Trong tiểu thuyết Khu phố đã mất của Modiano, Ambrose Guise trở lại Paris sau quãng thời gian xa cách và đối diện với một thành phố đã thay đổi đến mức không thể nhận diện. Lời chiêm nghiệm của nhân vật: “Paris n’est plus Paris” (Paris không còn là Paris nữa) đã cho thấy Paris như một thực thể xa lạ đánh mất đi những chỉ dấu quen thuộc trong ký ức, giờ đây như một bản đồ bị tẩy xóa bởi sự hiện diện của những khối bê tông. Trong hành trình bước đi trên những con phố xa lạ, nhân vật như ở trong một bối cảnh sân khấu với phông nền mong manh của một thành phố được tái hiện qua âm thanh, ánh sáng, cách bài trí đồ vật. Sự vô danh của thành phố lớn, điều mà Patrick Modiano đã gọi tên trong Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối, nơi những phận người như những chấm nhỏ mờ nhạt trong không gian lưu trú. “Hẳn nàng sẽ biến đi vào trong cái mà Bowing gọi là “sự vô danh của thành phố lớn”, anh tự nhận mình chiến đấu chống lại nó, bằng cách ghi đầy những cái tên vào quyển vở của mình. Một quyển vở Clairefontaine bìa đỏ láng nhựa dày một trăm chín mươi hai trang. Nói cho ngay, điều ấy chẳng giúp ích được nhiều. Giở quyển vở ra, ngoài những tên tuổi và địa chỉ thoáng qua, ta không biết được gì về tất cả những người ấy, cũng như về tôi”. Mỗi nhân vật tan biến không dấu vết trong sự vô định của thành phố. Thực tại trở nên mong manh và con người hoài nghi về bản sắc của chính mình. Khái niệm “sự vô danh của thành phố lớn” đặt ra suy tư về Paris, nơi mỗi nhân vật bị hòa tan vào dòng chảy đô thị và không lưu lại dấu vết của mình. Việc Bowing ghi chép vào cuốn sổ như một nỗ lực lưu trữ nhằm kháng cự lại sự hòa tan, vô danh bằng việc lưu dấu các tên người và địa chỉ. Dẫu vậy, quyển sổ dày một trăm chín mươi hai trang rốt cuộc lại chỉ lưu được tên tuổi và những địa chỉ thoáng qua. Việc tư liệu hóa con người và không gian không đủ để xóa đi sự trôi dạt trong đô thị hiện đại.
Việc khảo sát không gian lưu trú trong sáng tác của Patrick Modiano gợi liên tưởng tới mĩ học của kịch phi lý, qua những vở kịch của Samuel Beckett, Eugène Ionesco và Arthur Adamov. Trong kịch phi lý, không gian sân khấu thường được tối giản hóa nhằm phơi bày tình cảnh trơ trụi và trống rỗng của con người. Trong tác phẩm của Modiano, nhà văn đã tái tạo không gian như một dạng decor sân khấu, nơi nội thất trống trải và các chi tiết vật dụng được giản lược. Sự tương hợp giữa những căn phòng trọ tối giản trong tiểu thuyết Modiano với bài trí sân khấu của Samuel Beckett đã gặp gỡ trong việc biểu thị cảm thức về nỗi bất an hiện sinh. Các khách sạn tạm bợ, phòng trọ vô danh hay căn hộ thuê ngắn hạn tạo thành hệ thống không gian lưu trú đặc thù, nơi những cuộc đời thoáng qua nhau trong dòng chảy liên tục của Paris. Ngôn ngữ của đồ vật, âm thanh và ánh sáng trong những không gian này được nhà văn sắp đặt giống như cách dàn cảnh sân khấu, nơi mỗi chi tiết tối giản đều mang chức năng biểu tượng. Cách tổ chức không gian mang màu sắc sân khấu này đã khiến Modiano kiến tạo một “địa lý tinh thần”. Trong sáng tác của Patrick Modiano, ranh giới giữa không gian ngôi nhà riêng và không gian lưu trú tạm thời như khách sạn và phòng trọ thường xuyên bị xóa nhòa. “Đó là số nhà 14 phố Raffet. Nhưng các chi tiết địa chí gây một hiệu ứng kỳ lạ lên tôi: thay vì làm cho hình ảnh quá khứ trở nên gần gũi và rõ ràng hơn, chúng lại tạo ra một cảm giác xé ruột về những mối dây bị cắt đứt và về sự trống rỗng”2. Sự mờ nhòe và trống rỗng được gọi thành tên, nhân vật như một người xa lạ bị cắt đứt với quá khứ. Chút hơi ấm giả tạo của nơi lưu trú tạm bợ cũng hiếm khi tìm thấy. Khác với cách miêu tả truyền thống về những chi tiết hiện thực “số nhà 14 phố Raffet” có chức năng làm tăng tính hiện thực, dữ kiện này lại bộc lộ khoảng cách không thể kết nối giữa quá khứ và hiện tại. Trên bản đồ di trú, tọa độ vẫn tồn tại nhưng mối liên hệ với con người đã bị tiêu biến. Nơi cư trú đã không còn là một không gian an cư mà chỉ như một điểm quá cảnh tạm thời. Những nhân vật thường sống trong trạng thái bất định, lạc lõng với xung quanh. Căn phòng của nhiếp ảnh gia Francis Jansen trong Con chó mùa xuân bị loại bỏ mọi chi tiết: không có gạt tàn, không chai rượu. Cảm thức xa lạ với nơi cư trú được nhà văn tô đậm trong Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối. Louki sống cùng gia đình tại căn hộ số 11 đại lộ Bretteville nhưng vẫn cảm thấy lạc lõng. Đó chính là nguyên nhân khiến cho cô rời bỏ gia đình để chuyển đến khách sạn Savoie số 8 phố Cels. Bên cạnh đó, Modiano còn tái hiện những không gian bị niêm phong, đóng kín, làm nổi bật cảm thức bế tắc và ngột ngạt của nhân vật. Trong Khu phố đã mất, Ambrose Guise nhận định tư gia của bà Carmen như một tổ kén khép kín, ở đó các phòng đều bị niêm phong và biến thành kho chứa đồ. Không gian sống trong tiểu thuyết của Patrick Modiano bị xóa mờ chức năng an trú, đe dọa cảm giác ổn định của nhân vật và buộc họ phải đối diện trực tiếp với trạng thái bất an. Do vậy, nơi cư trú không còn là chốn định danh cá nhân, mà trở thành nơi con người sống trong sự chờ đợi mơ hồ về ngày mai, giống như Vladimir và Estragon trong kịch của Samuel Beckett luôn chờ đợi Godot nhưng Godot chưa bao giờ đến. Có thể nói, Modiano không chỉ miêu tả một địa điểm cụ thể mà đang kiến tạo một phương thức tồn tại đặc trưng của con người hiện đại: nhân vật tồn tại lửng lơ giữa ký ức và hiện tại, giữa lưu trú và trốn chạy, giữa hồi tưởng và lãng quên. Sự vô định của không gian cũng phản chiếu rạn nứt trong mối quan hệ giữa các cá nhân, nơi con người chỉ còn được kết nối với nhau qua những dấu vết rời rạc như tên riêng, địa chỉ, hay những điểm gặp gỡ thoáng qua đến và đi.
Khái niệm phi nơi chốn được Marc Augé sử dụng trong công trình Non - lieux. Introduction à une anthropologie de la supermodernité (Phi nơi chốn. Nhập môn nhân học về tính siêu hiện đại) đã gợi mở khung lý thuyết để đọc hệ thống không gian lưu trú trong tiểu thuyết của Patrick Modiano. Marc Augé phân tích khách sạn hay các quán trọ là những nơi bị tước bỏ căn tính lịch sử và các mối quan hệ xã hội bền vững, nơi con người tồn tại trong tạm thời. Thông qua không gian cư trú, Modiano đã phản ánh một thế giới đô thị hiện đại với các mối liên hệ giữa con người và nơi chốn bị phân mảnh. Nhận định này gặp gỡ với lập luận của Alan Morris trong chuyên khảo Patrick Modiano, khi ông cho rằng nhà văn không tái dựng thực tại theo nghĩa truyền thống, mà tái hiện trong văn chương một bản đồ đô thị: “Modiano không xây dựng thực tại mà ghi dấu trong văn chương thành nơi lưu trữ lịch sử của các cuộc biến hình đô thị”3. Theo Thierry Laurent, trong thế giới Modiano “việc biết mình đang ở đâu với gợi dẫn số nhà, tên đường là bước đầu tiên để định vị bản thân, dẫu rằng địa chỉ đó thường chỉ là một điểm tựa mơ hồ”4. Kỹ thuật mờ nhòe quy chiếu về thời gian và không gian càng làm tăng thêm cảm thức bất định này. “Mãi tới một ngày 18 tháng Ba ta mới đọc được dòng này: “14 giờ. Louki, 16, phố Fermat, quận XIV”. Nhưng ngày 5 tháng Chín cùng năm, nàng đã đổi địa chỉ: 23h30. Louki, 8, phố Cels, quận XIV. Tôi cho rằng Bowing vạch ra trên những tấm bản đồ Paris cỡ lớn chặng đường tới Le Condé của chúng tôi”5. Những chỉ dấu về thời gian và địa điểm chỉ là dấu vết mong manh tái hiện thực tại. Việc liệt kê các tọa độ như trên tấm bản đồ tạo cảm giác về hồ sơ theo dõi tạo nên ảo giác về sự nắm bắt thực tại. Lối viết định hình nhân vật bằng tên, địa chỉ lưu trú không làm cho nhân vật trở nên rõ nét, mà chỉ càng làm cho nhân vật bất định và dễ tan biến. Louki được xây dựng như điểm di chuyển qua những không gian lưu trú tại Paris, và chỉ có thể truy vết nhân vật qua những không gian và thời gian ngẫu nhiên, rời rạc. Trong hình dung đó, hành động của Bowing “vạch ra trên những tấm bản đồ Paris cỡ lớn chặng đường tới Le Condé” mang ý nghĩa biểu tượng, thiết lập một bằng chứng của sự tồn tại. Tọa độ thời gian và không gian gợi mở những dấu tích tạm thời của con người trong một khoảnh khắc. Nhân vật giống như diễn viên di chuyển trên sân khấu rồi lại bị xóa mờ và biến mất. Sự hiện hữu của con người chỉ còn là những mảnh vụn ngẫu nhiên. Điển hình trong Tuần trăng mật, Ingrid Teylheere sống trong những khách sạn ở Milan với những bức tường bê tông màu xám lạnh. Màu xám bê tông trở thành ẩn dụ cho sự phai nhạt căn tính cá nhân và hiện tượng mờ nhòe trí nhớ. Nhân vật cảm thấy mình như một bóng ma ngay tại nơi cư ngụ. Điều này được thể hiện trong Để em khỏi lạc trong khu phố, khi nhà văn Jean Daragane đối diện với căn phòng trống rỗng tại số 118 phố Charonne. Tại đây, không gian không còn chứa đựng kỷ niệm mà chỉ còn là thứ màu sắc trung tính nhòe mờ, nơi con người không tìm thấy một cội rễ bền vững.
Kỹ thuật mờ nhòe quy chiếu được thể hiện trong Phòng để quần áo thời thơ ấu, nơi không gian không còn được xác định bởi các đặc điểm vật lý cụ thể. Cảm thức này còn được thể hiện trong Tuần trăng mật với hình ảnh nữ thanh niên Do Thái Ingrid Teylheere trốn chạy lịch sử trong những căn phòng khách sạn Milan chỉ được phác họa qua mùi bạch đàn và trúc đào. Bầu không khí phi thực đã phản ánh trạng thái trốn chạy của nhân vật trước lịch sử và ký ức. Hình ảnh không gian cư trú mang tính sân khấu rõ nét được thể hiện trong Một gánh xiếc qua, nơi nhân vật Jean và Gisèle nhìn qua lớp cửa kính khi mà nơi cư trú tạm bợ dự báo cho cuộc đào tẩu sắp diễn ra. Hành động nhảy qua cửa sổ của Louki trong Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối cho thấy phản ứng cực đoan hóa và bi kịch của sự bấp bênh, tuyệt vọng. Hành động nhảy khỏi cửa sổ của Louki gợi nhắc đến hành động của nhân vật Ông già và Bà già trong vở kịch Những chiếc ghế của Eugène Ionesco khi họ nhảy qua cửa sổ tự sát. Sự tương đồng trong hành động này cho thấy điểm gặp gỡ của Modiano và Ionesco trong việc trình hiện cảm thức mong manh, tuyệt vọng khi không gian cư trú không còn là chốn bình an của con người. Cùng với nhân vật như những diễn viên đóng các vai tạm thời trong thoáng chốc, Patrick Modiano đã miêu tả giản lược không gian lưu trú thông qua việc tối giản bài trí đồ đạc, chỉ còn lại ấn tượng về âm thanh, ánh sáng như những chỉ dẫn sân khấu. Sự tối giản trong bài trí không gian phòng trọ không phải là một sự giản lược mang tính kỹ thuật, mà được lặp lại một cách có chủ đích, nhằm ẩn dụ cho trạng thái trống rỗng của nhân vật. Sự thiếu hụt về việc sắp đặt, bài trí đồ vật không chỉ gợi nên sự thiếu hụt vật chất mà còn gợi nhắc đến những ký ức bị quên lãng và những dấu vết bị xóa nhòa. Sự trống rỗng của nội tâm tương ứng với trống rỗng của ngoại cảnh. Căn phòng của Gérard Van Bever và Jacqueline tại khách sạn Tournelle, số 65 kè Tournelle được mô tả bằng những chi tiết tối thiểu: “Hai cái giường, một cạnh cửa ra vào, một dưới bệ cửa sổ. Cửa sổ ấy không trông xuống bờ kè và hình như được trổ ra trên mái nhà”6. Khung cửa sổ không trông xuống bờ kè mà được trổ ra trên mái nhà cho thấy một không gian bị che lấp và tầm nhìn hạn chế. Thay vì tạo ra chiều sâu thị giác, cửa sổ cho thấy không gian bị che lấp. Cách miêu tả phòng khách sạn tạo cảm giác nhân vật bị mắc kẹt trong nơi ở đóng kín. Việc bài trí tối giản giống như sự giản lược và tượng trưng trên sân khấu. Những dấu hiệu về hành lý cá nhân, vật dụng riêng tư và những hành động sinh hoạt thường nhật bị tước bỏ. Hai chiếc giường được đặt trong căn phòng thể hiện những vật dụng tối thiểu cho nhu cầu cư trú của con người. Cảm thức về sự tạm bợ và trống rỗng luôn hiện hữu. Chuyển động vật lý của nhân vật bị giới hạn và hành động đôi khi rơi vào tê liệt. Trong dòng chảy đô thị, mỗi căn phòng trong tiểu thuyết của Modiano giống như một chiếc hộp rỗng, nơi nhân vật trải nghiệm cảm giác lạc loài và tìm kiếm ý nghĩa của tồn tại. Sophie Chopin nhận định những khối bê tông, các tòa nhà kính trong thành phố đã xóa bỏ các dấu vết ký ức và tạo ra một môi trường mới thúc đẩy sự lãng quên tập thể. Modiano đã tô đậm cảm giác rời rạc và đơn lẻ. Cách thức này được thể hiện qua việc miêu tả căn phòng khách sạn Fremiet trong tiểu thuyết Tai nạn trong đêm (Accident nocturne), ở đó chỉ có một chiếc nệm đặt trực tiếp trên sàn giữa bốn bức tường trắng toát. Sự giản lược ấy đã gợi lên sự đồng điệu với trạng thái mất trí nhớ của nhân vật. Chứng mất trí nhớ của Guy Roland trong Phố những cửa hiệu u tối được bộc lộ rõ khi nhân vật phải truy tìm những dấu vết nhỏ nhoi của mình qua cuốn danh bạ cũ trong các văn phòng tối giản tại đại lộ Niel. Khi đồ vật bị lược bỏ, trên sân khấu chỉ còn nhân vật đang tuyệt vọng tìm kiếm sự hiện hữu của chính mình.
Nhà nghiên cứu Hélène Andreeva-Tintignac, trong công trình L’écriture de Patrick Modiano ou la frustration de l’attente romanesque lập luận rằng Modiano sử dụng sự thiếu hụt trong trang trí nội thất tương hợp với cấu trúc cú pháp tỉnh lược, tạo ra sự hụt hẫng thường trực cho người đọc. Sự tối giản đến mức cực đoan này phơi bày trạng thái không tồn tại của bản thể. Khách sạn Lima, 46 đại lộ Saint-Germain được miêu tả: “Khi tới cửa khách sạn Lima, tôi do dự không muốn vào. Nhưng tôi chẳng thể ở ngoài phố cả ngày, giữa những con người kia, họ mang cặp da và cặp táp trên đường tới trường trung học, trường Sorbonne, trường Mỏ. Tôi lên giường nằm. Căn phòng quá nhỏ chẳng thể làm gì khác được: không có ghế cũng chẳng có phô-tơi”7. Các yếu tố định hình không gian sống đều bị lược bỏ, chỉ còn lại góc nhìn cận cảnh về nhân vật. Sự trơ trọi của căn phòng đối lập với sự tấp nập bên ngoài, phơi bày tình cảnh đình trệ của cá nhân đối với guồng quay xã hội. Căn phòng quá nhỏ chẳng thể làm gì khác cũng cho thấy cảm quan về sự đóng kín, nhấn mạnh tình trạng sống tạm bợ. Sự trôi nổi của kiếp sống lưu vong được vật chất hóa qua những khách sạn tồi tàn vùng biên giới trong Biệt thự buồn. Tương lai bấp bênh được dự báo qua sự tạm bợ của không gian sinh sống. Trong bản dịch Những đại lộ ngoại vi, dịch giả Dương Tường nhận định: “Không khí bấp bênh, bất ổn ngự trị trong các tiểu thuyết của ông, trong đó con người không biết dựa vào đâu, không tìm được cái chủ đạo có thể quyết định cuộc đời mình và về mặt này, tính thống nhất của các sáng tác của Modiano khá nổi bật”8. Các nhân vật luôn ở trạng thái chao đảo giữa sự hiện hữu và vô danh, thiếu một tiểu sử rõ ràng, thậm chí mang tên giả. Họ sống trong những không gian chuyển tiếp như phòng trọ, khách sạn, quán cà phê. Nhận định này cho thấy sự nhất quán trong thế giới nghệ thuật Modiano, nơi các nhân vật luôn tồn tại trong trạng thái đan xen giữa hiện hữu và hư vô. Trong tiểu thuyết của Patrick Modiano, không gian cư trú tạm bợ thường được hình dung như những phông nền phản chiếu tình trạng tạm bợ của đời sống. Trong Kho đựng nỗi đau, Patoche quan sát những bóng ma qua khe cửa chớp của ngôi nhà phố Docteur Dordaine, nơi trống rỗng đồ vật, tạo nên cảm giác bị bỏ rơi qua con mắt trẻ thơ. Tình cảnh nghèo nàn của bài trí nội thất đã vật chất hóa cảm giác bị bỏ rơi, gợi nên cái nhìn hoang mang của tuổi thơ trước một thế giới người lớn đầy cạm bẫy. Không còn nơi trú ẩn an toàn, ngôi nhà trở thành điểm quan sát mong manh, nơi đứa trẻ tiếp nhận những dấu hiệu chấn thương của thời hậu chiến. Việc liên hệ không gian lưu trú trong tiểu thuyết Patrick Modiano với cách bài trí sân khấu của Samuel Beckett, Eugène Ionesco và Arthur Adamov cho phép chúng ta hình dung về sự giản lược đồ vật đã trở thành phương tiện biểu hiện cảm thức hiện sinh. Nếu kịch phi lý sử dụng sân khấu trống rỗng gợi ý hình dung về một thế giới phi lý và đầy hoài nghi, thì Modiano sử dụng sự tối giản để biến những địa chỉ lưu trú thành những căn phòng trơ trụi, nơi con người vô danh trong thành phố lớn.
Có thể thấy, không gian lưu trú trong tiểu thuyết của Patrick Modiano đánh dấu sự thay đổi với cách thức phản ánh thực tại của thế kỷ XIX. Trong tiểu thuyết của Honoré de Balzac, các địa điểm được coi như bức tranh thu nhỏ của hiện thực xã hội được nhà văn xây dựng bằng những chi tiết tỉ mỉ, thì Modiano lại giản lược hóa không gian. Những phòng khách sạn tạm bợ, căn hộ thuê ngắn hạn hoặc những địa chỉ mơ hồ được Modiano miêu tả thông qua đồ vật, âm thanh, ánh sáng như cách bài trí trên sân khấu. Cách thức tối giản này không chỉ là một lựa chọn thẩm mĩ mà còn cho thấy sự dịch chuyển trong nghệ thuật tiểu thuyết. Nếu Balzac cho thấy không gian cư trú như yếu tố định hình các thứ bậc trong xã hội, thì Modiano lại tái hiện không gian cư trú như ẩn dụ cho sự mong manh và phân mảnh của số phận con người. Những con người vô danh trong quán trọ không chỉ mang những tên giả, mà còn thiếu những mối liên kết xã hội và lạc lõng trong guồng quay đô thị. Mỗi phòng trọ trở thành một chấm nhỏ trên hành trình cuộc đời. Ở trong các không gian này, nhân vật tách mình ra khỏi những ràng buộc với gia đình và xã hội, đẩy nhân vật vào những trải nghiệm bấp bênh của tồn tại. Thông qua sự luân chuyển không ngừng của những người khách xa lạ, sự tạm bợ trong cách bài trí không gian, Modiano đã gợi mở một khả năng khác: không gian phi nơi chốn trở thành nơi nhân vật đối diện với nguy cơ tan biến nhưng cũng là nơi tìm kiếm tự do, dành cho những kinh nghiệm hiện sinh và sáng tạo. Tại khách sạn phố Castiglione trong Khu phố đã mất, nhà văn Ambrose Guise chỉ nghe được âm thanh tiếng máy điều hòa trong không gian vắng lặng, biểu thị sự cô lập của nhân vật với thế giới. Trong Đêm Paris, người kể chuyện lưu trú tại khách sạn Fremiet, nơi căn phòng chỉ có một chiếc nệm đặt trên sàn và những bức tường trắng toát khép kín. Không gian tối giản của Modiano còn cho thấy sự gặp gỡ với bài trí sân khấu phi lý của Samuel Beckett. Trong vở kịch Tàn cuộc, nhân vật Hamm sống trong căn phòng trơ trụi với hai ô cửa sổ nhìn ra hư vô, gợi nhắc đến nỗi cô đơn của Jean Daragane trong căn phòng trống rỗng tại số 118 phố Charonne trong Để em khỏi lạc trong khu phố. Có thể nói, Modiano xây dựng một mĩ học không gian đặc thù, sự giản lược khiến con người đối diện với sự mong manh của kiếp người và nỗ lực tuyệt vọng chứng minh sự hiện hữu trước vòng xoáy đô thị.
Không gian lưu trú không chỉ được miêu tả giản lược như những chỉ dẫn sân khấu, mà còn mang tính tượng trưng của nghệ thuật trình diễn khi những nơi cư trú thực và ảo đan xen, địa chỉ giả và địa chỉ thật pha trộn khó nắm bắt. Việc cụ thể hóa chi tiết số nhà, tên phố với những địa chỉ cụ thể được thể hiện trong tác phẩm như một nỗ lực neo giữ trước nguy cơ biến mất trong không gian đô thị. Việc gọi tên các khách sạn, nhà trọ, đường phố không chỉ định vị mà còn là nỗ lực chống lại sự xóa mờ của thời gian. Nhà văn đặt nhân vật trong cảm thức hụt hẫng khi ký ức đã phai nhạt trước sự đổi thay của đô thị. Những địa điểm cụ thể nhưng lại dẫn người đọc đến vùng mờ pha trộn thực và ảo. Không gian khách sạn, phòng trọ, căn hộ cho thuê được tái hiện cùng với việc nhân vật cố gắng xác lập sự hiện hữu nơi thành phố mất dần ký ức. “Anh có thật lòng tin rằng một cái tên và một địa chỉ là đủ, sau này, để lần lại một sợi dây đời? Và nhất là vỏn vẹn một cái tên không phải tên thật”9. Nhân vật không có lai lịch rõ ràng mà chỉ được gợi nhắc qua thông tin tối thiểu giống dòng ghi chú trong cuốn sổ tay. Những cái tên không phải tên thật đã phơi bày sự hoài nghi về hiện hữu của mỗi cá nhân, khi yếu tố định danh con người cũng trở nên nhòe mờ. Trong bối cảnh đó, nỗ lực truy tìm căn tính nhân vật trở nên bất khả. Sợi dây đời được sử dụng như một ẩn dụ cho việc phân mảnh, dễ đứt đoạn và mong manh của đời sống.
Điều đặc biệt trong cách thức miêu tả của Modiano nằm ở chỗ, cùng với những địa chỉ có thật, nhà văn lại cài cắm những địa điểm giả từ đó tạo ra một hiệu ứng mờ ảo. Sự pha trộn này biến thành phố thành một mê cung khó nắm bắt, một ma trận của sự bất định. Những địa chỉ thật bao quanh bởi những địa chỉ hư cấu khiến Paris vừa cụ thể vừa mơ hồ, vừa có thể định vị lại vừa thuộc ảo ảnh. Theo Alan Morris, “việc liệt kê chính xác các địa danh này thực chất là một cuộc kiểm kê đầy u sầu về những gì thành phố không còn nữa, biến văn chương thành nơi lưu trữ lịch sử của các cuộc biến hình đô thị”10. Nhà văn đã dùng các địa chỉ giả như một kỹ thuật đánh lạc hướng, nhấn mạnh sự bất định của số phận. Sophie Chopin lập luận rằng “việc liệt kê địa danh với mật độ dày đặc không củng cố hiện thực mà thực chất tạo ra hiệu ứng nhòe mờ, khiến thành phố vừa chính xác như bản đồ học, vừa như một ảo ảnh”11. Vì vậy, các không gian lưu trú trở nên khó nắm bắt. Hành trình di chuyển trong thành phố trở thành hành động chiêm nghiệm về cá nhân và cộng đồng. Modiano miêu tả các nhân vật đi bộ qua các con phố Paris như một trải nghiệm định vị bản thân và truy tìm căn tính. Nếu Paris trong tiểu thuyết của Victor Hugo là hiện thân của những kiến trúc đô thị kỳ vĩ thì với Modiano, ông biến địa điểm lưu trú thành mê cung. Thay vì xây dựng không gian đô thị dễ nhận diện, Modiano phá vỡ cấu trúc không - thời gian truyền thống để mỗi địa danh trở thành không gian tâm lý, nơi hiện thực và mộng tưởng đồng hiện. Trong Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối, người kể chuyện hình dung việc cắt những mảnh giấy nhỏ để ghi lại các tên người và địa chỉ, rồi trộn chúng như một bộ bài. “Tôi nảy ra ý muốn cắt một tờ giấy thành những ô vuông nhỏ. Và trên mỗi ô vuông, tôi sẽ viết một cái tên và một địa điểm. Jacqueline. Van Bever. Cartaud. Bác sĩ Robbes. 160 đại lộ Haussmann, tầng ba. Khách sạn Tournelle, 65 kè Tournelle. Khách sạn Lima, 46 đại lộ Saint-Germain. Cà phê Dante […]. Tôi sẽ trộn những mảnh giấy vào nhau, như một bộ bài, rồi rải chúng lên mặt bàn. Là thế chăng, cuộc sống hiện tại của tôi? Tức là với tôi, vào lúc này, mọi sự chỉ quanh quẩn ở chừng hai mươi cái tên và địa chỉ rải rác mà tôi là điểm kết nối duy nhất? Thế tại sao lại là những cái đó chứ không phải những cái khác? Tôi có gì chung, tôi đây, với những cái tên và những địa điểm kia?”12. Bản kiểm kê tên người và địa điểm cho thấy vòng lặp cuộc sống của con người cũng như nỗ lực neo đậu vào hiện tại. Những tên riêng đặt cạnh nhau như những mảnh ghép, nhưng cũng trở nên mơ hồ. Câu hỏi hoài nghi của nhân vật vào tên người và địa chỉ lưu trú đã bộc lộ dự cảm về sự bấp bênh, trôi dạt. Nhân vật cố gắng cấu trúc lại đời sống của mình từ những mảnh ghép rời rạc của quá khứ. Thông qua những cái tên, nhân vật tìm kiếm ý nghĩa nhân sinh trong một thế giới đang phân mảnh. Các địa điểm quen thuộc đã bị thay thế bởi những tòa nhà bê tông. Trong ký ức của nhân vật về phố Ermitage, những hàng cây đã biến mất, nhường chỗ cho một tòa nhà bê tông. “Phố Ermitage, anh tin chắc vào thời Annie Astrand phần lớn các ngôi nhà chưa được xây, thay vào đó là cây cối hai bên đường với tán lá đan thành vòm. Anh có đang thực sự ở Saint-Leu? Anh tin đã nhận ra phần ngôi nhà nhìn xuống phố và cái cổng lớn nơi Annie thường đỗ xe. Nhưng phía xa hơn, bức tường bao đã biến mất, thay chỗ nó là một tòa nhà dài bằng bê tông”13. Modiano đã trình hiện cảm thức mất phương hướng của con người trong đô thị hiện đại. Không gian về khu phố phủ đầy cây xanh đã bị thay thế bởi tòa nhà dài bằng bê tông như một sự đứt gãy giữa quá khứ và hiện tại. Khi những chỉ dấu quen thuộc như bức tường bao, hàng cây biến mất, nhân vật rơi vào trạng thái mất phương hướng. Không gian cư trú bị đổi thay và giản lược, tạo nên sự hụt hẫng và bất định. “Càng bước đi, tôi càng thấy như thể mình đã ở một thành phố xa lạ và đang trở thành một người khác. Những gì tôi từng trải qua hồi nhỏ và vài năm tiếp theo đó, cho tới cuộc gặp với Gisèle, dịu dàng tách đi khỏi tôi theo từng mẩu, loãng dần, đến mức, thỉnh thoảng, tôi phải hết sức nỗ lực để giữ lại vài mảnh bé xíu trước khi chúng bay biến mất”14. Ký ức tách theo từng mẩu và loãng dần, những kết nối không mất đi đột ngột mà dần tan rã, giống một phông nền sân khấu bị tháo dỡ từng phần. Địa điểm và tên gọi trở thành những đơn vị gợi nhắc tối thiểu, nơi mọi yếu tố thừa bị loại bỏ, chỉ còn nhân vật hiện diện. David Kapp trong chuyên luận La ville irréelle dans les œuvres de Patrick Modiano et Paul Auster (Thành phố phi thực trong tác phẩm của Patrick Modiano và Paul Auster)15 đã đề xuất khái niệm “thành phố phi thực” để chỉ Paris. Theo Kapp, Paris trở thành một bối cảnh giả định, các địa điểm tại Paris không còn đảm bảo chức năng định vị mà chỉ còn là dấu tích của sự đổi thay. Điều này được Modiano tái hiện trong Từ thăm thẳm lãng quên, với mùi ê-te nồng nặc trong phòng trọ phố Dante và khách sạn vùng Sussex Gardens khiến nhân vật rơi vào trạng thái nửa thức nửa ngủ. Từ cửa sổ tầng sáu, nhân vật nhìn ra bên ngoài như từ một trạm quan sát. Các phòng trọ bụi bặm và ký túc xá trong Một thời thanh xuân được miêu tả như những nơi cư trú tạm thời, nơi tương lai bị trì hoãn. Nhân vật xuất hiện trong tình thế mong manh và bất định. Cũng như vậy, trong Tuần trăng mật, khách sạn Milan hiện ra trong sự vắng lặng tuyệt đối, nơi đó không gian cư trú trở thành nơi nhân vật dần đánh mất kết nối với thế giới bên ngoài.
Những nhân vật ở nơi lưu trú được Patrick Modiano đặt trong những không gian khép kín, gợi liên tưởng tới trạng thái huis clos trong tư tưởng hiện sinh của Jean-Paul Sartre và kịch phi lý của Samuel Beckett. Không gian khép kín và chứng mất ngủ gợi nhắc về những chấn thương mà mỗi nhân vật trải nghiệm theo những kịch bản cuộc đời không thể đoán định. Không gian đóng kín này vừa tạo nên cảm giác ngột ngạt, vừa tái hiện cuộc sống quẩn quanh. Trong Quảng trường Ngôi Sao, Raphael Schlemilovitch bị giam hãm từ nhà riêng đến sở cảnh sát. Các phòng trọ và khách sạn được miêu tả như những nơi chốn nằm bên lề xã hội, nơi con người biểu hiện cuộc sống tạm bợ của mình. Nhân vật trong tiểu thuyết Modiano luôn di chuyển giữa những căn phòng vô danh, giống như những lữ khách. Sự giải thể căn tính khởi phát từ những không gian đóng kín (huis clos) trong các tác phẩm đầu tay, nơi khách sạn và sở cảnh sát trở thành sân khấu phi thực và dễ bị thao túng. Trong tiểu thuyết Quảng trường Ngôi Sao, Raphael Schlemilovitch bị giam hãm trong các phòng thẩm vấn trắng toát, ở đó dấu vết cá nhân bị xóa sạch và căn tính của anh bị quy giản thành những định kiến bài Do Thái. Màu trắng của bức tường gợi nên sự tước đoạt bản thể, nơi nhân vật bị buộc phải đối diện với một căn tính áp đặt từ bên ngoài. Không gian đóng kín do vậy đã trở thành công cụ quyền lực, làm lung lay sự ổn định của bản ngã. Cảm thức này cũng được thể hiện trong Tuần tra đêm, Swing Troubadour trú ngụ tại biệt thự Bel-Respiro trong một không gian sang trọng nhưng nhợt nhạt dưới ánh sáng néon. Ở đó, sự xa hoa của bộ smoking và giày da cá sấu chỉ là lớp vỏ trang trí, che giấu thân phận bấp bênh. Trong tình thế này, không gian lưu trú trở thành một sân khấu nơi các nhân vật khoác lên mình những vai diễn tạm thời. Sự sang trọng của vật chất càng làm nổi bật tính chất phù du của đời sống nhân vật, bởi dấu hiệu của sự ổn định chỉ là những hình thức rỗng. Paris trong thời gian buổi đêm được nhà văn sử dụng như một hoàn cảnh tri nhận đặc thù, nơi nhân vật đối diện với chính mình và các giác quan trở nên nhạy bén. Âm thanh của tiếng máy điều hòa, ánh sáng của ngọn đèn néon trở thành thực thể như ký hiệu sân khấu, khuấy động những lớp sóng tâm trí nhân vật. Đêm đã mang đến sự lo âu của con người trong đô thị hiện đại khi ký ức trở nên khó nắm bắt, nhân vật rơi vào trạng thái nửa thức nửa ngủ. Chứng mất ngủ mang ý nghĩa như một triệu chứng của bất an và chấn thương. Nhân vật bị mắc kẹt trong không gian phòng trọ, mắc kẹt trong thời gian đêm không ngủ. Chứng mất ngủ là một triệu chứng vật lý của nỗi lo âu đặc trưng ở nhân vật Modiano, nơi không gian nội thất tối giản trở thành biểu tượng cho sự tan rã âm thầm. Nhân vật Jean - nhà văn trong tiểu thuyết Từ thăm thẳm lãng quên lựa chọn thời gian đêm để viết văn trong khách sạn. Mùi ê-te nồng nặc tạo nên cảm giác ngột ngạt và đưa nhân vật vào trạng thái lơ lửng. Jean sống trong trạng thái mất ngủ kéo dài tại các phòng trọ Paris và khách sạn vùng Sussex Gardens. Nhân vật Ambrose Guise trong Khu phố đã mất cảm thấy ngạt thở trong căn phòng khách sạn phố Castiglione vào một đêm hè oi bức. Trong Tuần trăng mật, khách sạn Milan hiện lên với mùi bạch đàn và nhân vật Ingrid Teylheere sống trong trạng thái mất ngủ thường trực. Không gian di trú buổi đêm gắn với chứng mất ngủ này tiếp tục được tái hiện trong Để em khỏi lạc trong khu phố, nơi nhà văn Jean Daragane đối diện với những đêm dài mất ngủ trong căn hộ riêng và căn phòng số 118 phố Charonne gần như trống rỗng. Daragane thấy ngạt thở khi nhận ra Paris hiện đại đã xóa mờ chỉ dấu ký ức, biến nơi cư trú thành một vùng trắng (no man’s land). Đêm còn là nơi ký ức hiện lên sống động. Trong Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối, Roland và Louki thường xuyên sống trong hồi ức khi thành phố chìm trong màn đêm. Chứng mất ngủ khiến con người dần tan rã trong màn đêm. Việc miêu tả ánh đèn néon buổi đêm đã trở thành ẩn dụ. Louki quan sát khu phố Pigalle dưới ánh đèn néon rực rỡ, ánh sáng đó đã cuốn nhân vật vào trạng thái mộng tưởng. Những chi tiết về mùi vị, âm thanh, ánh sáng được đặc tả trong không gian phòng trọ buổi đêm, biến không gian đêm trở thành phông nền của những chấn thương tinh thần.
Những không gian lưu trú trong tiểu thuyết của Modiano, từ những khách sạn vùng ven đến những căn hộ cho thuê giữa lòng Paris được Modiano khắc họa với những đường nét giản lược, đã trở thành ẩn dụ cho nỗi bất an của con người. Địa chỉ cư trú không chỉ là sự hoài cổ, truy tìm quá khứ với dấu ấn đã ăn sâu vào ký ức, mà còn phản ánh bối cảnh xã hội những năm cuối thế kỷ XX. Trong guồng quay đô thị, con người hiện lên như những nhân vật trên sân khấu, trôi dạt giữa những chấm nhỏ cư trú trong sự vô danh của thành phố lớn. Sự gặp gỡ của việc miêu tả những căn phòng trống rỗng của Modiano với dàn cảnh sân khấu của Samuel Beckett và Eugène Ionesco đã mang đến cảm thức về một thế giới phân mảnh. Thông qua những địa điểm cư trú, Patrick Modiano không chỉ viết về lịch sử một thành phố mà còn gợi lên những suy ngẫm về nỗ lực tồn tại của con người trong nỗi bất an hiện tại. Cách thức mô tả tối giản này có thể được lý giải từ chính quan niệm của Modiano, khi nhà văn bộc bạch việc ảnh hưởng “lối viết trắng” của Ernest Hemingway. Nhà văn sử dụng những đối thoại ngắn, hành động giản lược, các chi tiết địa chí cụ thể như số nhà, khách sạn không còn thiết lập nên việc nhận diện thực tại. Đó là những chỉ dấu mong manh ẩn dụ cho sự trôi dạt của con người trong dòng chảy cuộc đời luôn kháng cự giữa hiện hữu và lãng quên.
Chú thích:
* Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
1, 5, 9 Modiano, Patrick. Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối, Nxb Văn học, 2016, tr. 18, 17, 19.
2, 14 Modiano, Patrick. Một gánh xiếc qua, Nxb Văn học, 2016, tr. 41, 162.
3, 10 Alan Morris, Patrick Modiano, NXB Editions Rodopi B.V., Amsterdam, 2000, tr. 77,19.
4 Thierry Laurent, Modiano ou les intermittences de la mémoire (Julien, Anne-Yvonne dir.), NXB Hermann, Paris, 2010, tr. 167.
6, 7, 12 Modiano, Patrick. Từ thăm thẳm lãng quên, Nxb Văn học, 2017, tr. 9, 35, 72.
8 Modiano, Patrick. Những đại lộ ngoại vi, Nxb Tác phẩm mới, 1989, tr. 139.
11 Sophie Chopin, Paris, ville fantôme: Patrick Modiano et la hantise du contemporain, Princeton University, Princeton, 2024, tr. 60.
13 Modiano, Patrick. Để em khỏi lạc trong khu phố, tr. 112.
15 David Kapp, La ville irréelle dans les œuvres de Patrick Modiano et Paul Auster, Université de Rouen, 2003, tr. 62.