TỰ SỰ TRUY TÌM SỰ THẬT TRƯỜNG HỢP TIỂU THUYẾT ĐƯỜNG CÂY SỒI CỦA TRƯƠNG VỸ

Bài viết khái quát vấn đề sự thật, đặc điểm của mô hình tự sự truy tìm sự thật, đồng thời phân tích tác phẩm Đường Cây Sồi của Trương Vỹ như một trường hợp tiêu biểu cho mô hình tự sự truy tìm sự thật trong tác phẩm không thuộc thể loại tiểu thuyết trinh thám.

Con người có nhu cầu mãnh liệt đối với sự thật, ngay cả khi sống trong thời đại “hậu sự thật” thì nhu cầu được biết sự thật vẫn chưa bao giờ thuyên giảm. Bên cạnh tiểu thuyết trinh thám, nhiều loại tác phẩm văn học khác đã khai thác sức hút của sự thật và quá trình tìm kiếm sự thật, tạo nên mô hình tự sự truy tìm sự thật. Bài viết này trình bày khái quát về vấn đề sự thật, đặc điểm của mô hình tự sự truy tìm sự thật, đồng thời phân tích tiểu thuyết Đường Cây Sồi1 của nhà văn Trương Vỹ (Trung Quốc) như một trường hợp tiêu biểu cho mô hình tự sự truy tìm sự thật trong tác phẩm không thuộc thể loại tiểu thuyết trinh thám.

1. Tự sự truy tìm sự thật

Theo Từ điển tiếng Việt, “sự thật” chỉ “cái có thật, cái có trong thực tế” và “điều phản ánh đúng hiện thực khách quan, chân lý”2. Như vậy, sự thật là thứ tồn tại khách quan và có thể kiểm chứng được thông qua đối chiếu với thực tế. Sự thật có thể là chân tướng của sự việc, là động cơ thực sự của hành động, là nguyên nhân căn bản dẫn đến sự xuất hiện của một hiện tượng nào đó… Có sự thật của cá nhân, sự thật của cộng đồng, sự thật lịch sử, sự thật tâm hồn… Trong cuộc sống, không phải lúc nào sự thật cũng hiển lộ, một số sự thật còn bị che giấu, trở thành những “bí mật”, thôi thúc con người tìm kiếm. Có lẽ chính nhu cầu này đã thúc đẩy sự ra đời của mô hình tự sự truy tìm sự thật. Có điều, sự thật trong tác phẩm văn học không phải lúc nào cũng đòi hỏi phải quy chiếu vào thực tại. Ngay cả trong văn học phi hư cấu – loại hình văn học coi sự thật là hạt nhân – thì không phải sự thật nào cũng có thể chứng thực được bằng cách đối chiếu với thực tế khách quan, thậm chí nó còn được coi là sản phẩm của diễn ngôn3. Trong văn học hư cấu, sự thật càng không đòi hỏi quy chiếu vào thực tại; nhà văn chỉ tạo ra “ảo giác về sự thật”, làm cho sự kiện, nhân vật có “vẻ giống thật”. Trong văn học, hư cấu không phải là bịa đặt mà nhằm tạo nên thế giới nghệ thuật sống động như thật, tạo ra ý nghĩa. Sự thật trong tác phẩm hư cấu không chỉ là sự thật của các sự kiện lịch sử có thể xác minh, mà còn là sự thật được kiến tạo thông qua quá trình tự sự, là sự thật của trải nghiệm đọc. Không giống nhà sử học, nhà báo, nhà văn không cần cung cấp bằng chứng chứng minh sự tồn tại khách quan của các sự kiện được nhắc đến trong tác phẩm. Mặc dù vậy, sự thật trong văn học không hoàn toàn tách bạch với sự thật lịch sử khách quan. Khi đọc tác phẩm, người đọc cũng thường có xu hướng liên hệ sự kiện, nhân vật trong tác phẩm văn học với sự kiện, nhân vật trong đời sống. C. S. Lewis từng nói: “Ở những tuyệt tác của George Eliot và Tolstoy, tất cả đều dễ thường có thật và đều điển hình cho đời người. Những điều này là những việc có thể xảy đến với bất kỳ ai. Những điều giống như thế có khả năng đã xảy đến với hàng nghìn người. Đây là những người mà một hôm bất kỳ chúng ta có thể sẽ gặp. Chúng ta có thể không ngại mà nói rằng “Đời là thế này đây””4.

Bản thân sự thật có một sức hấp dẫn riêng. Trong đời sống thường nhật, sự tò mò về đời tư của người nổi tiếng xét từ một góc độ nào đó cũng chính là sự tò mò về sự thật ẩn sau lớp hào quang lấp lánh. Trong lĩnh vực văn học, sức hấp dẫn của loại hình văn học phi hư cấu chủ yếu xuất phát từ sự thật được nhắc đến. Nhà văn chỉ cần nói ra sự thật bị lãng quên, bị che lấp cũng đã tác động mạnh mẽ đến người đọc. Người đọc từng sững sờ trước sự thật về thảm họa hạt nhân trong Lời nguyện cầu từ Chernobyl5 của Svetlana Alexievich, sự thật về cuộc sống của người lính bình thường trong Hồi ức lính6 của Vũ Công Chiến, sự thật hằng ngày trong Và những chiếc xe chở “xác chết”7 của Nguyễn Quang Thiều…

Đối với văn học hư cấu, sức hấp dẫn không chỉ ở bản thân sự thật được nhắc đến mà còn ở quá trình truy tìm sự thật đó. Mô hình tự sự truy tìm sự thật là hình thức tạo dựng các cuộc truy tìm sự thật trong tác phẩm văn học. Thông qua các phương thức nghệ thuật đặc thù, nhà văn tái hiện quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện sự thật bị khuất lấp. Mô hình tự sự này được khai thác triệt để ở thể loại tiểu thuyết trinh thám. Tzvetan Todorov từng đánh giá và rút gọn 20 quy tắc viết tiểu thuyết trinh thám mà S. S. Van Dine đã nêu, trong đó có quy tắc: “Cuốn tiểu thuyết phải có nhiều nhất là một thám tử và một thủ phạm, và ít nhất là một nạn nhân (một xác chết)”; “Cần tránh các tình thế và các giải pháp tầm thường, tẻ nhạt”8. Như vậy, tiểu thuyết trinh thám tái hiện hành trình truy tìm thủ phạm, truy tìm sự thật liên quan đến các vụ án. Nhân vật thám tử giữ vai trò điều tra, quan sát, phân tích, suy luận từ các manh mối. Nạn nhân và thủ phạm gắn với một vụ án đã xảy ra, còn quá trình điều tra của thám tử là quá trình lần theo manh mối tìm ra sự thật. Có thể khái quát mô hình tự sự truy tìm sự thật như sau: (1) Có nhân vật luôn quan sát, phân tích, suy luận nhằm tìm ra sự thật. Đối với tác phẩm không thuộc thể loại tiểu thuyết trinh thám, nhân vật truy tìm sự thật không phải là một thám tử – chuyên gia phá án, mà có thể là những người bình thường nhưng mang khát vọng tìm ra sự thật khuất lấp; (2) Có sự kiện, hiện tượng bất thường và quá trình tìm kiếm sự thật ẩn giấu. Sự kiện, hiện tượng đó có thể là một vụ án, một hiện tượng bí ẩn, một hành động khó hiểu…; (3) Kết thúc hành trình tìm kiếm sự thật là sự thật được tiết lộ toàn bộ hoặc một phần. Bản thân quá trình truy tìm sự thật mang lại một trải nghiệm đọc đặc thù. Nói như Viktor Shklovski trong Nghệ thuật như là thủ pháp: “Thủ pháp của nghệ thuật là thủ pháp biệt hóa các sự vật và là thủ pháp tạo ra một hình thức khó hơn, làm cho sự cảm thụ trở nên khó hơn và dài hơn, vì quá trình cảm thụ trong nghệ thuật mang tính mục đích, tự thân và phải kéo dài ra; nghệ thuật là sự cảm nhận cách làm ra sự vật, còn cái được làm ra trong nghệ thuật thì không quan trọng”9.

2. Tự sự truy tìm sự thật trong Đường Cây Sồi của Trương Vỹ

2.1. Người kể chuyện truy tìm sự thật

Người kể chuyện trong Đường Cây Sồi có thể coi là biến thể của nhân vật thám tử trong tiểu thuyết trinh thám. Anh ta không xuất hiện với tư cách một chuyên gia phá án mà là một thanh niên từ nông thôn ra thành phố, lấy vợ và có nhiều bạn bè ở thành phố. Anh từng làm việc tại một viện nghiên cứu địa chất, sau đó chuyển sang một tòa soạn tạp chí và đặc biệt hứng thú với việc tìm ra những sự thật bị khuất lấp. Anh luôn tò mò, quan sát, phân tích, suy luận, truy tìm sự thật ẩn giấu sau những sự kiện, hiện tượng bất thường và bí ẩn mà anh được nghe, được thấy: “Tôi có sự tò mò vô tận về Đường Cây Sồi. Giống như thám hiểm một nơi thực sự kỳ lạ, những ngày thì vô cùng cẩn thận, tốn thời gian công sức nhưng lại khó vào được chỗ sâu, phần lớn chỉ loanh quanh ở bên lề”10. Anh băn khoăn, trăn trở trước cái chết của người thanh niên có gương mặt xanh xao tên Bạch Điều và sự biến mất khó hiểu của Trang Chu; đồng thời tò mò về sự mất tích của giáo sư Hứa Lương cùng bí ẩn của tòa lâu đài bị quỷ ám… Anh ta vừa là người kể chuyện vừa là một nhân vật với số phận riêng, vì thế, việc kể lại quá trình truy tìm sự thật về người khác lại làm lộ ra sự thật về tâm hồn của chính mình: một thanh niên từ nông thôn ra thành phố, lấy vợ là con nhà quyền thế, lòng đầy tự trọng nhưng cũng không ít tự ti, luôn mang một bí mật khó nói liên quan đến cô gái mắt sâu.

Người kể chuyện trong Đường Cây Sồi là người kể chuyện hạn tri; anh không có sự lạnh lùng, lý trí và khả năng suy luận sắc sảo như nhân vật thám tử trong tiểu thuyết trinh thám mà chỉ là một người bình thường, bị cảm xúc chi phối và thường xuyên gặp bế tắc trong quá trình truy tìm sự thật. Nhân vật “tôi” hoang mang không thể hiểu tại sao Trang Chu – một người tài hoa xuất chúng, được mệnh danh là “Vương Tử ở Đường Cây Sồi” – lại bỏ nhà đi lang thang: “‘Ôi!’ Tôi thốt lên một tiếng. Trong lòng tôi đang nghĩ về giá trị của thông tin này, về độ thật giả của nó. Tôi nghĩ nếu là sự thật, thế thì hành động của anh ấy rốt cuộc là có ý gì? Nên biết rằng, “đả lưu lưu” có nghĩa là làm kẻ lang thang – Trang Chu chen lẫn vào trong đám người quần áo rách rưới trên đường phố sao? Tôi không thực sự tin. Chuyện này có lẽ hơi thái quá. Phương thức cực đoan này rốt cuộc đã hàm chứa nội dung gì, tôi còn phải suy nghĩ thêm nữa”11. Bế tắc của người kể chuyện trong hành trình truy tìm sự thật còn bị đẩy đến cực hạn khi đối diện với bí ẩn của tòa lâu đài và những lời đồn đại về lão yêu quái dâm đãng ăn thịt người. Nhân vật “tôi” biết được thông tin về tòa lâu đài và lão yêu quái từ nhiều nguồn khác nhau – từ những lời đồn đại, từ lời kể của cô gái mắt sâu và từ chính những gì anh nhìn thấy, cảm thấy: “Câu chuyện về lão yêu quái ở lâu đài, cô ấy đương nhiên là biết, nhưng cô kể hơi khác một chút so với lưu truyền thông thường, cô ấy nói lão yêu quái cuối cùng lại không chết, mà đã đội sư tử đá chạy mất, cứ thế đuổi theo cái “đầu thật” của mình”12. Chính sự bế tắc trong hành trình truy tìm sự thật của người kể chuyện đã hé lộ giới hạn trong nhận thức và khả năng tiếp cận sự thật của con người, mở ra một hứng thú khác đối với người đọc – hứng thú tìm hiểu sự thật về tâm hồn của người kể chuyện.

2.2. Sự kiện, hiện tượng bất thường và tổ chức truy tìm sự thật

Tiểu thuyết Đường Cây Sồi không xoay quanh một sự kiện bất thường – một vụ án – duy nhất mà đan cài nhiều sự kiện, hiện tượng bất thường; các cuộc truy tìm sự thật cũng chồng chéo, tạo thành một mạng tự sự phức tạp. Tiểu thuyết mở đầu bằng sự hiện diện của tòa lâu đài bị quỷ ám. Xoay quanh tòa lâu đài này là những lời đồn đại về lão yêu quái hung dữ và dâm đãng, là những hồn ma từ hàng trăm năm trước vẫn lẩn khuất không chịu rời đi, nhảy múa trêu người, lôi kéo con người vào lối sống ăn chơi hưởng lạc. Bên cạnh bí ẩn về tòa lâu đài, tiểu thuyết lại đưa ra một vụ án gây chấn động: Bạch Điều, một thanh niên tài hoa, xuất thân từ gia đình danh giá, đã tập hợp thanh niên trong thành phố đến tụ tập, ăn chơi tại tòa lâu đài rồi bị kết án tử hình; nhiều thanh niên khác cũng bị liên đới, trong đó có cô gái mắt sâu. Rốt cuộc thì hành vi của người thanh niên đó có đáng bị tử hình hay không? Ai là người đã tiết lộ thông tin về đám thanh niên ăn chơi đó với chính quyền? Tại sao người bạn thân nhất của nạn nhân – Trang Chu – sau khi Bạch Điều bị xử tử lại đột ngột từ bỏ cuộc sống sung túc, bỏ lại vợ con, sống cuộc đời lang thang hết nơi này đến nơi khác? Tại sao họa sĩ tài năng Khi Lâm nhất quyết không chịu gặp Trang Chu, không nhận sự giúp đỡ của anh dù cuộc sống vô cùng khốn quẫn, rồi cuối cùng nhảy lầu tự sát? Sự xuất hiện của cô gái mắt sâu cũng gợi lên biết bao băn khoăn cho nhân vật “tôi”, đẩy nhân vật “tôi” vào một cuộc truy tìm sự thật về cô – một cuộc truy tìm sự thật âm thầm mà đầy xao xuyến, day dứt. Cô là người bán bánh kẹo ở một cửa hàng quen thuộc, gần gũi và lãng mạn trong những buổi hẹn hò, nhưng lại có nhiều điều khó hiểu: hơi thở có mùi thuốc lá, tình cảm với nhân vật “tôi” và với Bạch Điều – người thanh niên có gương mặt xanh xao, đều không rõ ràng. Cô yêu nhân vật “tôi” hay yêu chàng thanh niên đó? Tại sao cô lại bị liên đới trong vụ án tháng 9, bị đưa đi cải tạo, và tại sao khi mãn hạn lại không trở về thành phố nơi trước kia cô hằng mơ ước? Rồi đến vụ mất tích bí ẩn của giáo sư Hứa Lương – nhân vật trí thức uyên bác, đáng kính. Vì sao giáo sư đang được mọi người trọng vọng lại đột nhiên bỏ nhà ra đi? Vì sao sau đó ông đột ngột trở về rồi lại bỏ đi? Cuối cùng là sự xuất hiện của một “Đường Cây Sồi” ở nông thôn mô phỏng “Đường Cây Sồi” ở thành phố, gắn với sự trỗi dậy của tập đoàn Hoàn Cầu đầy bí ẩn. Vì sao lại có một Đường Cây Sồi mô phỏng như vậy? Ai là người đứng sau tập đoàn Hoàn Cầu? Tập đoàn này đã dựa vào đâu để phát triển, ảnh hưởng của nó ra sao?... Các sự kiện bí ẩn liên tiếp xuất hiện kích thích sự tò mò của người kể chuyện và của người đọc.

Khi trần thuật quá trình truy tìm sự thật, Trương Vỹ vận dụng triệt để thủ pháp hé lộ dần manh mối; thủ pháp đánh lạc hướng dự đoán của người đọc và kết thúc bất ngờ; thủ pháp đan xen chồng chéo các mạch tìm kiếm sự thật. Thông tin liên quan đến bản chất của sự kiện bí ẩn được tác giả cung cấp từng chút một qua điểm nhìn hạn chế của nhân vật “tôi”. Nhân vật “tôi” tốt nghiệp một trường địa chất, rồi làm phóng viên, thích quan sát hiện tượng bề ngoài để tìm ra bản chất, nhưng anh chỉ có thể biết những gì mình trực tiếp chứng kiến hoặc được nghe kể gián tiếp từ người khác. Vì thế, khi anh kể lại, người đọc cũng chỉ tiếp nhận được lượng thông tin tương ứng. Chẳng hạn về vụ án tháng 9 đen tối, nhân vật “tôi” lờ mờ biết đến những cuộc tụ tập ăn chơi ở tòa lâu đài qua lời Trang Chu và qua hơi thở có mùi thuốc lá của cô gái mắt sâu. Thông tin về tòa lâu đài, về nhóm thanh niên tụ tập ăn chơi, về nguyên nhân khiến nhóm thanh niên này bị bắt và bị kết án được giải mã rất chậm, qua nhiều trang sách, qua nhiều lần gặp gỡ, quan sát, suy luận. Trong tác phẩm, tác giả thường xuyên để người kể chuyện tự đặt ra những nghi vấn mỗi khi xuất hiện một manh mối, chẳng hạn: “Tôi đang nghĩ về tháng 9 đen tối đó, giữa Trang Chu và Lý Mị, Khi Lâm, và người thanh niên mặt xanh xao đó rốt cuộc thì đã xảy ra chuyện gì – là Lý Mị vào thời khắc chí mạng nhất đã rắc thêm một nắm muối cuối cùng lên vết thương của “Vương Tử”, hay là trong đó còn đầy những khúc mắc phức tạp hơn? Tất cả đã trở thành quá khứ, chỉ có người trong cuộc mới có thể trả lời được, tuy nhiên họ hoặc đã ra sức che đậy, hoặc biến mất trong một thế giới khác, giữ miệng không nói…”13 Kiểu dẫn chuyện như vậy đã kích thích trí tò mò của người đọc. Bên cạnh đó, tác giả còn liên tục đánh lạc hướng người đọc bằng cách đưa ra những manh mối hoặc những giải thích có vẻ hợp lý, khiến cuộc truy tìm sự thật bị đẩy sang hướng khác. Điển hình nhất là cuộc truy tìm sự thật về việc Trang Chu bỏ nhà ra đi, sống cuộc đời lang thang, phiêu bạt. Nhân vật “tôi” luôn nghĩ rằng Trang Chu ra đi là vì không chịu nổi cuộc sống bình yên nhưng nhàm chán, muốn được tự do trải nghiệm những điều mới mẻ ở phương xa. Nhân vật “tôi” thậm chí còn không ít lần bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với hành động đó, bởi vì chính anh cũng luôn mang trong mình khát vọng được đi đến những vùng núi xa xôi, khoác ba lô, mang theo dụng cụ nghiên cứu địa chất và bước đi trên những hành trình bất tận. Để dẫn dắt người đọc lạc hướng xa hơn, Trương Vỹ còn kỳ công viết khá dài về một chuyến đi của nhóm bạn do Lữ Kình dẫn đầu đến vùng núi hẻo lánh. Trong chuyến đi này, dù là người thành phố, họ vẫn phải làm nhiều công việc chân tay để kiếm miếng ăn qua ngày, thậm chí còn gặp nhiều hiểm nguy… Chuyến đi của họ một lần nữa đánh thức khát vọng đi xa của nhân vật “tôi”: “Tôi nghĩ có tấm gương của Lữ Kình và Trang Chu như vậy, tôi sẽ tiến thêm một bước trong việc cáo biệt sự vâng lời và ngoan ngoãn quá mức của mình. Trong tương lai không xa, có lẽ tôi phải bước ra khỏi một ngưỡng cửa. Như vậy, tất cả những bận tâm không nói hết được, những khốn đốn mệt mỏi và các loại cấm kỵ, đều sẽ bỏ hết lại phía sau…”14 Ở nhà dõi theo hành trình của nhóm bạn, dù biết chuyến đi có nhiều gian khổ, cuối cùng nhân vật “tôi” vẫn không kiềm chế được và đuổi theo họ để tham gia hành trình. Thủ pháp đánh lạc hướng được đẩy đến tận cùng như vậy khiến người đọc hoàn toàn tin rằng Trang Chu bỏ nhà ra đi vì quá chán cuộc sống hiện tại. Người kể chuyện còn nêu ra một khả năng khác: vợ Trang Chu – Lý Mị – có quan hệ ngoài luồng: “Có một tin đồn truyền qua truyền lại trong đám bạn bè, nó không chỉ khiến người ta kinh sợ, mà còn tổn hại cực lớn đến Trang Chu: Lý Mị qua lại với một thiếu niên xấu xa trác táng trong thành phố này, hai người đã trên con đường tà đạo đi tương đối xa rồi”15. Thủ pháp đánh lạc hướng nhằm chuẩn bị cho một kết cục bất ngờ, đồng thời dẫn dắt người đọc vào hành trình suy tư về những khả năng có thể xảy ra trong cuộc sống. Bên cạnh đó, thủ pháp đan xen chồng chéo các mạch tìm kiếm sự thật đã khiến các manh mối luôn ở trong tình trạng vừa hé lộ vừa nhòe mờ, trì hoãn việc đưa ra đáp án cuối cùng, mang đến trải nghiệm rất đặc thù cho người đọc. Khi bí ẩn về tòa lâu đài chưa được giải đáp thì bí ẩn về cô gái mắt sâu đã xuất hiện; khi sự thật về cô gái mắt sâu đang dần hé lộ thì vụ án tháng 9 đen tối lại bùng nổ; khi câu hỏi về Trang Chu chưa có lời đáp thì cuộc tìm kiếm giáo sư Hứa Lương đã bắt đầu. Nhân vật “tôi” vừa tham gia vào từng cuộc truy tìm sự thật vừa bị tất cả các bí ẩn bủa vây. Thủ pháp này đã khiến người kể chuyện và người đọc luôn ở trong trạng thái băn khoăn, tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi liên tục xuất hiện. Có lẽ chính vì thế mà tiểu thuyết có thể níu giữ được người đọc trong suốt quá trình tự sự kéo dài hơn 600 trang sách, đồng thời nhắc nhở người đọc về sự phức tạp của cuộc sống.

2.3. Kết thúc quá trình truy tìm sự thật

Bên cạnh việc dụng công tổ chức trần thuật về quá trình truy tìm sự thật, Trương Vỹ cũng dành khá nhiều công phu cho việc trần thuật kết quả của quá trình đó. Trong Đường Cây Sồi, nhà văn sử dụng hai kiểu kết thúc quá trình truy tìm sự thật: sự thật được phơi bày toàn bộ và sự thật chỉ được tiết lộ một phần. Tuy nhiên, dù sử dụng kiểu kết thúc nào, hành trình truy tìm sự thật về một sự kiện, hiện tượng cụ thể cũng hé lộ một sự thật khác lớn hơn, khái quát hơn – sự thật về một thế hệ, thời đại và bản chất của con người.

Hành trình đi tìm sự thật về tòa lâu đài bị quỷ ám kết thúc một cách lấp lửng. Tòa lâu đài đó có ma thật hay không vẫn không có một đáp án cuối cùng. Ngay cả khi nhân vật “tôi” đã trực tiếp đến tòa lâu đài, trải nghiệm bầu không khí kỳ lạ nơi đó, cảm thấy dường như có điều gì đó bất thường đang nhập vào mình, thì những câu chuyện về hồn ma nhảy múa, về con quỷ dâm đãng đã chiến thắng cả thầy cúng, về khả năng nhập vào người khiến họ sa ngã vẫn không bị bác bỏ nhưng cũng không được xác nhận. Sự lấp lửng này lưu giữ không khí huyền bí cho tác phẩm, đẩy câu trả lời về phía người đọc, khiến người đọc suy ngẫm về một sự thật khác. Tòa lâu đài có sức hút khó cưỡng lại, không chỉ đối với đám thanh niên thành phố mà còn với biết bao thế hệ quyền quý từ trăm năm trước. “200 năm nay, luôn có những nhân vật đặc biệt sống ở Đường Cây Sồi, thế hệ này thay thế thế hệ khác, nhóm người này đuổi nhóm người khác. Nhóm nào cũng sống chết không chịu đi, đến nỗi có lúc không thể không động súng động pháo đuổi họ”16. Ngay cả khi đã chết, những hồn ma đó vẫn quyến luyến nơi này, không chịu rời đi. Chính vì thế, tòa lâu đài và cả khu nhà ở Đường Cây Sồi trở thành biểu tượng cho quyền lực, địa vị và lối sống hưởng lạc, có sức hút xuyên thế hệ. Nhóm thanh niên – thế hệ trẻ lớn lên sau cách mạng – đã không chống lại được sức cám dỗ của lối sống hưởng lạc, tụ tập ở tòa lâu đài uống rượu Tây, khiêu vũ, hành lạc thâu đêm. Rõ ràng, hành trình đi tìm sự thật về tòa lâu đài bị quỷ ám lại hé lộ sự thật rằng con người khó vượt qua sự cám dỗ của lối sống hưởng lạc, quyền lực và địa vị. Sự thật về tâm hồn của một bộ phận người trẻ tuổi cũng được hé lộ: họ được thừa hưởng cuộc sống sung túc mà thế hệ trước phải đánh đổi bằng bao mồ hôi xương máu nhưng lại rơi vào trạng thái hoang mang, mất phương hướng.

Sự thật về hai lần mất tích bí ẩn của giáo sư Hứa Lương được tiết lộ như sau: Lần thứ nhất, do biến động chính trị, ông phải bỏ trốn vào một khu rừng hẻo lánh để bảo toàn tính mạng; lần thứ hai, ông bỏ nhà ra đi là để tìm người con gái đã cưu mang mình trong những năm tháng lánh nạn. Trong thời gian lánh nạn, ông được một gia đình nông dân tốt bụng cưu mang. Sống cuộc đời bình lặng của một người nông dân và hoàn toàn cắt đứt với đời sống trí thức trước đây, ông nảy sinh tình cảm với con gái của người đã cưu mang mình. Hai người có con với nhau. Sống bên người vợ mới, ông vẫn canh cánh về người vợ đang ở thành phố đợi mình. Khi tình hình chính trị lắng xuống, ông từ giã người vợ hai và đứa con, quay trở về thành phố với người vợ đầu và hứa sẽ sớm quay trở lại. Về với người vợ đầu, ông vẫn canh cánh với lời hứa “sẽ sớm quay lại” với người đã cưu mang mình và quyết định bỏ nhà ra đi một lần nữa. Nếu lần thứ nhất ông bỏ nhà ra đi vì bất đắc dĩ, thì lần thứ hai là ông chủ động. Chỉ có điều, người vợ thứ hai đã quyết định đi tu để thoát khỏi những ràng buộc của thế gian, thoát khỏi ký ức về giáo sư Hứa Lương. Câu chuyện tưởng như chỉ là bi kịch cá nhân của một người đàn ông với hai người vợ, nhưng kết thúc hành trình truy tìm này lại phơi bày một sự thật lịch sử khốc liệt hơn: biến động chính trị đã đẩy con người vào bi kịch – bi kịch của giáo sư Hứa Lương kéo theo bi kịch của hai người phụ nữ khác. Bi kịch của giáo sư Hứa Lương cũng là bi kịch của cả một thế hệ trí thức bị cuốn đi trong bão táp lịch sử, không thể sống trọn vẹn với bất kỳ sự lựa chọn nào của mình, không được là chính mình.

Hành trình đi tìm sự thật về tập đoàn Hoàn Cầu và Đường Cây Sồi ở nông thôn kết thúc bằng sự phơi bày một sự thật đau lòng về mặt trái của công cuộc phát triển kinh tế nông thôn ở Trung Quốc. Nhân vật “tôi” ban đầu đến đây với mục đích đơn giản là tìm nhà tài trợ cho tạp chí, nhưng với con mắt của một phóng viên và khả năng quan sát của một nhà địa chất, anh dần dần phát hiện ra sự thật bị che đậy sau vẻ ngoài hào nhoáng của tập đoàn: việc bóc lột sức lao động trẻ vị thành niên, kinh doanh thân xác của các bé gái và tàn phá hoàn toàn môi trường nông thôn, để lại những dòng nước thải đen ngòm, bầu không khí độc hại cùng những căn nhà trơ trọi. Việc mô phỏng Đường Cây Sồi ở thành phố cũng là biểu tượng cho sự theo đuổi cái danh thượng lưu và cuộc sống hưởng lạc.

Cuộc truy tìm sự thật được tổ chức công phu nhất là cuộc truy tìm nguyên nhân dẫn đến cái chết của người thanh niên có gương mặt xanh xao Bạch Điều trong vụ án tháng 9 đen tối. Thế nhưng, sau tất cả những manh mối, những ngờ vực, những giải thích lệch hướng, sự thật cuối cùng bất ngờ được tiết lộ qua lời thú tội của Trang Chu: chính lòng đố kỵ trước tài năng và sức hút của Bạch Điều đã khiến Trang Chu “vô tình” tiết lộ thông tin về những cuộc tụ tập trong tòa lâu đài cho những người có thể làm hại bạn mình. Trang Chu tiết lộ thông tin không phải để đẩy Bạch Điều vào chỗ chết, nhưng hệ quả lại vượt ngoài tầm kiểm soát của anh. Khi Bạch Điều bị kết án, Trang Chu đã tìm đủ mọi cách để cứu bạn mình nhưng bất thành. Trang Chu đã bị người bạn Khi Lâm từ mặt, bị vợ coi thường, sống trong hối hận dày vò, đến mức phải bỏ nhà ra đi, sống lang thang và hành hạ thân xác như một cách tự trừng phạt, lấy sự mệt mỏi của thể xác để xoa dịu sự mệt mỏi của tâm hồn. Trong cái “đêm bí mật”, Trang Chu đã thú tội với nhân vật “tôi”: “Anh ấy lập bập trong miệng một lúc, rồi vội vã ném ra một câu: “Tháng 9 năm ấy, chính tôi đã bán đứng người đó…””17 Ngoài những lời đối thoại giữa Trang Chu và nhân vật “tôi”, Trương Vỹ dành riêng một mục khoảng năm trang cho lời độc thoại tự thú đầy dằn vặt, tự trách của Trang Chu: “Tháng 9 cứ như thế qua đi, tôi chẳng khác nào đã chết một lần cùng với “Bạch Điều”. Từ đó, ở Đường Cây Sồi, tôi giống như một cái xác không hồn. Khi Lý Mị và Ô Đầu ở cùng nhau, trái tim tôi nhỏ máu, đã không quan tâm được đến cô ấy nữa. Đây gọi là ác giả ác báo! Những đêm đó, tôi một mình trốn trong phòng nhỏ kêu lên, giống như nói nhảm, thực ra trong lòng chưa bao giờ sáng suốt như thế. Hết lần này lần khác tôi nói cho mình nghe: Trang Chu, mày nhớ đấy, một là, đừng bao giờ đố kỵ người khác, vì thế giới này rất rộng lớn, người tài hoa như thế nào cũng có, đố kỵ chỉ làm tổn hại chính mình…”18. Độc giả có phần hụt hẫng với kết thúc của hành trình truy tìm sự thật lớn nhất trong tiểu thuyết này, bởi có lẽ ai cũng nghĩ thảm kịch đó phải bắt đầu từ một âm mưu vô cùng thâm độc nào đó. Nhưng có lẽ, nhà văn muốn thông qua kết thúc này nhắc nhở người đọc: thảm kịch khốc liệt nhất đôi khi bắt nguồn từ một phút yếu đuối rất đời thường của con người. Lòng đố kỵ của Trang Chu đã vô tình dẫn đến cái chết của Bạch Điều, cô gái mắt sâu bị đi đày và nhiều thanh niên khác bị liên đới; không những thế, nó còn gián tiếp dẫn đến cái chết của họa sĩ Khi Lâm, bi kịch của Lý Mị…

Tác phẩm văn học, dù đậm chất kỳ ảo hoang đường như Tây du ký (Ngô Thừa Ân), Liêu trai chí dị (Bồ Tùng Linh), luôn dung chứa sự thật về con người, về xã hội, nhưng không phải tác phẩm văn học nào cũng được tổ chức theo mô hình tự sự truy tìm sự thật. Có thể nói, mô hình tự sự truy tìm sự thật là một mô hình tự sự đặc thù, mang lại hiệu quả thẩm mĩ riêng. Người đọc tò mò trước những sự kiện, hiện tượng bất thường, bị cuốn vào trạng thái căng thẳng, hồi hộp và trải qua nhiều ngộ nhận, vỡ lẽ trong suốt hành trình truy tìm sự thật của người kể chuyện. Kết thúc hành trình truy tìm sự thật không chỉ là sự thật của sự kiện, hiện tượng cụ thể được sáng tỏ, mà còn là sự lóe sáng của nhận thức và sự vỡ òa của cảm xúc. Đường Cây Sồi của Trương Vỹ đã vận dụng rất thành công mô hình tự sự truy tìm sự thật. Qua mô hình tự sự này, nhà văn đã phơi bày sự thật lịch sử, sự thật về tâm hồn con người, chỉ ra những vấn đề nhức nhối của thời đại để người đọc tiếp tục suy ngẫm. Cũng chính nhờ sử dụng mô hình tự sự truy tìm sự thật mà nhà văn đã dung hòa được văn học đặc tuyển và văn học đại chúng, đưa những triết lý thâm trầm sâu sắc đến được đông đảo người đọc.

 

 

 

Chú thích:
1 Tác phẩm này thuộc seri tiểu thuyết Bạn trên cao nguyên (gồm 10 bộ vừa độc lập vừa liên kết với nhau, giành giải thưởng văn học Mao Thuẫn lần thứ 8, năm 2011).
2 Hoàng Phê chủ biên (2016), Từ điển tiếng Việt, NXB. Hồng Đức, tr. 1109-1110.
3 Lưu Khang Khải (2012), Nghiên cứu quan niệm “chân thực văn học” hiện đại Trung Quốc (1899-1949), Luận án tiến sĩ, Đại học Tô Châu.
4 C. S. Lewis (2024), Một thử nghiệm phê bình, Nguyễn Công Nam dịch, NXB. Thế Giới, tr. 93.
5 Svetlana Alexievich (2016), Lời nguyện cầu từ Chernobyl, Nguyễn Bích Lan dịch, NXB. Phụ Nữ.
6 Vũ Công Chiến (2016), Hồi ức lính, NXB. Trẻ.
7 Nguyễn Quang Thiều (2012), Có một kẻ rời bỏ thành phố, NXB. Hội Nhà văn.
8 Tzvetan Todorov (2014), Thi pháp văn xuôi, Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch, NXB. Đại học Sư phạm, tr. 17.
9 Đỗ Lai Thúy biên soạn (2001), Nghệ thuật như là thủ pháp – Lý thuyết chủ nghĩa hình thức Nga, NXB. Hội Nhà văn, tr. 150.
10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 Trương Vỹ (2023), Đường Cây Sồi, Đỗ Văn Hiểu dịch, NXB. Hội Nhà văn, tr. 30, 207, 31, 418, 526, 93, 17, 562, 566.

Bình luận

    Chưa có bình luận