rong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, giới sáng tác thường hay tranh luận rằng, nếu viết theo đề tài kịp thời trước mắt thì chỉ dừng lại ở mức độ tuyên truyền, chứ khó lòng đạt tới giá trị vĩnh cửu. Song điều này có lẽ không phù hợp với bản lĩnh và tài năng của Andersen (1805-1875) và có thể mở rộng ra với nhiều thế hệ văn nghệ sĩ xưa và nay. Chẳng thế mà ngày nay trên các mặt báo vẫn thường xuất hiện không ít bài báo tranh luận về giá trị của các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Soi vào di sản đồ sộ của đại văn hào Đan Mạch, bên cạnh các tác phẩm thơ, kịch, tiểu thuyết, người đọc biết được 175 truyện kể để lại cho đời sau đã trở thành bất tử, trong đó có không ít truyện được tác giả xây dựng và phát triển dựa vào huyền thoại, truyền thuyết, cổ tích dân gian Đan Mạch và Bắc Âu, còn khá nhiều tác phẩm đã được nhà văn lấy đề tài, cốt truyện sống động xuất hiện thường ngày trên chính quê hương ông, nhằm phản ánh đời sống con người cùng xã hội đương thời. Mặt khác sâu xa tinh ý hơn là tác giả cố gắng bộc lộ khát vọng của chính mình tạo nên một giọng điệu đặc sắc không thể mờ phai trong hàng triệu người đọc trên khắp hành tinh. Theo tôi, các nhà xuất bản ở nước ta không nên viết là Truyện cổ Andersen mà nên dịch là Truyện kể Andersen.
Bạn hãy đọc truyện Họa mi (1844) được xuất hiện rất sớm, sau ba truyện thần tiên kể cho các trẻ em lần đầu (1835), được viết cho cuốn niên lịch - mượn danh truyện Tàu; bởi lẽ vào đầu thế kỷ XIX châu Âu xuất hiện thứ mốt thời thượng thích đọc truyện Tàu.
Họa mi có tiếng hót tuyệt vời, sống cạnh nhà vua, thổi vào tâm hồn vua một sức sống mạnh mẽ yêu đời. Ngày tháng trôi đi vui vẻ giữa chốn cung đình sang trọng. Khung cảnh đẹp đẽ ấy đã được minh họa rõ nét trong buổi Họa mi trình diện: - Chính giữa đại điện chỗ Hoàng đế ngự có đặt một cành vàng cho Họa mi đậu. Văn võ bá quan tề tựu đông đủ, còn các đầu bếp, phụ bếp được nấp ngay sau cánh cửa. Mọi người mặc những bộ quần áo đẹp nhất và đăm đắm nhìn con chim bé nhỏ màu xám khi Hoàng thượng gật đầu ra hiệu cho nó bắt đầu hót. Họa mi hót hay đến nỗi nước mắt Hoàng thượng rưng rưng tuôn xuống gò má và tiếng hót Họa mi càng trở nên mê hồn hơn làm xúc động trái tim Hoàng thượng. Ngài hài lòng phán rằng –“Trẫm ban chiếc ngự bài vàng của Trẫm để đeo vào cổ họa mi”. Nhưng Họa mi từ chối và cảm ơn, vì mình đã được nhận thưởng đầy đủ rồi. Và chim vẫn được giữ lại trong triều, sống trong chiếc lồng riêng. Mỗi ngày Họa mi được sổ lồng ra ngoài hai lần: ban ngày một và một lần ban đêm, kèm theo 12 người hầu, mỗi người giữ cặt một dải lụa buộc quanh chân nó. Đi dạo kiểu này chắc chắn không thú vị gì so với đôi cánh bay bổng giữa trời xanh. Chốn kinh đô đâu đâu cũng xôn xao bàn tán về chim Họa mi kỳ lạ. Rồi bao đứa trẻ mới chào đời đều được mang tên Họa mi. Thú vị hơn là ông chủ hiệu tạp hóa nọ, có đến mười một đứa con đều được mang tên Họa mi, dù chẳng đứa nào hát nổi một câu, song cuộc sống gia đình thêm phần ấm áp. Thế rồi, “Một ngày nọ, có môt gói quà lớn từ xa tới được dâng lên Hoàng đế, bên ngoài ghi rõ “Họa mi” hiện lên dòng chữ: “Họa mi của Hoàng đế Nhật Bản không thể sánh kịp Họa mi của Hoàng đế Trung Hoa”. Phải chăng phía sau sự kiện này là sự thu xếp của lớp trung gian nịnh thần? Đó là một cái máy nhỏ được đặt trong hộp - một chim Họa mi máy nhân tạo, giống y như họa mi thật nhưng thân hình quấn đầy kim cương, hồng ngọc và bích ngọc. Hễ vặn máy lên, nó có thể hót một trong những làn điệu của Họa mi thật đã hót, chiếc đuôi vẫy vẫy lấp lánh ánh vàng bạc. Rồi người ta xếp nó cạnh Họa mi thật và mở cuộc thi hót song ca, nhưng Họa mi máy không sao hòa nổi giọng trầm bổng vi vu của bạn! Thế là Họa mi thật liền bay trốn vào rừng sâu coi như bị phát vãng khỏi đất nước, rời khỏi vương quốc. Người ta còn buộc tội Họa mi vô ơn bạc nghĩa với Hoàng thượng!? Nào ngờ ít lâu sau, Họa mi máy bị hỏng, hoàng cung vắng tiếng hót của Họa mi thật, Hoàng đế buồn rầu bị ngã bệnh thập tử nhất sinh.
Biết tin Hoàng thượng đang lâm bệnh, Họa mi thật bay từ rừng về đậu trên cành cây bên cửa sổ hót cho Hoàng thượng nghe. Đức Ngài bừng tỉnh dậy, cảm thấy khỏe khoắn, thanh thản và trở lại bình thường mến yêu cuộc sống và tiếp tục cai quản đất nước.
Phải chăng cuộc đối thoại tâm tình hiếm có sau đây giữa chim Họa mi với Hoàng đế là một cuộc đối thoại nghệ thuật?
"- Cảm ơn Họa mi, cảm ơn Họa mi! – Hoàng thượng nói - Họa mi bé nhỏ thiêng liêng của ta! Giờ thì ta biết Họa mi là ai rồi! Ta đã khiến con rời khỏi đất nước, vương quốc của ta. Tuy vậy, con đã hót xua đuổi mọi thứ ma quỷ khỏi giường ta, lôi Thần chết ra khỏi trái tim ta. Ta biết lấy gì để ban thưởng cho con đây?
- Tâu bệ hạ, Đức Ngài đã ban thưởng cho thần rồi - Họa mi đáp - Lần đầu tiên thần đã hót cho bệ hạ nghe, bệ hạ đã nước mắt lưng tròng. Thần sẽ không bao giờ quên cảnh tượng ấy. Đó chính là châu báu trong trái tim của một ca sĩ...
… Con đừng bao giờ bỏ ta nữa nhé! - Hoàng thượng lên tiếng: - Con chỉ hót khi nào con thích hót, còn loại chim máy ta sẽ đập vỡ tan thành ngàn mảnh.
- Thần không thể xây tổ tại chốn hoàng cung này, xin hãy để cho thần ra đi, lúc nào thần muốn. Rồi một chiều hôm nào đó, thần sẽ tới đậu trên cành cây bên cửa sổ để hót hầu Bệ hạ, mong sao cho Đức Ngài vui tươi, vừa có cả ưu tư nữa đấy ạ! Thần sẽ hót về những người đang hạnh phúc và cả những người bất hạnh. Thần sẽ hót về những điều dữ và cả những điều lành đang ẩn nấp quanh Hoàng thượng. Họa mi bé nhỏ này sẽ bay tới hót cho khắp mọi miền xa xôi, bay tới tận những túp lều của người dân chài lưới nghèo khổ, đến tận những ngôi nhà nông dân bình thường và đến cả với những thần dân ở rất xa cách Hoàng thượng và triều đình.
– Thần yêu quý tấm lòng Bệ hạ hơn cả vương miện của Ngài. Tuy dù vương miện của Ngài thoảng thoảng hương sắc thiêng liêng nào đó”.
Phải chăng đây chính là tuyên ngôn nghệ thuật của Andersen? Rõ ràng là câu chuyện không còn dừng lại cho lớp tuổi trẻ nữa mà rộng lớn hơn nhiều, chủ yếu là muốn đem tiếng nói chân thành tới vua chúa quan lại chốn cung đình cùng lớp người quyền cao chức trọng, lắm tiền nhiều của thường vẫn xảy ra bao cảnh xung đột tranh giành quyền lực thiện - ác, thật - giả. Đã bao đời, tiếng nói phát ra từ vua chúa cung đình đều là mệnh lệnh bất khả xâm phạm không thể thay đổi còn tiếng nói của quần chúng thấp cổ bé miệng không được coi trọng. Đặc biệt trong lĩnh vực văn nghệ, tiếng hót họa mi là biểu tượng cao đẹp, chân thực, trong (Xem tiếp trang 135) sáng và hấp dẫn. Đúng như thế! Tác giả đã sớm ý thức rõ nét về chức năng của văn nghệ và vai trò của nghệ sĩ. Khoảng sáu năm sau truyện Họa mi xuất hiện, trong một buổi trò chuyện với nhà viết kịch đàn anh J. Ludvig Heiberg, Giám đốc Nhà hát Hoàng gia, về vở kịch của Andersen không được phép biểu diễn, chính nhà văn đã thân tình trao đổi:
- Heiberg hỏi: - Ánh sáng truyện kể đó trong trường hợp nào?
Andersen đáp: - “Tôi thường thấy hình như mỗi hàng rào, mỗi đóa hoa đều bảo tôi: - Anh sẽ rõ đời tôi”.
Sau đó, quả thật mỗi khi chú ý nhìn một vật gì, tôi đều có thêm một truyện mới cả… Andersen xúc động nói: “Sứ mệnh của nhà thơ cao cả và thiêng liêng biết bao. Thơ ca có khả năng nói cho hàng ngàn người nghe”1.
Đoạn trích trên tựa như một bản tuyên ngôn nghệ thuật được hình tượng hóa qua tiếng hót họa mi đẹp đẽ cao thượng, đồng thời chứa đựng một thông điệp chính trị xã hội đậm tính thời sự. Từ nửa đầu thế kỷ XIX và mãi đến ngày nay những ý tưởng quý giá này vẫn sống động trên các diễn đàn văn nghệ bốn phương. Mặt khác, về cuối đời Andersen đã tránh được khuynh hướng mê tín trong quá khứ mà nghiêng về việc tìm tòi những phát minh mới kỳ diệu trên cơ sở hiện thực - khoa học. Tuy vậy trong Tiếng hót họa mi ông đã thức nhận rõ nét đúng như nhà vật lý lỗi lạc H. C. Orsted (Đan Mạch) vừa là người thầy, người bạn thân thiết từng bình luận: “Sự phát minh lớn nhất không phải là một cái máy mà chỉ là trái tim con người và nguồn năng lượng mà nó mang chứa”.
Trong thực tế, không phải ngẫu nhiên mà các nhà vua Đan Mạch, Thụy Điển, Đức... cùng một số nước ở châu Âu thời bấy giờ đều vui vẻ long trọng tiếp đón, trao tặng huân chương danh dự và còn muốn mời nhà văn giữ một chức vụ cao — làm biểu tượng họa mi đẹp đẽ chốn cung đình của chính họ nhằm mục đích thu hút giới văn nghệ sĩ trí thức hướng theo.
Về cuối đời, nhà vua Đan Mạch đã tặng thưởng Huân chương bội tinh cao quý cho nhà văn. Ngay chính trên quê mẹ Odense, toàn hệ thống chính quyền và trường học địa phương đã long trọng tổ chức ngày đại lễ nhận Huân chương cho đại văn hào theo nghi thức quốc lễ. Chẳng thế mà đã có lần nhà vua đã thân mật khoác vai Andersen đi dạo giữa vườn Thượng uyển chốn cung đình. Mặc dầu vậy, nhà văn vẫn tìm đủ lý do để khước từ mọi chức tước mà chỉ muốn làm họa mi mang tiếng hót đến khắp mọi chốn và tự coi đấy là “bông hoa hạnh phúc” nhất cho đời.
Gần hai trăm năm đã trôi qua, song câu chuyện Họa mi vẫn nóng hổi nét thời sự giữa đời thường muôn mặt từ Tây sang Đông của thế kỷ XXI. Tiếng hót của họa mi sẽ đến tận mọi người, song một câu hỏi cháy bỏng vẫn luôn luôn được đặt ra đối với người nghệ sĩ chân chính: Phải viết như thế nào? Đây là câu hỏi mang tính thời sự được đặt ra trước mắt tất cả những ai muốn sáng tác văn chương - nghệ thuật phục vụ nhân dân đông đảo.
Chú thích:
1 Theo Việt Linh (2000), H. C. Andersen - Người kể chuyện thiên tài, NXB. Hội Nhà văn, tr. 401.