Hai vĩ nhân Hegel và Feuerbach tuy thuộc vào hai thế hệ cách xa nhau nhưng trực tiếp hoặc gián tiếp đều là học trò của người cao tuổi nhất là Goethe (1749-1832). Tuy không phải là giáo sư đại học nhưng Goethe còn lớn hơn thế. Ông là trang sư, chủ bút tờ báo, Ủy viên Hội đồng Tư vấn tối cao của Đại công quốc Weimar, phụ trách các vấn đề tài chính với hàm Bộ trưởng. Nhưng điều đó có lẽ vẫn mang màu sắc tiểu tiết và bề ngoài. Đóng góp bản chất quan trọng nhất của ông là về văn học, nghệ thuật, nhưng không phải chỉ về sáng tác mà là lý luận, phê bình và nghiên cứu lịch sử nghệ thuật. Cũng ít người biết ông còn là nhà vật lý chuyên nghiên cứu về quang học và khoáng sản. Ông có dáng dấp một nhà bách khoa, bậc thầy của thời đại trên nhiều phương diện, từ xã hội đến tự nhiên, đồng thời rất quan tâm đến các thế hệ nối tiếp.
Hegel (1770-1831) nhỏ hơn bậc đại sư hai mươi mốt tuổi. Hai người quen biết và giao thiệp với nhau từ năm 1803 và duy trì mối quan hệ suốt gần ba mươi năm sau đó. Có những lá thư ngắn của Goethe trao đổi về vấn đề quang học (thư ngày 13.4.1821) hoặc đề nghị Hegel trực tiếp hướng dẫn luận văn về Faust cho một sinh viên (thư ngày 9.5.1827)… Đặc biệt, hiện còn bản gốc bức thư đầu tiên (đề ngày 29.9.1804) mà Hegel nhờ Goethe với uy tín học thuật cao rộng sẽ vận động đề cử học hàm Phó Giáo sư cho bản thân mình: “Xin được cho phép tôi với lòng tràn đầy chân thành kính gửi đến Ngài một lời thỉnh cầu nhỏ bé. Sở dĩ tôi dám mạnh dạn nêu ra sự thỉnh cầu cụ thể này không những bổ ích cho việc phát huy những năng lực hoạt động mà tôi rất nhiều hi vọng, đồng thời tôi còn tin tưởng sâu sắc rằng những sự việc then chốt nào trong lợi ích của nền đại học của chúng ta ngày nay đều phải biết chờ đợi vào sự quan tâm của Ngài. Được biết một đồng nghiệp sắp được ân huệ lên chức danh Giáo sư triết học làm cho tôi phải suy nghĩ với tư cách một giảng sư mời bên ngoài cao tuổi nhất của trường đại học này, phải mạnh dạn hướng đến sự quan tâm của Ngài. Nếu nhà đương cục tối cao để dành vinh dự cho người khác, thì tôi e rằng phải chăng năng lực của tôi trong trường đại học này rất có khả năng bị hạn chế. Tất cả chúng tôi khi gặp phải những sự việc liên quan đến lợi ích trường đại học cùng những cơ cấu của nó, thì hãy nên trông đợi đến Ngài. Chính vì thế đang lúc nhà đương cục tối cao quyết định số mệnh mới của giáo sư triết học, tôi đành mạnh bạo gửi đến Ngài những lời thỉnh cầu, mong được với tấm lòng đầy ân huệ, Ngài sẽ tiến cử đến tôi. Trong suốt ba năm với tư cách giảng sư mời ngoài, tôi tin chắc rằng chí ít là từ mùa đông năm ngoái, số người đến nghe giảng không hề có gì không bằng lòng, còn trong mùa đông sắp đến, tôi sẽ tận lực tranh thủ càng nhiều người đến nghe giảng hơn nữa. Trong mùa đông này, tôi sẽ cố gắng hoàn thành một tập bài giảng, mục đích của việc trước tác này là xử lý thuần túy khoa học đối với triết học, và nếu cho phép thì sẽ kịp thời kính gửi đến Ngài. Như thế tôi có thể hoạt động độc lập không phải cứ có việc gì cũng làm phiền đến Ngài. Nếu nhà đương cục tối cao khẳng định với suy nghĩ như vậy, khiến tôi khỏi phải xếp sau người khác, tôi sẽ ra sức đền đáp”1.
Lời thư tuy khiêm tốn nhưng tự tin và thẳng thắn, đầy sức thuyết phục, bởi thế thành công là điều dễ hiểu. Từ đó, mỗi lần Hegel giảng bài đều chật cứng người nghe khiến cho Schopenhauer không khỏi ghen tức. Nhưng rồi cũng đến lúc lịch sử phải điều chỉnh vị trí của Hegel, mà lại do chính người học trò đã từng sùng bái ông tạo nên.
Feuerbach (1804-1872) chính là người học trò ấy. Năm 1828, khi chuẩn bị thi tốt nghiệp đại học, ông đệ trình lên bậc sư phụ kính mến nhất là Hegel bản luận văn kèm theo một bức thư đề ngày 22.11.1828: “... Tuy chưa được phép, tôi đã gửi bản luận văn này đến Quý thầy không phải vì có giá trị gì đặc biệt... Tôi đã từng nghe Quý thầy giảng bài khá lâu trong hai năm ở Berlin. Vì thế tôi tâm nguyện có dịp sẽ bày tỏ tấm lòng không chỉ qua hành động, ngôn ngữ và tình cảm bên ngoài mà chỉ có thể phải thông qua công trình. Nhưng công trình này do tiếp thu tinh thần của Quý thầy mà viết nên, phải xứng danh là công trình của học trò của thầy, hơn nữa phải thỏa mãn với yêu cầu của mọi người trực tiếp nêu ra. Về công trình của tôi, nếu nói luận văn có thể gọi là công trình, thì tôi cho rằng nhiều khuyết điểm đáng lẽ phải tự phát hiện. Nhưng thiếu sót và khuyết điểm của một bản luận văn có thể vì phạm vi và mục đích của nó hạn hẹp, ngôn ngữ nghèo nàn mà được thông cảm, nhất là một số ít luận văn triết học càng được thông cảm, nên tôi vẫn nộp luận văn đến Quý thầy, thì có lẽ cũng thông cảm được. Bởi vì tôi cũng ý thức rằng xét như một chỉnh thể thì bản luận văn rất giàu tinh thần tư biện, mặc dù do người khác tạo nên một số phiến đoạn, nhưng cơ bản đó là thành quả đã kinh qua tự nghiên cứu. Nó rất sinh động, rất bản chất phi hình thức, do tự thân nắm bắt được tinh thần và giàu sức sáng tạo, chứ quyết không tùy tiện cóp nhặt rồi thể hiện những tư tưởng và khái niệm hàm chứa trong những trước tác và bài giảng của Quý thầy. Bởi vì tôi ý thức được rằng hình ảnh của Quý thầy đã ăn sâu và bừng khởi trong tim tôi”2...
Tuy nhiên, từ những năm 30 trở đi, thái độ của Feuerbach thay đổi hẳn. Thông thường, kính yêu và ngưỡng mộ thì thầy nói gì cũng đúng, cứ thế mà sao đi chép lại, Feuerbach không thuộc trong loại học trò này. Chính vì thực lòng ngưỡng mộ, không hề có chút vụ lợi, Feuerbach đọc từng trang sách, nghiền ngẫm từng câu chữ, đối tượng khảo sát hiện lên trọn vẹn và cả từng quá trình, không hề bỏ qua bất cứ điều gì trong bất cứ lúc nào. Từ đó mà Feuerbach không thể không làm lộ rõ bản chất duy tâm trong ý niệm tuyệt đối của Hegel. Cuối những năm 30, trong thư gửi bạn, Feuerbach lại vạch sâu thêm loại nhân sinh quan duy ngã độc tôn của Hegel: “Ý niệm tuyệt đối không phải là cái gì khác, mà là Giáo sư tuyệt đối. Ông ta dùng triết học để khởi nghiệp. Với học hàm Giáo sư, ông ta sẽ tìm được hạnh phúc và sứ mệnh tối cao. Lấy chỗ đứng trên bục giảng làm chỗ đứng trong thế gian và vũ trụ”3.
Phê phán triệt để lập trường duy tâm Hegel là đóng góp to lớn của Feuerbach vào lịch sử triết học. Tiếc rằng nó phải đứng song song bên cạnh với khuyết điểm không nhỏ là sự phủ nhận luôn phép biện chứng rạng rỡ của Hegel mà Marx và Engels rất không đồng tình. Xem ra các đại danh sư xưa kia mà cũng khó toàn bích, huống chi các thế hệ thầy trò hậu sinh chúng ta ngày nay.
Chú thích:
1, 2, 3 Triết nhân đích tâm linh đối thoại, Thiểm Tây nhân dân xuất bản xã, tr. 101, 11, 14.