XÂY DỰNG GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Gia đình là nền tảng hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của mỗi cá nhân và là cơ sở phát huy giá trị văn hoá, bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội và quốc gia. Bài viết trình bày về giá trị gia đình Việt Nam, vai trò nhiệm vụ, những thuận lợi khó khăn, thách thức trong việc giữ gìn, phát triển giá trị gia đình hạnh phúc và con người Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

 

   Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất quan tâm đến vấn đề gia đình và xây dựng gia đình hạnh phúc trong xã hội mới, coi gia đình là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam. Tại Hội nghị cán bộ thảo luận Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 - Bộ Luật Hôn nhân và Gia đình đầu tiên của nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “… gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”1. Bên cạnh đó, Bác Hồ và Đảng ta quán triệt rằng sự phát triển của gia đình luôn song hành với sự phát triển của sức sản xuất và điều kiện kinh tế - xã hội nói chung. Vì vậy cần quan tâm đến việc tạo ra các tiền đề vật chất, tinh thần và ý thức người dân, cho sự phát triển của gia đình.

   Trong các văn kiện của Đảng ở từng giai đoạn đều nhấn mạnh đến việc xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Các chính sách của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ”. Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhấn mạnh: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”2. Việc xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ: “Thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người” được khẳng định trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI và trong Chỉ thị số 49-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ngày 21.2.2005 về xây dựng gia đình Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là trong giai đoạn mới, kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

   Từ tầm quan trọng của vị trí, vai trò và chức năng của gia đình trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngày 4.5.2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ/TTg lấy ngày 28.6 hàng năm là Ngày Gia đình Việt Nam với mục đích “Đề cao trách nhiệm lãnh đạo các ngành, các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các gia đình thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 24.6.2021 của Ban Bí thư (Ban Chấp hành Trung ương 2021), Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030 (Quyết định số 2238/QĐ-TTg ngày 30.12.2021 của Thủ tướng Chính phủ) đều nhấn mạnh đến mục tiêu xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Nói cách khác, xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, hạnh phúc là mục tiêu xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhiều thế kỷ qua.

   Trong tình hình hiện nay, việc nhận thức về “khởi điểm lịch sử” của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng, trở thành cơ sở, điều kiện cho việc xác định nội dung, hình thức được đổi mới trong quá trình tiếp tục xây dựng giá trị gia đình hạnh phúc và con người Việt Nam vững vàng bước vào kỷ nguyên mới.

   Trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn phát triển mới với việc sáp nhập đơn vị hành chính và tổ chức hệ thống chính quyền hai cấp, việc tiếp tục nâng cao chất lượng thực hiện “Bộ tiêu chí xây dựng gia đình hạnh phúc” càng trở nên cần thiết. Quy mô dân số Thành phố hiện đã tăng lên khoảng 14 triệu người, gấp 1,55 lần so với trước sáp nhập, kéo theo sự đa dạng và chênh lệch về trình độ dân trí, xuất phát từ sự khác biệt trong điều kiện tiếp cận giáo dục, chất lượng giáo dục và mức độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các khu vực, nay cùng hội tụ trong một không gian đô thị lớn. Thời điểm này cũng là cơ hội để chúng ta cùng lắng nghe chia sẻ của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu về công tác văn hoá, xã hội, những bài học kinh nghiệm, mô hình hay, cách làm sáng tạo hiệu quả của các địa phương trong việc nâng cao chất lượng thực hiện “Bộ tiêu chí xây dựng gia đình hạnh phúc” con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới, nhất là vận dụng hiệu quả vào thực tiễn của Thành phố nhằm đẩy mạnh chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn 2021-2030, định hướng đến năm 2045; thực hiện Đề án “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá gia đình hạnh phúc ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2030”; Đề án “Chiến lược phát triển ngành văn hoá Thành phố giai đoạn 2020-2035”; Đề án “Phát triển tổng thể hệ thống thiết chế văn hoá, thể thao cơ sở trên địa bàn Thành phố đến năm 2035” với 168 phường xã, đặc khu của Thành phố. Đặc biệt là Chương trình hành động số 44-CTrHĐ/TU ngày 19 tháng 8 năm 2023 của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI về “Xây dựng Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” nhằm lan toả những giá trị vô cùng to lớn, vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức, nhân cách con người, các giá trị chân - thiện - mĩ làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu vào đời sống xã hội hàng ngày, dần trở thành nề nếp, việc làm thường xuyên trong lối sống, nếp nghĩ của người dân; phát huy đặc trưng, văn hoá, tính cách của con người Thành phố luôn năng động, sáng tạo, đi đầu, dám chấp nhận thử thách, nhân ái, nghĩa tình. Từ đó, mỗi người dân tự nâng cao ý thức về vai trò, trách nhiệm công dân góp phần nâng cao chất lượng thực hiện “Bộ tiêu chí xây dựng gia đình hạnh phúc” trên địa bàn Thành phố và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh - hiện đại - nghĩa tình.

   1. Xây dựng giá trị gia đình hạnh phúc, con người Việt Nam trong mối tương quan giá trị quốc gia, văn hoá, dân tộc

   Thuật ngữ “giá trị” dưới góc độ triết học là những hiện tượng xã hội đặc thù của mỗi đơn vị là sự thống nhất giữa cái chủ quan và khách quan, mọi giá trị đều liên quan đến yếu tố con người, có nguồn gốc từ hoạt động lao động, sáng tạo của con người. Theo GS. TSKH. Trần Ngọc Thêm: “Giá trị là những đánh giá của con người về các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, hay đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mĩ giúp khẳng định và nâng cao bản chất người. Một khi những nhận thức giá trị ấy đã hình thành và định hình thì nó chi phối cách suy nghĩ, niềm tin, hành vi, tình cảm con người”3. Khi xem xét các giá trị cần đối sánh trên nhiều yếu tố như: đặc trưng văn hoá - kinh tế - chính trị, địa điểm cư trú của cộng đồng; quan niệm, lý tưởng của cá nhân và xã hội. Hiện nay, các khái niệm về giá trị cũng trở nên phổ biến trong từng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, phường, xã… là cơ sở để xây dựng nền văn hoá đặc thù của mỗi đơn vị, tổ chức. Các giá trị được lựa chọn thường tiêu biểu cho những phẩm chất tích cực, ưu tú như: trách nhiệm, chính trực, công bằng, tôn trọng, sáng tạo, đổi mới… Giá trị gia đình hạnh phúc được xem xét trên các yếu tố nguyên tắc, lý tưởng, triết lý… phù hợp với từng giai đoạn, thời đại, lịch sử của mỗi quốc gia khác nhau.

   Như vậy, gia đình hạnh phúc là một thiết chế văn hoá, xã hội đặc biệt, là nền tảng để giá trị đạo đức, nhân cách con người được hình thành, hay nói cách khác: giá trị gia đình là gốc rễ để thiết lập giá trị con người, giá trị quốc gia, dân tộc. Giá trị gia đình hạnh phúc, con người Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và những định hướng trong kỷ nguyên mới không tách rời các yếu tố văn hoá, lịch sử dân tộc. Xuyên suốt các thời kỳ lịch sử phát triển, có thể kể ra một số tiêu chí về giá trị hạnh phúc gia đình và con người Việt Nam như sau:

   Tiêu chí thứ nhất: Nâng cao vị trí của gia đình bởi: “nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình”. Thực hiện tốt công tác gia đình hạnh phúc, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho các hộ gia đình, chú trọng lan toả những giá trị tốt đẹp của gia đình, nhất là giáo dục cho thế hệ trẻ những giá trị đạo đức truyền thống và văn hoá ứng xử trong gia đình, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hoà thuận, anh chị em đoàn kết, yêu thương nhau; xây dựng gia đình hạnh phúc thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách và giáo dục nếp sống cho con người, hướng đến mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh.

   Tiêu chí thứ hai: Đề cao truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, một giá trị văn hoá tốt đẹp, bền vững của dân tộc. Đó là thái độ tôn trọng, hiếu kính, biết ơn, trân trọng đối với ông bà, cha mẹ, tổ tiên. Giá trị này xuất phát ảnh hưởng từ Nho giáo thấm sâu trong hệ tư tưởng của người Việt Nam qua nhiều thập kỷ. Đó là cơ sở để xây dựng nên những phép tắc, tôn ti, trật tự trong gia đình và xã hội, giúp cho từng cá nhân giữ được đạo lý, vun đắp được phẩm hạnh, lễ giáo, phong tục. Trong gia đình xác định rõ vai vế thứ bậc như: cha - con, chồng - vợ, anh - em… Người trước tu dưỡng, vun bồi; người sau nhìn tấm gương người trước để học tập noi theo, tạo nên nét văn hoá gắn bó, thương yêu, chia sẻ, thấu hiểu, tôn trọng và hỗ trợ giữa các thành viên; các yếu tố về an toàn, bình đẳng, thủy chung, hiếu thảo trong mỗi gia đình Việt Nam.

   Tiêu chí thứ ba: Tập trung phát triển tốt, thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trách nhiệm đối với trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ, quan tâm đến các hoạt động sinh hoạt, lễ nghi trong gia đình truyền thống và hiện đại, vun đắp xây dựng mối quan hệ của gia đình, tạo không gian, thời gian, nội dung sinh hoạt liên kết trong gia đình truyền thống và hiện đại. “Văn hóa gia đình là những sản phẩm vật chất và tinh thần do những người có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống sáng tạo ra trong các thời điểm lịch sử nhất định. Những giá trị vật chất và tinh thần ấy mang lại dấu ấn tốt đẹp, tạo thành truyền thống và có tác dụng giáo dục cho các thế hệ sau nhằm hình thành và phát triển tài năng, phẩm chất, thể chất và xây dựng con người ngày càng hoàn thiện, có ích cho gia đình và xã hội”4.

   Tiêu chí thứ tư: Sự thịnh vượng về vật chất, bao gồm điều kiện vật chất, khả năng tạo lập và duy trì thu nhập ổn định, mức sống và khả năng đáp ứng nhu cầu cơ bản của các thành viên; đồng thời bảo đảm năng lực tài chính để ứng phó với những rủi ro trong đời sống gia đình và xã hội.

   Tiêu chí thứ năm: Môi trường sống của gia đình, xét đến mức độ an toàn, sạch sẽ, thân thiện của môi trường tự nhiên và xã hội; sức khỏe thể chất và tinh thần của các thành viên, khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, mức độ hài lòng với chất lượng sống, sự cân bằng giữa công việc và đời sống gia đình; vị thế của gia đình, được thể hiện qua uy tín, hình ảnh, mức độ đóng góp của gia đình đối với dòng họ, cộng đồng dân cư và xã hội. Những tiêu chí trên là cơ sở để khẳng định xây dựng giá trị gia đình hạnh phúc, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới để hình thành nên giá trị quốc gia, văn hoá, dân tộc. Do đó, không thể thiết lập, phát triển nhanh chóng, cần nhìn nhận những tiêu chí trên ở tính lâu dài, bền vững, sâu sắc từ trong định hướng của Đảng, việc thực thi chính quyền, đoàn thể và trong nhận thức của người dân.

   2. Xây dựng giá trị gia đình hạnh phúc, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới là mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc

   Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ tác động đến nhiều lĩnh vực của xã hội. Đặc biệt, sự phát triển của công nghệ, nhất là công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho việc tiếp cận các yếu tố văn hoá ngoại lai, quan niệm về quyền tự do cá nhân dễ dàng hơn và ngày càng lan truyền nhanh trên các trang mạng xã hội.

   Do đó, xây dựng giá trị gia đình hạnh phúc cần được quan tâm hàng đầu, nhất là việc giáo dục của gia đình về văn hoá dân tộc, tình yêu, hạnh phúc, thuỷ chung để các thế hệ trẻ có đủ tri thức bản lĩnh tham gia hội nhập quốc tế, tham gia quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay đang rất cần có các nhân tố về con người mới, có tri thức năng động, sáng tạo có khả năng làm chủ công nghệ để phát triển đất nước và có trách nhiệm với gia đình, xã hội. Bởi sự thay đổi về cấu trúc, chức năng giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức sẽ diễn ra ngày càng sâu sắc theo hướng bảo vệ quyền con người, hoà nhập vào môi trường quốc tế thông qua giao lưu, tiếp xúc và tiếp biến văn hoá. Mô hình gia đình liên tộc người, xuyên quốc gia phát triển nhờ những thành tựu của khoa học công nghệ, truyền thông điện tử, nên các cá nhân có nhiều cơ hội mở rộng giao lưu văn hóa liên làng, liên tỉnh và liên quốc gia giữa các tộc người trong nước và nhiều dân tộc trên thế giới. Qua đó diễn ra sự tích hợp các giá trị văn hoá, truyền thống và hiện đại để hình thành những chuẩn mực phù hợp với lối sống của gia đình đương đại trong kỷ nguyên mới.

   Trong các văn kiện của Đảng đã định hướng rõ tầm quan trọng của việc xây dựng giá trị gia đình hạnh phúc, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển đất nước bền vững, toàn diện, theo đó:

   - Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998) xác định: “Bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc sống toàn xã hội...”.

   - Đại hội X của Đảng (2005) khẳng định: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức với bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam”.

   - Đại hội XI của Đảng (2011): “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”.

   - Đại hội XII của Đảng (2016) khẳng định: “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”.

   - Đại hội XIII của Đảng (2021) nhấn mạnh: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”.

   Việc đề ra các mục tiêu cụ thể đó đã khẳng định tính thực tiễn trong các chính sách, đường lối của Đảng về xây dựng giá trị gia đình và con người. Nền tảng xã hội, hiện thực cuộc sống đòi hỏi phải có một hệ thống các giá trị được định hình vững chắc, những giá trị này được xây dựng dựa trên cơ sở văn hóa, lịch sử, truyền thống của dân tộc, song việc khái quát thành hệ thống các giá trị, quy ước, nguyên tắc, lý tưởng đã quay ngược trở lại, có vai trò “nhấn mạnh”, thấm nhuần hơn đối với từng cá nhân, tập thể, thấm sâu hơn vào đời sống tinh thần, ý thức, thái độ của toàn xã hội.

   3. Những thuận lợi, khó khăn về xây dựng gia đình hạnh phúc truyền thống và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới

   Trong thời đại công nghệ, thông tin bùng nổ, người dân có cơ hội học hỏi, tiếp cận nhiều hơn các giá trị mới ở nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới, họ càng trân trọng hơn giá trị gia đình truyền thống hạnh phúc. Tuy nhiên, đặt trong thực tế của xã hội hiện nay, những giá trị gia đình truyền thống đã gặp không ít khó khăn để phát huy thế mạnh, đem lại đời sống ổn định, hạnh phúc cho mỗi người dân.

   3.1. Những khó khăn, thách thức bị tác động bởi các yếu tố

   Thứ nhất: Quá trình phát triển kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo nên làn sóng đô thị hóa diễn ra ở nhiều quốc gia, Việt Nam cũng không ngoại lệ, nhịp sống “nhanh”, “vội” cộng hưởng với áp lực về kinh tế, thời gian, sức khỏe đã khiến các mối quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo, thiếu gắn kết.

   Thứ hai: Tính gắn kết, tương trợ, sẻ chia, tôn trọng, nhường nhịn lẫn nhau tạo nên mô hình “tứ đại đồng đường” trong mỗi gia đình Việt Nam đã dần thay thế bằng các “hạt giống” gia đình mới: gia đình hạt nhân (cha mẹ và con cái), gia đình cha mẹ đơn thân, gia đình đồng tính... Những gia đình kiểu mới này vừa biểu hiện cho yếu tố tích cực là thu hẹp, giản tiện các mối quan hệ phức tạp trong một gia đình đông đúc, nhiều thành phần, vừa phù hợp với xu thế của xã hội phát triển trong cuộc sống bận rộn, phức tạp. Nhưng mặt khác, lại phản ánh những xung đột trong giá trị gia đình, trong mối liên kết, hỗ trợ, chia sẻ, hi sinh, yêu thương giữa các thành viên. Đây là cơ sở để xác định sự “rạn nứt” xảy ra trong mối quan hệ hôn nhân, gia đình. Yếu tố gắn kết giữa cá nhân, gia đình, làng xóm ngày nay đã trở nên lỏng lẻo, hời hợt, xa cách hơn so với các gia đình Việt Nam truyền thống.

   Thứ ba: Thời đại hội nhập, những yếu tố về vật chất đã đầy đủ hơn, những khát vọng và đời sống lệ thuộc vật chất trong xã hội hiện nay đã kéo những biểu hiện “lệch chuẩn” của gia đình, làm ảnh hưởng đến đạo đức, phẩm chất con người. Mối quan hệ giữa gia đình và cá nhân lỏng lẻo trước thực trạng đề cao vật chất. Lòng tôn kính, biết ơn, hiếu thuận với cha mẹ, ông bà, tổ tiên không còn là truyền thống tốt đẹp hàng đầu của nhiều người con Việt Nam.

   Thứ tư: Xét ở mặt tích cực, truyền thống hiếu học của gia đình Việt Nam ngày nay đã được nhận thức khách quan, thực tế hơn. Nhiều gia đình đã chú trọng xây dựng việc học tập đi cùng với phát triển kỹ năng, tính thực tế, thực hành, ứng dụng và phát triển tổng hòa các phẩm chất năng lực khác để thế hệ trẻ tự tin, linh hoạt trong quá trình hội nhập, toàn cầu hóa. Việc học nặng lý thuyết như trước đây đã không còn phù hợp trong thời đại mới hiện nay, thông qua cải cách, sự thay đổi chính sách, chiến lược giáo dục trong những năm gần đây đã trở thành minh chứng cho việc xây dựng giá trị gia đình hạnh phúc, giá trị con người Việt Nam phù hợp với xu thế giáo dục của thế giới.

   3.2. Xu hướng biến đổi giá trị gia đình truyền thống và hình thành một số giá trị gia đình mới

   Giá trị gia đình Việt Nam nói chung, tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng hiện nay cho thấy rõ nét sự phức hợp theo các cặp giá trị gia đình truyền thống và giá trị gia đình hiện đại, sự bền vững và sự tiếp biến văn hoá trong xã hội hiện đại, đang chuyển đổi bao gồm các đặt trưng về bảo lưu gia đình truyền thống; xu hướng chấp nhận/ ủng hộ các giá trị gia đình hiện đại/ hậu hiện đại. Những khác biệt rõ nét trong giá trị gia đình theo từng nhóm xã hội mang những đặc điểm khác nhau của hiện đại hoá và văn hoá dưới những tác động phức hợp của tính đa dạng văn hoá, định hướng xã hội chủ nghĩa, giá trị phương Tây của quá trình hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học công nghệ.

   Do đó, việc tiếp nhận nhanh sự biến đổi các giá trị gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại như bình đẳng giới, gia đình hạt nhân, gia đình đơn thân, tuổi kết hôn muộn hơn, có ít con, quan tâm nhiều hơn về giá trị tâm lý, tình cảm trong gia đình… Từ các nhóm gia đình mang đặc điểm hiện đại, đặc biệt là nhóm trẻ đang có xu hướng theo những giá trị gia đình mới, cần truyền thông giáo dục về vai trò và ý nghĩa của hôn nhân, gia đình, con cái, cũng như cung cấp những kiến thức cần thiết về tình bạn, tình yêu, tình dục, sức khoẻ sinh sản, Luật Hôn nhân và Gia đình, điều kiện kết hôn, lựa chọn bạn đời, quan hệ vợ chồng trước, trong và sau hôn nhân cần đặc biệt chú ý để vừa phát huy sự tự do cá nhân, cởi mở trong quan niệm, vừa hạn chế được những tác động tiêu cực của chủ nghĩa các nhân, lối sống hưởng thụ, ích kỷ có thể ảnh hưởng đến sự bền vững của thiết chế hôn nhân và gia đình.

   Bảng sau trình bày về sự biến đổi các giá trị gia đình theo Báo cáo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2020 đến 2024:

   Những số liệu trên thể hiện mức độ chuyển đổi nhanh, phức tạp, đa dạng của giá trị gia đình truyền thống sang hiện đại và hậu hiện đại, cũng như mức độ tồn tại đồng thời các giá trị gia đình thuộc các giai đoạn hiện đại hoá khác nhau. Việc xây dựng gia đình hạnh phúc truyền thống và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới tại Thành phố Hồ Chí Minh để định hướng sự phát triển xã hội là khẩn thiết và quan trọng.

   3.3. Giá trị con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới, những phẩm chất, lý tưởng được xác định

   - Yêu nước, ý chí tự cường dân tộc; nhân ái, khoan dung, độ lượng; đoàn kết; cần cù, sáng tạo; giản dị trong lối sống. Có thể thấy, trong bất cứ thời đại nào, giá trị của con người Việt Nam với tinh thần yêu nước, quan tâm đến vận mệnh dân tộc luôn được đề cao trong văn hóa truyền thống dân tộc. Ý chí tự lực, tự cường dân tộc luôn được củng cố để chủ động trong hội nhập và phát triển.

   - Tự tin, tự lập, tinh thần trách nhiệm; xây dựng hài hòa tố chất trí tuệ và sức khỏe tinh thần, thể chất; thái độ chủ động, nhạy bén, linh hoạt và thích ứng nhanh trước hoàn cảnh; tích cực học hỏi, nâng cao nhận thức, hiểu biết để bắt kịp thời đại; tinh thần tự giác, sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ cộng đồng; xây dựng môi trường sống tử tế, văn minh; đặc biệt trong công việc và cuộc sống công dân hiện đại.

   - Trung thực, kỷ cương, sáng tạo; phẩm chất trung thực được coi trọng trong mọi mối quan hệ và hoạt động, từ kinh tế đến đời sống xã hội; nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật, tuân thủ kỷ cương, phép nước, xây dựng môi trường xã hội trật tự, văn minh; luôn chủ động học tập, kỹ năng tư duy phản biện, đổi mới, sáng tạo để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của kỷ nguyên số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Như vậy, bối cảnh xã hội và thời đại đã tạo ra những thay đổi nội tại trong các gia đình, con người Việt Nam. Việc xây dựng giá trị gia đình hạnh phúc, đánh giá tính thực tiễn, ưu điểm và hạn chế là cần thiết để kịp thời điều chỉnh suy nghĩ, hành vi, thái độ, năng lực, ứng xử của mỗi cá nhân trước các vấn đề phức tạp của xã hội và thời đại.

   Tóm lại, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới là sự kết hợp hài hòa giữa các giá trị truyền thống bền vững và những phẩm chất hiện đại, năng động, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

   4. Giữ gìn, phát huy các giá trị gia đình hạnh phúc, giá trị con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới

   Giá trị gia đình hạnh phúc, giá trị con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới là giá trị văn hóa quốc gia, dân tộc, biểu hiện sinh động cho các giá trị văn hóa truyền thống, yếu tố lịch sử, kinh tế, chính trị của quốc gia. Những giá trị này đòi hỏi quá trình kiến tạo, vun đắp theo chiều dài phát triển của đất nước, do đó nó không dễ mất đi, không dễ thay đổi. Giá trị gia đình hạnh phúc, con người Việt Nam là cơ sở để hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa của dân tộc. Việc vun đắp, ý thức gìn giữ, phát huy các giá trị gia đình, con người trong xã hội Việt Nam hiện nay vừa là nhiệm vụ định hướng của Đảng, của chính quyền, vừa là nhiệm vụ của cá nhân, cộng đồng. Đứng trước những thuận lợi và khó khăn, thách thức trong việc vun đắp, giữ gìn và phát huy giá trị gia đình hạnh phúc, giá trị con người trong xã hội Việt Nam đương đại, cần tập trung vào một số giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm:

   Thứ nhất: Nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong việc xây dựng giá trị gia đình. Các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, cấp ủy đảng, cần nhận thức rõ mối quan hệ và tầm quan trọng của xây dựng giá trị gia đình và giá trị quốc gia, dân tộc. Từ đó, giúp định hướng người dân trong việc xây dựng hệ giá trị gia đình hạnh phúc.

   Thứ hai: Giữ gìn, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ cái nôi gia đình. Lưu truyền giá trị quốc gia, dân tộc tạo nên sức mạnh nội sinh trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Phát huy những giá trị của hương ước, lệ làng, quy ước của cộng đồng trong việc xây dựng giá trị gia đình; cần bổ sung cụ thể các cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý rõ ràng, đầy đủ về công tác gia đình và xây dựng gia đình trong giai đoạn hiện nay.

   Thứ ba: Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức, làm tổn hại đến sự ổn định và phát triển bền vững của gia đình. Phát huy tinh thần làm gương của thế hệ đi trước nhằm giáo dục những giá trị chân - thiện - mĩ cho các thế hệ sau.

   Thứ tư: Trách nhiệm bản thân của mỗi thành viên trong gia đình đều có nghĩa vụ và trách nhiệm riêng, cần hoàn thành tốt thì tất cả đều yên tâm phát triển tốt công việc theo vị trí của mình. Ngoài ra, mỗi thành viên trong gia đình đều phải biết cách tự chăm sóc bản thân. Khi làm được điều đó họ sẽ biết cách trân trọng những giá trị của mình, tự tin, yêu đời hơn và lan toả niềm hạnh phúc đến những người xung quanh. Tôn trọng cá tính, sở thích của nhau, để gia đình là nơi hội tụ, tái tạo lại sức lao động, tinh thần sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi ở bên ngoài.

   Thứ năm: Xây dựng gia đình thịnh vượng là các thành viên trong độ tuổi lao động cùng làm việc tạo thu nhập và quyết định chi tiêu, quyết định các việc trong gia đình (nhà ở, tiện nghi, thụ hưởng cuộc sống…).

   Thứ sáu: Bình đẳng giới là một chỉ báo quan trọng của hiện đại hoá và tiến bộ trong gia đình. Bình đẳng giới trong gia đình theo hướng hai vợ chồng cùng tham gia đóng góp kinh tế, chi tiêu… Trong gia đình hiện đại, bình đẳng giới là những dấu hiệu đáng ghi nhận về sự thể hiện vai trò cùng làm chủ gia đình của phụ nữ.

   Trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 có nội dung: “Kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội và phát triển; thực hiện đầy đủ các quyền và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình, đặc biệt đối với trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ”. Trên thực tế, việc vun đắp, giữ gìn những giá trị gia đình truyền thống cần phải đồng bộ, xuyên suốt, người đề ra, xây dựng chính sách cần thực hiện việc chăm lo đời sống vật chất phải đi đôi với các giá trị tinh thần, cũng như không thể đợi kinh tế phát triển, xã hội giàu mạnh mới quan tâm đến các giá trị, di sản tinh thần. Đồng thời, thực hiện tốt chủ trương, chính sách hỗ trợ người đơn thân đang trực tiếp nuôi con nhỏ có hoàn cảnh khó khăn được hưởng chính sách xã hội như Nghị định số 261/2025/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2025 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội; Nghị định số 192/2025/NĐ-CP ngày 1 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 201/2025/QH15 ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Quốc hội thí điểm về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội.

   Trong mỗi quốc gia, dân tộc, giá trị gia đình hạnh phúc, con người phải được coi trọng, đề cao, yêu quý, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc mới có sức lan tỏa, ảnh hưởng, mới kêu gọi cộng đồng chung tay xây dựng, vun bồi và phát huy được bản sắc riêng của nó trong thời đại mới.

   Việc thiết lập cụ thể các quyền lợi, nghĩa vụ, thể chế pháp luật về hôn nhân, gia đình, quyền con người... đã cho thấy sự đề cao, tôn trọng đối với các giá trị gia đình, con người, văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đây luôn là chủ đề mới, chủ đề cần được mở rộng và đào sâu song song với quá trình phát triển vững mạnh của quốc gia, dân tộc.

   5. Kết luận

   Xây dựng giá trị gia đình hạnh phúc là nền tảng để xây dựng quốc gia văn minh giàu bản sắc. Xây dựng gia đình hạnh phúc thật sự là tổ ấm của mỗi người chính là cơ sở để thực hiện khát vọng phát triển đất nước hùng cường với những con người Việt Nam có tầm vóc thể lực, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, hội tụ trí tuệ, tài năng để nước ta hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, song vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc. Đó cũng chính là nền tảng cơ bản, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để con người Việt Nam tự tin, vững vàng bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

 

 

 

Chú thích:
* Đại học Cửu Long.
1 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, NXB. Chính trị quốc gia, 2000, tr. 631.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ, NXB. Chính trị quốc gia, tr. 77.
3 Trần Ngọc Thêm (2016), Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai, NXB. Văn hoá - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 38.
4 Bùi Đình Châu (2020), Văn hoá gia đình, NXB. Văn hóa thông tin.

 

Bình luận

    Chưa có bình luận