Trong dòng chảy lịch sử - văn hóa dân tộc Việt Nam, hệ thống văn miếu giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là biểu tượng của truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, vừa là thiết chế giáo dục - văn hóa tiêu biểu của thời phong kiến. Từ Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở Hà Nội đến các văn miếu ở Bắc Ninh, Huế hay Văn miếu Diên Khánh (Khánh Hòa), Văn miếu Gia Định (Thành phố Hồ Chí Minh), Văn miếu Trấn Biên (Đồng Nai)… đều lưu dấu những giá trị lịch sử - văn hóa đặc sắc, phản ánh sâu sắc sự ảnh hưởng của Nho học trong đời sống xã hội Việt Nam suốt nhiều thập kỷ. Trong bối cảnh đó, Văn miếu Diên Khánh (Khánh Hòa) tuy không có quy mô lớn như những trung tâm Nho học ở Bắc Bộ nhưng lại mang một ý nghĩa đặc biệt đối với vùng Nam Trung Bộ: là minh chứng sống động cho quá trình mở rộng ảnh hưởng Nho học về phương Nam dưới triều Nguyễn, là không gian văn hóa - giáo dục gắn bó mật thiết với cộng đồng cư dân địa phương qua nhiều giai đoạn lịch sử.
Ngày nay, trước yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong thời kỳ hội nhập, các văn miếu không chỉ đơn thuần là di tích lịch sử cần được gìn giữ mà còn trở thành nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch văn hóa bền vững. Trong đó, cộng đồng cư dân địa phương đóng vai trò then chốt, không chỉ với tư cách là chủ thể gìn giữ ký ức, thực hành văn hóa truyền thống mà còn là lực lượng tham gia trực tiếp vào quản lý, khai thác và sáng tạo sản phẩm du lịch. Trong bối cảnh du lịch văn hóa đang được định hướng trở thành một trong những trụ cột phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao vai trò của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy giá trị Văn miếu Diên Khánh là cần thiết.
1. Văn miếu Diên Khánh trong mối tương quan với hệ thống văn miếu (văn Thánh miếu) ở Việt Nam1
Văn miếu Bắc Ninh tọa lạc tại phường Võ Cường, tỉnh Bắc Ninh. Miếu có từ lâu, được trùng tu năm 1802, 1838 và 1928; hậu đường thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết. Ở đây có 14 tấm bia đá mang tên chung là “Kim bảng lưu phương” (bảng vàng lưu tiếng thơm) ghi tên các Tiến sĩ vùng Kinh Bắc. Quanh văn miếu còn nhà tạo soạn (bên trái), bi đình (bên phải), nhà hội trường tự sự (trước mặt bi đình), nhà cải trang (thay quần áo trước khi vào lễ), nhà để đồ tế khí, nhà tiền tế. Các khoa thi tuyển dụng nhân tài từ năm 1075 đến năm 1919, tỉnh Bắc Ninh có 645 Tiến sĩ (chiến 21,6% trong tổng số Tiến sĩ của cả nước); cũng trong giai đoạn này, Bắc Ninh đã có 17 trạng nguyên (chiếm 36,2% trong tổng số trạng nguyên của cả nước)2.
Văn miếu Huế (Văn Thánh Huế) tọa lạc tại số 72, đường Văn Thánh, phường Kim Long, Thành phố Huế. Văn miếu được xây dựng năm 1808, ngay bờ sông Hương, cách chùa Thiên Mụ vài trăm mét. Tại đây có 32 bia đá ghi tên 291 Tiến sĩ từ khoa thi năm 1822 đến khoa thi năm 19193.
Văn miếu Mao Điền tọa lạc tại xã Mao Điền, thành phố Hải Phòng. Văn miếu mang kiến trúc phương Đông, chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo. Các năm 1994, 1999, 2002, văn miếu được trùng tu, sửa chữa với nhiều quy mô khác nhau. Hiện nay, Văn miếu Mao Điền có các công trình chính sau: 1) Miếu Thổ Cờ là nơi thờ Thổ thần theo tín ngưỡng dân gian; là công trình kiến trúc kiểu chữ “Đinh” gồm 3 gian; 2) Văn miếu môn được thiết kế theo mẫu của Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở Hà Nội với 3 phần: chính môn, tả môn, hữu môn kiểu vòm cuốn; 3) Nhà bia Tiến sĩ: hai nhà bia Tiến sĩ dựng năm 2002 nhằm tôn vinh đạo học; 4) Thiên Quang tỉnh: năm 2002, ao được cải tạo lấy tên là “Thiên quang tỉnh” phỏng theo mô hình của Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở Hà Nội; 5) Hai nhà bia cổ: 3 tấm bia ghi những lần trùng tu, tôn tạo di tích; 6) Gác chuông, gác trống xây bằng gạch ngói, vôi vữa từ năm 1806; đến năm 2004, gác chuông, gác khánh được phục dựng bằng gỗ lim, kiểu chồng diêm, 8 mái; 7) Nhà Đông vu và Tây vu: được xây dựng cùng thời với Văn miếu (1801), là nơi tụ họp của bá quan văn, võ trước khi vào lễ Khổng Tử và các bậc tiên hiền; 8) Bái đường, hậu cung: là không gian thờ tự của Văn miếu, hình chữ “Nhị” dạng “trùng thiềm điệp ốc”; 9) Khải Thánh: được xây dựng trong giai đoạn 1806-1807, dưới triều vua Gia Long, kiến trúc kiểu chữ “Nhất” gồm 3 gian gỗ lim4.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám tọa lại tại số 58 Quốc Tử Giám, phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám, thành phố Hà Nội. Theo tư liệu lịch sử, năm 1070, Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, tứ phối, vẽ tượng thất thập nhị hiền, 4 mùa tế tự và cho Hoàng thái tử đến học. Năm 1076, triều đình lại cho lập Quốc Tử Giám. Năm 1253 (đời Trần), đổi tên Quốc Tử Giám thành Quốc Tử Viện. Đến đời Lê (năm 1483), đổi tên Quốc Tử Viện thành Thái Học Đường. Thời Nguyễn, khu vực này được đổi thành Văn miếu Hà Nội. Trải qua gần 1000 năm, hiện nay, di tích còn bảo tồn được một số hạng mục kiến trúc thời Lê và thời Nguyễn. Văn Miếu - Quốc Tử Giám là Trường Quốc học đầu tiên ở nước ta, đã đào tạo được nhiều thế hệ hiền tài từ thời Lý đến thời Lê. Có thể chia khu di tích thành hai khu vực chính như sau: 1) Văn Miếu - nơi thờ tự tiên Nho: được xây dựng trên khu đất hình chữ nhật, dài 300m, rộng 70m gồm các hạng mục: Hồ Văn ở trước mặt Văn Miếu; Nghi Môn Ngoại (tứ trụ); Nghi Môn Nội; Cửa Đại Trung (Đại Trung Môn) gồm 3 gian, kết cấu ba hàng chân cột; Khuê Văn Các là một lầu vuông, gồm 2 tầng, 8 mái, dựng năm 1805 trên một nền vuông lát gạch Bát Tràng; hai dãy nhà bia Tiến sĩ có 82 bia Tiến sĩ được dựng từ năm 1484 đến năm 1780 của 82 khoa thi – từ khoa thi Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) đến khoa thi năm 1779 – được UNESCO vinh danh là “Di sản tư liệu thế giới”; Cửa Đại Thành (Đại Thành Môn); Đại Bái: gồm 9 gian, 6 hàng chân cột; Điện Đại Thành: xây song song với toà Đại Bái, được nối với nhau bằng một phương đình, gồm 9 gian; hai dãy nhà Tả vu, Hữu vu; 2) Quốc Tử Giám – trường đào tạo trí thức Nho học, gồm: Tả vu, Hữu vu được xây chạy dọc 2 bên sân, mỗi dãy 9 gian kiểu tường hồi bít đốc; Nhà Thái Học: được dựng lại năm 1998 đến năm 2000, gồm 2 nếp nhà có kết cấu liên hoàn, mái lợp ngói mũi hài, các bộ vì đỡ mái kiểu “chồng rường, cốn chồng kẻ, bẩy hiên”, nền lát gạch Bát Tràng5.
Văn miếu Trấn Biên tọa lạc tại phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai, được chúa Nguyễn Phúc Chu sai Trấn thủ dinh Trấn Biên và Ký lục Phạm Khánh Đức xây dựng năm 1715. Đây là văn miếu ra đời sớm nhất ở vùng Nam Bộ. Theo thuật phong thủy của người xưa, nơi dựng Văn miếu Trấn Biên là chỗ đất tốt. Năm Giáp Dần (1794), Nguyễn Phúc Ánh đã sai Lễ bộ Nguyễn Hồng Đô trùng tu Văn miếu; lần trùng tu thứ hai vào năm Tự Đức thứ 5 (Nhâm Tý, 1852) với quy mô lớn hơn trước. Như những văn miếu khác, Văn miếu Trấn Biên thờ Khổng Tử, vị “khai sáng” Nho giáo và Nho học. Năm 1861, ngay sau khi chiếm được tỉnh Biên Hòa, thực dân Pháp đã đốt phá Văn miếu Trấn Biên. Nhân dịp kỷ niệm 300 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, UBND tỉnh Đồng Nai đã tái thiết Văn miếu Trấn Biên. Về chi tiết, khu thờ phụng có nhà thờ chính (ba gian, hai chái), kiến trúc lối cổ, thờ các bậc tiền nhân, các vị hiền triết, các nhà văn hóa; Văn miếu gồm miếu nhỏ bên phải thờ tiên sư, miếu nhỏ bên trái thờ tiền hiền, hậu hiền; nhà bia đặt đối diện với nhà thờ chính, nêu ý nghĩa, mục đích của việc lập Văn miếu và tuyên dương công tích những vị được thờ. Khu sinh hoạt truyền thống gồm có các công trình: khuê văn các, nhà truyền thống, bia truyền thống, cổng và các công trình phụ. Bia truyền thống có bài văn khái quát về truyền thống văn hóa, giáo dục của Biên Hòa xưa và nay. Nhà truyền thống chủ yếu dùng để trưng bày và ghi danh những đơn vị, cá nhân đạt được các danh hiệu Nhà nước6.
Văn Thánh Khổng miếu tọa lạc phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (cũ), nay là phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng. Văn Thánh Khổng miếu được khởi công xây dựng ngày 14/6 năm Canh Tý, thời Minh Mạng (năm 1840) và khánh thành ngày 20/1 năm Tân Sửu (năm 1842). Trải qua chiến tranh và thiên tai, Văn miếu hư hỏng nặng. Năm 1963, Văn miếu được di dời và trung tu, phục dựng theo nguyên trạng trên một khu đất rộng 6.200m², cách vị trí cũ khoảng 2km về phía Nam, hoàn thành vào năm 1970 và lấy tên là Khổng miếu. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, di tích có tên đầy đủ là Văn Thánh Khổng miếu. Di tích gồm các hạng mục chính điện, hậu điện, tháp chuông, tháp trống, hai dãy nhà cầu, nhà cổ dân gian Quảng Nam, cầu bắc qua hồ sen và cổng Tam quan. Chính điện Văn Thánh Khổng miếu được xây dựng theo lối kiến trúc 3 gian 2 chái, trên mái trang trí hình nhị long tranh châu. Ngoài chức năng thờ cúng lúc bấy giờ, chính điện còn thường sử dụng vào việc huấn đạo, dạy học và hành lễ7.
Văn Thánh miếu Gia Định: xưa tọa lạc trên khuôn viên đất tại địa phận các phường 21, 22, 25 quận Bình Thạnh, nay thuộc phường Thạnh Mỹ Tây. Văn Thánh miếu Gia Định được xây dựng năm 18248 . Sau khi chiếm thành Gia Định, Pháp đã đốt phá Văn Thánh miếu nên hiện nay di tích không còn tồn tại. Theo tấm bia cổ còn giữ tại chùa Văn Thánh trên đường Ngô Tất Tố, phường Thạnh Mỹ Tây, vị trí của chùa Văn Thánh nay thuộc khuôn viên của Văn Thánh miếu Gia Định ngày xưa.
Văn Thánh miếu Vĩnh Long: tọa lạc tại phường 4, TP. Vĩnh Long, nay là phường Phước Hậu, tỉnh Vĩnh Long. Văn Thánh miếu Vĩnh Long được khởi công xây dựng năm 1864, hoàn thành cuối năm 1866 với sự chủ trì của Kinh lược đại thần Phan Thanh Giản, Đề học Nguyễn Thông và sự đóng góp của nhiều đại thần cựu trào cùng sĩ phu và nhân dân các tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Từ đó đến nay, Văn Thánh miếu đã được trùng tu, tôn tạo vào các năm 1872, 1903, 1914, 1933, 1963 và lần trùng tu, tôn tạo năm 1994 giúp Văn Thánh miếu Vĩnh Long có cảnh quan kiến trúc như ngày nay. Cơ bản, di tích chia thành 02 phần: 1) Khổng Thánh miếu: thờ Đức Khổng Tử; trước kia được làm đơn sơ; đến năm 1903, được thay bằng cột gỗ căm xe, lót gạch tàu, lợp ngói đại và ngói ống; 2) Văn Xương các: trước kia là Thơ lầu; năm 1914, được trùng tu với nền gạch, cột gỗ căm xe, mái lợp ngói ống, tầng trên treo biển “Văn Xương các” (Gác thờ ba vị Văn Xương đế quân). Tại đây, hàng năm có hai lễ cúng tế: lễ giỗ cụ Phan Thanh Giản vào ngày 4 và 5/7 âm lịch; lễ truy điệu chung các quan quân cựu trào có công và bỏ mình vì Tổ quốc vào ngày 12 và 13/10 âm lịch9.
Văn miếu Xích Đằng tọa lạc tại phường Sơn Nam, tỉnh Hưng Yên. Văn miếu được xây dựng năm 1831 trên nền cũ của chùa Xích Đằng với diện tích khoảng 4.000m2 . Khuôn viên Văn miếu có tòa Tam quan, tòa nhà hình chữ “Tam” thờ Khổng Tử, hai dãy Đông vu, Tây vu. Tại đây còn lưu giữ quả chuông cao 1,5m, đường kính 0,9m; 1 khánh đá dài 1,9m; 2 con sấu đá; bia ghi 72 Tiến sĩ quê ở Hưng Yên, đỗ đại khoa từ đời Trần đến năm 168810.
Văn miếu Diên Khánh tọa lạc tại tổ 15, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, nay là xã Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Vị trí địa lý của Văn miếu: phía Đông giáp đường Văn Miếu (con đường mới làm sau này); phía Tây giáp nhà dân; phía Nam giáp bờ sông Phú Lộc (người dân quen gọi là sông Cái); phía Bắc giáp nhà dân.
Qua hệ thống Văn miếu trên cả nước có thể thấy mỗi di tích đều mang trong mình những giá trị lịch sử - văn hóa đặc sắc, phản ánh truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam và đó cũng là những minh chứng sống động cho ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống xã hội - giáo dục của Việt Nam trong thời kỳ phong kiến. Trong bối cảnh đó, di tích Văn miếu Diên Khánh tuy quy mô không lớn như Văn Miếu - Quốc Tử Giám hay Văn miếu Trấn Biên nhưng vẫn mang ý nghĩa quan trọng trong dòng chảy lịch sử văn hóa của vùng đất Nam Trung Bộ.
2. Văn miếu Diên Khánh: góc nhìn lịch đại và giá trị nổi bật
Cuối thế kỷ II, thông qua các quan lại Trung Quốc, Nho học được du nhập vào Viêt Nam. Đó cũng là khởi sự hình thành hệ thống văn miếu trên khắp đất nước Việt Nam sau này. Tuy nhiên, các cứ liệu lịch sử cho thấy phải đến thời nhà Nguyễn, hệ thống văn miếu từ vùng duyên hải Nam Trung Bộ đến miền Nam mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Năm 1653, Chúa Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Hùng Lộc vào cai quản vùng đất từ mũi Đá Bia đến sông Phan Rang, rồi đặt làm 2 phủ là phủ Thái Khang (gồm huyện Quảng Phước và Tân Định) và phủ Diên Ninh (gồm huyện Phước Điền, Vĩnh Xương và Hoa Châu). Đến năm 1742, phủ Diên Ninh đổi thành phủ Diên Khánh, đồng thời đặt dinh Bình Khang. Đến năm 1803, vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh) đổi dinh Bình Khang thành dinh Bình Hòa và ra chỉ dụ các dinh, trấn trên toàn quốc lập văn miếu. Về việc này, Đại Nam nhất thống chí (quyển 11) chép rằng: “Năm Gia Long thứ 2 (1803), vua có chỉ dụ lập văn miếu ở xã Phú Lộc, huyện Hoa Châu, thuộc Trấn Bình Hòa”. Sách Đại Nam thực lục cũng viết rằng năm Gia Long thứ hai (1803) có sắc chỉ của vua “sai các dinh trấn đều lập văn miếu, mỗi miếu đều đặt hai người điển hiệu, lễ sinh và miếu phu đều 30 người”. Những cứ liệu trên có thể khẳng định Văn miếu Diên Khánh được khởi dựng thời kỳ vua Gia Long. Trong cuốn Xứ trầm hương, Quách Tấn cung cấp thêm thông tin: Văn miếu Diên Khánh thờ đức Khổng Tử, ban đầu được xây dựng trên gò đất gọi là Hòn Tháp. Năm Tự Đức thứ hai (tức năm 1849), lũ lụt từ sông Cái làm xói mòn vào tận chân miếu nên phải dời miếu xuống hướng Đông – tức vị trí hiện nay. Trong lần di dời này, Văn miếu cũng đồng thời được trùng tu, thay mái lợp tranh bằng lợp ngói và dựng thêm Tả vu, Hữu vu, Khải miếu, Quan cư, Từ miếu…. Điều này cho thấy từ năm 1849, Văn miếu Diên Khánh đã có quy mô rất bề thế11.
Đến thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Văn miếu được sử dụng làm trụ sở, bãi luyện tập quân sự, chiến đấu chống giặc ngoại xâm của người dân yêu nước. Nhà Đông, nhà Tây, miếu Khải trở thành nơi chứa lương thực, thực phẩm để phục vụ kháng chiến chống giặc Pháp tại mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa. Sau năm 1945, để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, lãnh đạo huyện Diên Khánh đã tổ chức tại Văn miếu Diên Khánh lớp học chính trị và huấn luyện quân sự cho thanh niên địa phương. Từ năm 1945 đến năm 1946, nơi đây là điểm tập kết lương thực, thực phẩm do nhân dân khắp nơi đóng góp để phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp. Văn miếu Diên Khánh cũng là cơ sở liên lạc bí mật của quân cách mạng, là đầu mối của phong trào kháng chiến chống Pháp ở Khánh Hòa.
Năm 1947, do trường học bị giặc đốt cháy, Văn miếu Diên Khánh được trưng dụng làm trường học tạm cho trẻ em hai trường Đại Điền Nam và Phú Lộc. Năm 1948, quân Pháp chiếm đóng tại Văn miếu và có ý định xây dựng nơi này thành một đồn binh án ngữ vùng đất này. Không để cho Pháp đạt mục đích, Văn miếu Diên Khánh đã bị thiêu hủy theo chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” của Đảng và Nhà nước. Sau thời gian này, việc tế tự ở Văn miếu phải tạm thời chuyển dời về Văn chỉ huyện Vĩnh Xương (thuộc phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang, nay là phường Tây Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa). Đến năm 1958, trước thực trạng Văn chỉ Diên Khánh ở Gò Sòng, Phước Tuy, Diên Phước (nay là xã Diên Thọ, tỉnh Khánh Hòa) bị hư hỏng, xuống cấp, hội viên quận Hội Văn chỉ Diên Khánh tan rã, các ông Hoành Sơn Phan Duy Tuần, Qua Phong Nguyễn Trọng Tố, Nguyễn Tấn trong Văn hội tỉnh và huyện xin phép chính quyền cho chuyển dời phần cơ sở vật chất còn lại của Văn chỉ này để trùng tu, phục dựng lại Văn miếu Diên Khánh tại vị trí xưa. Từ đây, Văn miếu Diên Khánh mới phục dựng được các cụ trong Văn hội duy trì nghi lễ cúng tế, hương khói. Đến năm 1969, Văn miếu được trùng tu. Năm 1990, Văn miếu được chống dột, quét vôi. Năm 1997, nhà Đông của Văn miếu được trùng tu. Năm 1998, cổng Văn miếu được xây dựng lại sau khi bị sập. Năm 1998, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ban hành Quyết định số 04/1998/QĐ–BVHTT ngày 15/10/1998 xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia đối với Văn miếu Diên Khánh. Năm 2008, Văn miếu Diên Khánh được đại trùng tu để có diện mạo, cảnh quan bề thế như ngày nay12.
Ngày nay, Văn miếu Diên Khánh vẫn là biểu tượng cho truyền thống “tôn sư trọng đạo”, “uống nước nhớ nguồn”, tinh thần hiếu học của người dân vùng Diên Khánh trước kia cũng như tỉnh Khánh Hòa ngày nay. Hằng năm, chính quyền địa phương thường tổ chức Lễ phát thưởng, trao học bổng cho học sinh các cấp có thành tích học tập xuất sắc13.
Một số giá trị nổi bật của Văn miếu Diên Khánh:
Thứ nhất, Văn miếu Diên Khánh là bằng chứng cho chủ trương “văn trị” và chính sách khuyến học của nhà Nguyễn sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, năm 1802. Chủ trương, chính sách này phát triển và mở rộng đến tận Nam Bộ cũng là dấu ấn quan trọng về sự “chính thức hóa” tư tưởng Nho học trong đời sống xã hội của triều Nguyễn. Rất có thể đây cũng là phương cách để nhà Nguyễn hạn chế sự ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của các hình thức tín ngưỡng - tôn giáo du nhập từ phương Tây vào Việt Nam.
Thứ hai, không chỉ biểu đạt cho một dạng thức trong đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của cộng đồng cư dân mà Văn miếu Diên Khánh còn là không gian văn hóa tích hợp giữa yếu tố hành chính và yếu tố văn hóa cộng đồng khi vừa là nơi thờ Thánh (Khổng Tử) vừa là nơi sinh hoạt của giới Nho sĩ, lưu danh sĩ tử (thường có mối quan hệ sâu sắc với chính quyền phong kiến), vừa là nơi tổ chức lễ nghi của cộng đồng.
Thứ ba, Văn miếu Diên Khánh còn phản ánh quá trình diễn biến của lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cộng đồng dân cư. Dù trước hay sau Cách mạng Tháng Tám, bằng cách này hay cách khác, Văn miếu Diên Khánh vẫn gắn liền với lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, anh dũng chống giặc Pháp của người dân Diên Khánh.
Thứ tư, sự tồn tại của Văn miếu Diên Khánh qua nhiều giai đoạn lịch sử cho thấy dù ở thời đại, xã hội phong kiến hay thời kỳ dân chủ, hiện đại, giáo dục vẫn luôn được xem là trụ cột quan trọng để phát triển đất nước theo hướng bền vững. Điều đó cũng đồng nghĩa quan điểm xác lập vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn nhân lực trong chiến lược xây dựng, phát triển đất nước dù ở giai đoạn lịch sử nào.
Thứ năm, bố cục không gian cảnh quan, không gian thờ tự của Văn miếu Diên Khánh cho thấy những đặc điểm về cảnh quan kiến trúc của một công trình là biểu tượng của triết lý Nho học trong mối tương quan với phong cách kiến trúc dân gian của người bản địa.
Thứ sáu, việc Văn miếu Diên Khánh được di dời địa điểm trước sự tác động không mong muốn từ dòng chảy của sông Cái, cũng như Văn miếu từng được cộng đồng người dân sử dụng cho nhiều mục đích dân sự, quân sự khác nhau, đã cho thấy tư duy linh hoạt, khả năng thích nghi, thích ứng của cộng đồng cư dân trong việc khai thác một thiết chế văn hóa mang màu sắc tín ngưỡng. Đây cũng là điều kiện để đảm bảo Văn miếu Diên Khánh phát huy sự đa dạng về chức năng văn hóa - xã hội - chính trị của mình trong thực tiễn.
3. Giải pháp nâng cao vai trò của cộng đồng để phát triển du lịch tại
Văn miếu Diên Khánh Lấy cộng đồng gắn với di sản văn hóa Văn miếu làm trọng tâm, xin gợi mở một số giải pháp nâng cao vai trò của cộng đồng để phát triển du lịch tại Văn miếu Diên Khánh trong thời gian tới:
Một là, nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của Văn miếu: đây là điều kiện cốt lõi để cộng đồng gắn với Văn miếu Diên Khánh tham gia một cách hiệu quả, tích cực với vai trò là chủ sở hữu của di sản trong việc khai thác giá trị của Văn miếu để phát triển du lịch. Để cộng đồng hiểu sâu sắc hơn về giá trị của Văn miếu Diên Khánh, cơ quan nhà nước có thể tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo cộng đồng; đưa nội dung giáo dục về Văn miếu vào trường học thông qua nội dung giáo dục địa phương; xây dựng bộ tài liệu như sách, tờ gấp, video...
Hai là, phát huy vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn, phát huy và khai thác giá trị của Văn miếu Diên Khánh. Điều này được thể hiện qua các phương thức tiến hành cụ thể như:
- Chuyển từ mô hình quản lý hành chính hiện hành sang mô hình “đồng quản lý” giữa chính quyền - cộng đồng - doanh nghiệp (du lịch). Thành lập Ban Quản lý cộng đồng Văn miếu Diên Khánh gồm đại diện người dân địa phương, các dòng họ có gắn bó với di tích, các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp du lịch và chính quyền. Ban này tham gia việc đề xuất kế hoạch khai thác di tích; giám sát hoạt động tu bổ, sử dụng di tích; tổ chức lễ hội, sự kiện; tiếp nhận và phân phối lợi ích từ du lịch. Đây là giải pháp tạo cơ chế ra quyết định tập thể, tăng tính chủ động và trách nhiệm của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
- Chuyển hóa cộng đồng thành chủ thể sáng tạo sản phẩm du lịch văn hóa. Để làm được điều này, trước hết cần tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn về hướng dẫn viên cộng đồng, kỹ năng giao tiếp du lịch. Các sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch cần khai thác sâu các giá trị Nho học, truyền thống hiếu học, tinh thần yêu nước gắn với Văn miếu Diên Khánh; các sản phẩm văn hóa như thư pháp, tranh dân gian, quà lưu niệm thủ công địa phương. Các tour thuyết minh, kể chuyện lịch sử sống động gắn với Văn miếu do người địa phương đảm nhận. Tổ chức các hoạt cảnh tái hiện lễ xướng danh, tế Khổng, lớp học Nho xưa, lễ vinh quy bái tổ. Giải pháp này giúp người dân không chỉ “tham gia” mà trở thành chủ thể sáng tạo, sở hữu sản phẩm du lịch, từ đó tăng lợi ích kinh tế và gắn bó với di tích.
Ba là, ứng dụng công nghệ số để kết nối cộng đồng - du khách - doanh nghiệp du lịch, trong đó fanpage về Văn miếu Diên Khánh là một giải pháp cần được đầu tư thực hiện. Kể các câu chuyện lịch sử - văn hóa gắn với Văn miếu Diên Khánh dưới dạng số hóa (VR/AR, audio guide, bản đồ số). Khuyến khích người dân trẻ, học sinh - sinh viên địa phương tham gia sản xuất nội dung số, trở thành “đại sứ văn hóa” để giới thiệu văn hóa địa phương, trong đó có Văn miếu Diên Khánh. Đây là giải pháp đột phá vì giúp cộng đồng mở rộng không gian hoạt động vượt ra khỏi phạm vi làng xã, kết nối trực tiếp với thị trường du lịch.
Bốn là, gắn phát triển du lịch Văn miếu Diên Khánh với các hoạt động giáo dục - lễ hội cộng đồng. Tổ chức thường niên các lễ hội văn hóa - giáo dục như: Lễ Khai bút đầu xuân, Lễ Tuyên dương học sinh giỏi, Ngày hội Nho học, Hội thi thư pháp, Ngày hội khuyến học... Xây dựng các chương trình trải nghiệm giáo dục di sản cho học sinh, sinh viên trong và ngoài tỉnh với người dân địa phương đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn. Đây là cách để gắn kết cộng đồng với du khách qua các hoạt động truyền thống - giáo dục, tạo tính bền vững cho phát triển du lịch gắn với giá trị của Văn miếu Diên Khánh.
Năm là, thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế một cách công bằng, minh bạch dựa trên cơ sở pháp lý rõ ràng giữa doanh nghiệp du lịch, nhà nước và cộng đồng gắn với di sản. Đây là giải pháp cốt lõi để tạo động lực kinh tế thực chất cho người dân, giúp họ có trách nhiệm hơn trong việc chủ động thực hiện các giải pháp để bảo vệ, phát huy và phát triển du lịch tại Văn miếu Diên Khánh.
4. Kết luận
Văn miếu Diên Khánh là một thiết chế văn hóa - tín ngưỡng tiêu biểu của vùng Nam Trung Bộ, phản ánh rõ nét chính sách “văn trị” và tư tưởng Nho học của triều Nguyễn. Tuy quy mô không lớn như Văn Miếu - Quốc Tử Giám nhưng Văn miếu Diên Khánh có vai trò quan trọng trong việc lan tỏa tư tưởng Nho giáo, đề cao truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo, đồng thời ghi dấu những biến động lịch sử đấu tranh cách mạng, đời sống văn hóa, xã hội của địa phương.
Di tích Văn miếu Diên Khánh chứa đựng nhiều giá trị văn hóa - lịch sử - kiến trúc độc đáo, thể hiện sự giao thoa giữa tư tưởng Nho học với phong cách kiến trúc bản địa. Bố cục không gian thờ tự, cách thức sử dụng linh hoạt qua các thời kỳ chiến tranh, giáo dục và sinh hoạt cộng đồng cho thấy đây không chỉ là nơi thờ tự mà còn là trung tâm văn hóa - xã hội quan trọng của cư dân vùng Diên Khánh.
Các công ước quốc tế (như ICOMOS, UNESCO) và Luật Di sản văn hóa hiện hành của Việt Nam đều khẳng định vai trò trung tâm của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy giá trị của di sản gắn với phát triển du lịch văn hóa. Cộng đồng địa phương vừa là chủ thể gìn giữ ký ức, thực hành văn hóa, vừa là lực lượng tham gia trực tiếp vào khai thác di tích phục vụ du lịch. Việc phát triển du lịch bền vững tại Văn miếu Diên Khánh cần được xây dựng trên cơ sở đồng quản lý, tôn trọng quyền và trách nhiệm của cộng đồng.
Để phát triển du lịch văn hóa tại Văn miếu Diên Khánh một cách bền vững, cần triển khai đồng bộ các giải pháp gắn với cộng đồng như: nâng cao nhận thức cộng đồng, chuyển đổi mô hình quản lý, phát huy vai trò sáng tạo của người dân, ứng dụng công nghệ số, tổ chức lễ hội - giáo dục gắn với di tích, xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng. Những giải pháp này giúp cộng đồng trở thành chủ thể thực thụ, đảm bảo bảo tồn được giá trị văn hóa của Văn miếu Diên Khánh.
Chú thích:
1 Trừ Văn miếu Diên Khánh được đặt ở cuối cùng vì là khách thể nghiên cứu của bài viết, các Văn miếu (Văn Thánh miếu) còn lại trong phần này được sắp xếp trình tự ABC theo tên riêng của Văn miếu.
2, 3, 8, 10 Nguyễn Như Ý (Chủ biên, 2017), Từ điển văn hóa, lịch sử Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr. 1203, 1205, 1208, 1206-1207.
4, 5 Nguyễn Hồ Phong (Chủ biên, 2025), Di sản văn hóa tại một số tỉnh, thành ở Việt Nam trước khi sáp nhập, NXB. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 175-176, 116-117.
6 Lâm Hiếu Trung (Chủ biên, 1998), Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, NXB. Đồng Nai, tr. 156-157.
7 Cục Du lịch Việt Nam: https://vietnamtourism. gov.vn/post/60423, truy cập ngày 22/9/2025.
9 Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long: https:// vinhlong.gov.vn/, truy cập ngày 22/9/2025.
11, 12, 13 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa, Hồ sơ Di tích Văn miếu Diên Khánh.