Khi đang ở độ tuổi sung sức nhất của đời người, nhà thơ Nguyễn Quang Hưng khởi đầu đã chọn cách cầm bút như một “quá trình thanh lọc bản thân của nhà văn”. Đến nay anh đã có 14 đầu sách ở tuổi 45.
Trong chiếc túi thời gian của một đời người thì anh còn khá giàu có thời gian của kim giây, kim giờ để sáng tạo thi ca và tản mạn văn chương. Tập “Nguyễn Quang Hưng 68” (NXB Hội nhà văn, 2021), hay hiểu thơ lục bát Nguyễn Quang Hưng, nếu thử làm một phép trừ cho 23 năm làm thơ tính đến nay, trong đó có hơn 20 năm viết báo, trừ đi 10 năm chỉ để đi và suy nghĩ thì 13 năm sau, gần như mỗi năm Nguyễn Quang Hưng ra mắt một tập sách: thơ, tản văn, ký chân dung...
Chàng trai trẻ Hà Đông, vốn gốc kinh kỳ xưa, có nguyên quán phố cổ Hàng Mành, phố xưa nổi tiếng với nem cua bể, nơi mà người Hà Nội vẫn thường hay đãi đằng khách muôn phương món ngon nhất từ trước đến nay. Món ngon này không chỉ đối với kiều bào Việt Nam ở xa Tổ quốc, và khách quốc tế cũng từng khao khát nếm vị nem Hà Nội. Và hơn thế, nơi phố Hàng xưa vẫn còn bán mành treo cửa, dù phố đã bước qua cả thế kỷ cũ vẫn không hề thay đổi là bao.
Gốc của một nhà thơ như thế, không thể hỏi anh vì sao viết đắm đuối với tình yêu không chỉ Hà Nội phố, Hà Nội cây và mùi hương hoa ở đất Hà thành. Bốn mùa của kinh kỳ Thăng Long cũng khác biệt rất rõ với Hải Phòng, Đà Lạt hay kinh đô Huế. Nguyễn Quang Hưng lựa chọn viết về Hà Nội, nhà thơ ước mơ làm sợi chỉ hồng để thêu ngũ sắc kinh đô bằng thơ: “Cho tôi làm sợi chỉ hồng/Thêu vào ngũ sắc Thăng Long một lần”. Đấy là giấc mơ hoa của người thành phố, và thơ vẽ phố lại bằng cách nhuộm màu khác: “Lấy phù sa viết tên đường/Nhuộm lên cho thắm phố phường hôm mai”.
Và anh thuộc Hồ Gươm như thuộc thềm cửa nhà mình. Khi nhìn mưa “phủ vàng sắc lá còn non”, tứ thơ gợi mở: “Như vừa rụng xuống nên còn xót thương/Mờ xa loáng thoáng trong sương…”.
Khi đi xa Hà Nội có hai điều người kinh kỳ Thăng Long day trở nhất là, nỗi nhớ hồ Gươm và nỗi nhớ sông Hồng. “Ngồi trên cao thấy ngang sông/Dòng nâu nghiêng thả sắc hồng trên mây”, và từ sông anh nhìn thấy: “Chợt tôi nhìn thấy tôi trong lá vàng/Như chưa từng biết hoang tàn…”.
Người Hà Nội thường rất tự hào về hồ Gươm, về sông Hồng làm ẩm ướt cả hồn mình, cũng như người Huế có hò sông Hương, khác, với Hải Phòng có bến Bính, sông Cấm. Nghĩa là người viết đã tự vấn về quê hương sinh ra mình thật đặc biệt, như đường lên nẻo xanh Ba Vì, nơi có làng trồng thuốc nam rất quý để cứu người, hay như thôn Mụ Lá ở miền Thanh Oai vốn có nghề thuốc giàu ân đức từ xa xưa, nơi mà: “Thương nhau cõi thế nổi trôi/ Là phương thuốc quý một đời mẹ cho”.
Nguyễn Quang Hưng là người giống như vị “hòa thượng mê đủ thứ” anh mê hội họa, mê dân ca, là người hát quan họ say đắm, lãng mạn. Ai đã nghe Hưng hát thì đều giật mình, không rõ nhà thơ này đã lọ mọ học quan họ từ khi nào ấy nhỉ? Hẳn rồi hát rồi trân quý chẳng riêng quan họ mà bao nhiêu điệu hồn dân tộc: “Thì tôi sênh phách gần xa/ Ngũ cung đàn địch gửi qua đón người/ Này nghe cho trọn một nhời/ Để còn rưng rức lại hồi thiên thanh…”.
Người thơ còn mê nhưng nét kiến trúc của chùa chiền cổ. Khi viết về chùa Mét nhân đi thực tế Hải Phòng, câu chữ cũng mang ẩn ức làng quê cũ: “Nhìn trong sơn thếp bạc vàng/Nghề xưa chạm khác niết bàn làng quê/Thợ xưa còn đấy hay về/Xin chờ cho gặp để nghe một lời”. Bước chân đi qua chùa Mét hay dừng ở Ninh Bình, nhà thơ tự cho mình được giàu có vì thiên nhiên nước Việt tuyệt đẹp, mà không chỉ người Việt tận khám phá, lữ khách quốc tế cũng mơ như đến đây để trải nghiệm: “Tôi giàu có nữa từ đây/Gia tài ký thác đất này trời cho”.
Khi nghĩ ngợi về sự nhọc nhằn của nhà văn, người sống bằng nghề cầm bút, nghèo khó, cay cực mà không bỏ cày ải trên chữ, anh viết:”Đi gửi lại giấy quỳ vàng/Người sau còn mở dát sang nỗi buồn”.
Lục bát của Nguyễn Quang Hưng ở những tập thơ khác, viết trước đó rất lâu, có những câu thật hay, bài “Chị chị em em” viết năm 1999, câu lục câu bát đắm đuối mà không lụy tình, ở tập “Để tình yêu đánh lưới” với ba người bạn sinh viên nữa, in năm 2001: “Yếm kia buộc chị với chồng/Buộc em với luống cải ngồng xót xa”. Dụng ý chắt lọc và đẩy tứ thơ như thể rất thường tình, vốn người đời xem mặt nhau không lạ mà mộng mị như giấc mơ hoa: “Tìm về xem mặt cơn mơ/Gặp nhau thảng thốt như vừa chiêm bao” (Bài thơ “Quan họ”, tập thơ “Mùa Vu Lan, 2011”).
Còn hai câu lục bát trong bài “Mẹ đứng ngoài sân”, trong tập “Chia ngũ cốc” viết năm 2015, tôi đọc ở bảo tàng sách của nhà thơ Đỗ Thị Tấc, mãi tận Lại Châu năm nào: “Dù mưa dù gió muôn ngàn/Xin cho gồng gánh cũng cam một mình”. Hay lục bát trong lời ru đồng đội cũng phiêu lãng mà ru: “Lời ru mây trắng trên trời/Để người sống vẫn cất lời thương nhau” (tập thơ “Cột mốc trong người”, 2017).
Với một người làm báo chuyên nghiệp, nghề ký giả đã tiêu tốn khá nhiều thời gian cho công việc tổ chức, biên tập, cho chuyên mục chuyên đề hàng tuần, hàng tháng…, Nguyễn Quang Hưng vẫn bền bỉ với thơ lục bát, với thể loại khác như ký chân dung, tản văn, với tình yêu quê hương, mà nâng niu ngõ phố Hà Nội trong lòng bàn tay. Ở sự phát hiện, nhiều góc nhìn, có vẻ mộc mạc đằm thắm của đứa con có bậc sinh thành là người chốn Hà thành, anh còn trẻ, sống khiêm nhường, dễ hòa nhập với môi trường sống của nhân dân, yêu những tinh hoa nghề Hà Nội, những làn điệu dân ca đắm say. Túi thời gian của đời người quả là có hạn, nhưng với tuổi trẻ đang cầm trên tay, nhà thơ Nguyễn Quang Hưng biết trân trọng gìn giữ, và anh còn là người biết tiêu thời gian thật hữu ích cho thi ca cho sự sáng tạo tác phẩm của đời mình.
Chú thích:
* Đọc thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Hưng