năng phân tích dữ liệu học tập, tạo nội dung tự động, chấm điểm, phản hồi và đưa ra gợi ý học tập phù hợp với từng cá nhân. Lợi ích của AI trong giáo dục là tiết kiệm thời gian và chi phí, tăng cường sự công bằng, nâng cao hiệu quả học tập, giúp học sinh học đúng nội dung, đúng thời điểm. Có thể nói, AI đang làm thay đổi sâu sắc cách con người học tập và tiếp cận tri thức.

   Thơ trung đại Việt Nam có tính chất ước lệ, tượng trưng, thiên về cảm xúc, định tính. Những đặc điểm trên đã tạo ra những thách thức không nhỏ trong quá trình tiếp nhận và cảm thụ của người đọc, nhất là đối với những người trẻ tuổi. Việc ứng dụng AI có thể hỗ trợ học sinh nâng cao khả năng tự học thơ trung đại Việt Nam hiệu quả hơn, sáng tạo hơn. AI không chỉ hỗ trợ giáo viên nâng cao hiệu quả giảng dạy mà còn mở ra những cơ hội học tập mang tính cá nhân hóa, giúp học sinh phát triển kỹ năng tự học một cách linh hoạt, chủ động. Nếu có sự hỗ trợ của AI, học sinh có thể tìm kiếm tài liệu dễ dàng với độ chính xác và tin cậy cao, ngay lập tức loại bỏ được những thông tin sai lệch và có thể sửa sai một cách nhanh chóng, kịp thời. AI có thể tạo động lực, khích lệ quá trình học tập của học sinh, giúp học sinh nhận ra phẩm chất và năng lực của bản thân, để mỗi học sinh có “con đường riêng” phát triển tối đa năng lực, phẩm chất cá nhân để trở thành “phiên bản tốt nhất” của chính mình. Dưới đây là một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy thơ trung đại Việt Nam.

   2.2. Ứng dụng công nghệ và AI để tăng cường khả năng giao tiếp, tương tác của học sinh, hỗ trợ tối ưu các phương pháp giảng dạy

   Sử dụng AI, học sinh có thể thực hành hội thoại với chatbot theo nhiều chủ đề, giúp cải thiện kỹ năng nói và phản xạ ngôn ngữ. AI có thể chấm điểm, sửa lỗi sai và đề xuất cách diễn đạt tự nhiên hơn, thường xuyên tham gia thảo luận về nội dung, hình thức thể loại và ngôn ngữ và các thông điệp của tác phẩm. Luyện tập kỹ năng nói và nghe với AI sẽ giúp học sinh nâng cao sự tự tin, khi trình bày một ý tưởng nào đó sẽ bình tĩnh, lưu loát và chững chạc hơn. AI hỗ trợ học sinh lắng nghe, cảm nhận và ghi chú những từ ngữ hay, những câu văn đặc sắc, cách sử dụng các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, điệp ngữ...) độc đáo, điêu luyện của thơ trung đại Việt Nam. Về phía giáo viên, việc sử dụng AI có thể theo dõi những lỗi phổ biến mà học sinh thường mắc phải để điều chỉnh bài giảng cho phù hợp. AI giúp giáo viên tiết kiệm thời gian trong việc chấm bài, ra bài tập và thiết kế bài giảng phù hợp với từng cá nhân học sinh. Chatbot giúp giáo viên theo dõi được sự tiến bộ của học sinh, từ đó đưa ra những lời khích lệ và thiết lập các thử thách thú vị tiếp theo cho học sinh. Từ AI, giáo viên có thể tạo ra bảng xếp hạng, phần thưởng ảo và các hoạt động tương tác giúp học sinh duy trì hứng thú trong giờ học, tạo được không khí vui tươi, thoải mái trong quá trình tiếp nhận tri thức và cảm thụ tác phẩm. Sử dụng AI sẽ tạo ra hệ sinh thái học tập linh hoạt, học sinh có thể học mọi lúc, mọi nơi mà không bị giới hạn bởi thời gian hay không gian lớp học. Ứng dụng Chatbot và trợ lý ảo AI vào học thơ trung đại Việt Nam không chỉ giúp học sinh tự học hiệu quả hơn mà còn tạo ra một môi trường học tập năng động, hiện đại và cá nhân hóa. Đây là giải pháp đột phá giúp tối ưu hóa quá trình dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục trong thời đại công nghệ số.

   2.2.1. Tính tất yếu của việc ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI)

   Trong bối cảnh hiện nay, đòi hỏi giáo viên phải có kỹ năng cơ bản để sử dụng những thiết bị công nghệ mới, thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn xã hội thời đại 4.0.

   Việc ứng dụng công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo vào công tác giảng dạy là một yêu cầu tất yếu, thực sự cần thiết đối với ngành giáo dục. Giáo viên Ngữ văn và dạy học môn Ngữ văn cũng không nằm ngoài xu thế đó. Việc tích hợp Chatbot và trợ lý ảo AI vào quá trình học Ngữ văn giúp học sinh tiếp cận kiến thức nhanh chóng, nâng cao khả năng tự học một cách hiệu quả và chủ động hơn. Học sinh có thể đặt câu hỏi về ngữ pháp, từ vựng, kỹ năng đọc - hiểu văn bản và bài tập mà không cần chờ giáo viên. Chatbot có thể phân tích câu hỏi và đưa ra lời giải thích chi tiết, giúp học sinh hiểu bài nhanh hơn. AI có thể nhận diện trình độ của học sinh để đưa ra câu trả lời phù hợp, từ cơ bản đến nâng cao. Học sinh có thể nhận phản hồi cá nhân hóa, giúp cải thiện kỹ năng ngôn ngữ theo lộ trình phù hợp. Đối với giáo viên, việc sử dụng tốt thiết bị công nghệ, trí tuệ nhân tạo sẽ giúp cho việc tổ chức giờ học một cách linh hoạt, thân thiện, vui vẻ và hiệu quả. Với các slides trực quan sinh động, hệ thống các hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng của bài giảng, chắc chắn không khí giờ học sẽ sôi động và hấp dẫn hơn nhiều. Bên cạnh đó, giáo viên có thể sử dụng kết hợp với hình thức khác như tổ chức trò chơi, bài tập trắc nghiệm, câu hỏi trả lời ngắn, sân khấu hóa... trên một số ứng dụng như VietJack, kahoot, quizizz, google (classroom, meet, chat GPT); phiếu học tập, làm bài kiểm tra thường xuyên, tạo bài thuyết trình... trong canvas; giao bài tập về nhà, chấm và chữa bài cho học sinh trên azota… Giáo viên có thể thiết kế phiếu học tập cho một số tác phẩm thơ trung đại bằng ứng dụng canvas. Theo cách này, học sinh có thể tự học ở nhà, tự củng cố kiến thức thơ trung đại Việt Nam một cách dễ dàng, ngắn gọn. Giáo viên có thể tận dụng sự thuận tiện của công nghệ vào việc tạo mẫu khảo sát trên google form để học sinh cho ý kiến về mức độ đọc hiểu sau khi học tập một tác phẩm thơ trung đại Việt Nam. Với cách này, giáo viên thu nhận phản hồi của học sinh nhanh chóng và có sự điều chỉnh kịp thời cho tiết dạy tiếp theo được tốt hơn. Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng internet để tra từ Hán - Việt bằng việc cung cấp địa chỉ các trang web cho học sinh như hvdic.thivien.net, hannom. huecit.vn... Học sinh có thể tải các ứng dụng từ điển Hán - Việt về máy tính hoặc điện thoại để sử dụng thuận tiện như HanViet Dictionary, Từ điển chữ Hán Android... Với cách thức này, học sinh chủ động tra cứu, tìm nghĩa của từ Hán - Việt ở mọi lúc, mọi nơi để phục vụ tốt nhất cho nhiệm vụ học tập. Trong giờ đọc hiểu thơ trung đại, giáo viên dành khoảng 5 - 7 phút cho học sinh tìm kiếm thông tin khó liên quan đến bài học qua internet ví dụ như “Hào khí Đông A nghĩa là gì?”, “Vũ Hầu là ai?”, “Tiểu Thanh là người như thế nào?”... Đối với học sinh, trong thời đại công nghệ 4.0, khoa học kỹ thuật phát triển không ngừng, các công cụ kỹ thuật số xuất hiện nhiều, giới trẻ ngày nay rất nhanh nhạy, năng động trong việc tiếp cận và sử dụng các thiết bị công nghệ. Tuy nhiên việc sử dụng các thiết bị công nghệ, kỹ thuật số như thế nào để phục vụ hữu ích cho mục đích học tập là một vấn đề không nhỏ, chúng tôi sẽ bàn luận, trao đổi ở một chuyên luận khác.

   Để một giờ học thơ trung đại Việt Nam đạt hiệu quả, học sinh cần có sự định hướng của giáo viên trong việc sử dụng công nghệ và các công cụ tìm kiếm. Sự định hướng của giáo viên sẽ giúp học sinh có cách tiếp cận thông minh, thận trọng hơn về các nguồn dữ liệu, tạo lập cho học sinh có kỹ năng xã hội và khả năng giải quyết các vấn đề đặt ra trong bài học. Dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh có thể tự tìm tòi, suy nghĩ về những tác phẩm thơ trung đại Việt Nam tương tự ngoài sách giáo khoa, qua đó rèn luyện thói quen tự học để trở thành người học tập suốt đời. Học sinh phải làm chủ được các thiết bị công nghệ, sử dụng các ứng dụng một cách “khôn ngoan” để phục vụ hữu ích cho nhiệm vụ học tập của mình. Khi học sinh làm chủ được thiết bị công nghệ và các phần mềm ứng dụng, họ có thể tự mình tìm kiếm và tạo lập được các slides về các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam mà giáo viên yêu cầu. Tiếp theo, dựa trên các sản phẩm đã làm, học sinh/nhóm học sinh sẽ thuyết trình trước tập thể lớp và giáo viên. Hình thức này giúp cho học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện và phát triển kỹ năng thực hành, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng giao tiếp... Học sinh tự thực hiện dưới sự hướng dẫn, góp ý của giáo viên sẽ tạo nên sự chủ động, thích thú, say mê của người học. Cách thức này giúp học sinh tiếp nhận kiến thức một cách nhẹ nhàng, thoải mái; đồng thời có thể ghi nhớ nhanh, sâu sắc hơn so với cách truyền thụ một chiều từ giáo viên. Học sinh sẽ là chủ thể tham gia vào các hoạt động để hoàn thành nhiệm vụ học tập mà giáo viên giao bằng cách hoàn thiện phiếu học tập và trả lời các câu hỏi trong đề kiểm tra, làm bài tập về nhà. Trí tuệ nhân tạo và công nghệ hiện đại hỗ trợ cho giáo viên, học sinh rất nhiều trong quá trình tìm kiếm nguồn tài nguyên (học liệu); chuẩn hóa trong quá trình học tập học sinh. Công nghệ hiện đại và AI giúp giáo viên xây dựng được các hoạt động học tập linh hoạt, phong phú; truyền được cảm hứng và năng lượng tích cực đến học sinh. Để quá trình dạy học đạt kết quả tốt, giáo viên phải là người hướng dẫn học sinh cách sử dụng các phần mềm bằng những thao tác, quy trình cụ thể. Khi cho học sinh truy cập internet để phục vụ nhiệm vụ học tập trên lớp, giáo viên cần có quy định chặt chẽ, rõ ràng về thời gian, nội dung, cách thức tìm kiếm và hoàn thiện các yêu cầu của giáo viên. Cần hết sức lưu ý, công nghệ chỉ là công cụ, là phương tiện; nó không thể thay thế hoàn toàn con người, nhất là ở cảm xúc và sáng tạo. Vì vậy, không nên ngộ nhận công nghệ có thể thay thế hoàn toàn giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp, để rồi phó mặc hoàn toàn cho học sinh. Giáo viên cũng không nên quá lạm dụng công nghệ, việc sử dụng công nghệ tùy tiện, thiếu thận trọng rất có thể sẽ làm mất đi tính chất đặc thù của một giờ học Ngữ văn. Để bài giảng thơ trung đại Việt Nam có chất lượng và hiệu quả, đòi hỏi người giáo viên Ngữ văn phải lựa chọn được công cụ hỗ trợ hợp lý, để từ đó giáo viên thiết kế được slides bài giảng (giáo án điện tử), các video clip, các trò chơi, các câu hỏi trắc nghiệm… sinh động, hấp dẫn đối với học sinh. Trong quá trình chuẩn bị Kế hoạch bài dạy (giáo án) và triển khai bài dạy trên lớp, giáo viên phải xác định được xem học sinh cần cải thiện kỹ năng, nội dung nào. Trên cơ sở đó sẽ sử dụng phần mềm công nghệ và AI phù hợp. Ví dụ ở phần viết bài luận, nên dùng chatgpt, grammarly, quillbot; phần đọc hiểu, cảm thụ thì dùng perplexity ai, copilot, google bard; phần kiểm tra kiến thức thì dùng quizizz ai, edpuzzle… Chúng tôi đề xuất một số thao tác cụ thể sau:

   Để chuẩn bị học liệu và thiết kế bài giảng, giáo viên sử dụng chatbot AI (như ChatGPT, Gemini) hoặc công cụ tra cứu chuyên dụng để giải nghĩa từ Hán - Việt; các điển tích, điển cố trong thơ trung đại Việt Nam như Tam giáo đồng nguyên là gì? Tại sao lại gọi hào khí nhà Trần là hào khí Đông A?... Để tạo hình ảnh và video minh họa, nên sử dụng AI về vẽ tranh (như Stable Diffusion, AI Dream) để tái hiện không gian xưa như cảnh chiều tà ở chân Đèo Ngang với những “ngư - tiều - canh - mục” trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, cảnh Thúy Kiều ngồi trước cửa biển ở Lầu Ngưng Bích, cảnh “Long lanh đáy nước in trời. Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du để thấy được bút pháp “tả cảnh ngụ tình” tài hoa, tuyệt đỉnh của các nhà thơ. Khi tạo lập các video nên sử dụng các công cụ AI như Lumen5, Designs hoặc công cụ hỗ trợ trên Canva để biến văn bản thơ thành video hoạt hình hoặc clip minh họa ngắn có âm thanh. Khi thiết kế bài giảng tương tác thì sử dụng phần mềm như Prezi, Pear Deck hoặc Edpuzzle để chèn các câu hỏi tương tác ngay trong bài giảng hoặc video phân tích thơ… Khi tổ chức giảng dạy trên lớp, giáo viên có thể sử dụng AI để lớp được linh hoạt, sinh động thông qua việc tổ chức các trò chơi, lớp học đảo ngược, phân tích và phản biện. Thiết kế các trò chơi trắc nghiệm về tác giả, tác phẩm, thể loại thơ Đường luật bằng các công cụ như Kahoot, Quizizz hoặc tạo trò chơi điều khiển bằng cử chỉ tay thông qua AI; Thiết kế Lớp học đảo ngược bằng cách gửi các video bài giảng do AI hỗ trợ hoặc sơ đồ tư duy cho học sinh nghiên cứu trước, thời gian trên lớp tập trung vào thảo luận chuyên sâu về thi pháp, ngôn ngữ; Giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng AI để phân tích một khổ thơ, sau đó học sinh phải phản biện lại kết quả của AI. AI còn là công cụ hỗ trợ phân tích năng lực của từng học sinh để cung cấp các bài tập bổ trợ phù hợp, học sinh yếu về phần nào sẽ nhận được nhiều câu hỏi về phần đó. Bên cạnh đó, AI còn hỗ trợ rất tốt cho giáo viên trong quá trình chấm các bài trắc nghiệm hoặc gợi ý hướng sửa về các bài luận, phân tích tác phẩm thơ trung đại của học sinh. Để thực hiện tốt nội dung này, cần sử dụng mentimeter, slido, padlet trong quá trình thu thập ý kiến, thảo luận nhóm. Sử dụng tốt công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo, giúp người giáo viên Ngữ văn chuyển hóa những tác phẩm thơ trung đại Việt Nam vốn rất nghiêm ngặt, chặt chẽ, khó hiểu thành những trải nghiệm trực quan sinh động với những hình ảnh, slides, video clip mềm mại, hấp dẫn… Sự đột phá lớn nhất của công nghệ mới và AI là khả năng cá nhân hóa việc học của học sinh, điều mà giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong một lớp học “truyền thống” với sĩ số đông. AI giúp cho giáo viên dễ dàng thu thập dữ liệu từ các bài kiểm tra, bài trả lời trắc nghiệm, hoạt động trải nghiệm, từ đó giáo viên nhận diện được điểm mạnh, điểm yếu của từng học sinh, để từ đó có thể đưa ra cách giảng dạy phù hợp, góp phần cá nhân hóa bản sắc cá nhân của từng học sinh.

   Mặc dù công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo mang lại rất nhiều tiện ích cho cuộc sống nhưng AI không thể thay thế được cảm xúc, tình cảm yêu - ghét, ứng xử tinh tế… của con người. Nên việc ứng dụng công nghệ mới và AI cần được thực hiện một cách thận trọng và có nguyên tắc. AI cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quá trình cảm thụ và tiếp nhận thơ trung đại Việt Nam. Lạm dụng trí tuệ nhân tạo có thể dẫn đến tình trạng học sinh sao chép hoàn toàn bài viết của người khác, làm mất đi cá tính sáng tạo và bản sắc cá nhân của mỗi học sinh. Lạm dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ có thể làm học sinh bị động trong việc tự khám phá, tự cảm nhận vẻ đẹp tinh tế của ngôn từ, của cảnh vật, của cảm xúc mà các tác giả đã gửi gắm vào các tác phẩm thi ca. Cần hết sức lưu ý, công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo không phải là chìa khóa vạn năng, vì vậy không được tuyệt đối hóa công dụng của nó. AI vẫn có thể đưa ra những thông tin sai lệch, thiếu căn cứ lịch sử hoặc diễn giải không chính xác… Chưa kể, AI có thể tạo ra sự bất bình đẳng vì có thể chỉ những học sinh có điều kiện mới được tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới. Giáo viên cần thiết kế bài giảng theo hướng yêu cầu học sinh tương tác để thấy được sự khác biệt giữa trí tuệ nhân tạo với cảm xúc của con người. Hướng dẫn học sinh kỹ năng kiểm tra và đối chiếu thông tin do AI cung cấp với các nguồn học liệu chính thống, đáng tin cậy.

   Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học thơ trung đại Việt Nam nhằm tăng cường vai trò của cả người dạy và người học. Ở đó, người giáo viên là nhà thiết kế các hoạt động trải nghiệm, khơi gợi cảm hứng, bồi dưỡng tư duy phản biện cho học sinh còn học sinh là người chủ động, sử dụng công nghệ như một đòn bẩy để tiếp cận thơ trung đại Việt Nam. Mục tiêu quan trọng của phương pháp này là đạt được sự giao thoa hài hòa giữa cảm xúc nhân văn và sức mạnh của trí tuệ nhân tạo, góp phần thúc đẩy xu hướng học tập cá nhân, học tập suốt đời trong kỷ nguyên mới.

 

 

 

Chú thích:
* Khoa Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Văn Lang.
1 Luật Giáo dục, 2019, Nhà xuất bản Lao động, tr. 16.
2 Trần Đình Sử, 2013, “Đọc - hiểu văn bản - một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy học hiện nay”, trên phebinhvanhoc.com.vn số ra ngày 01/9/2013.

Bình luận

    Chưa có bình luận