rong nghiên cứu chuyển thể đương đại, tác phẩm điện ảnh không còn được xem là bản sao của văn bản văn học mà là kết quả của quá trình chuyển mã giữa các hệ thống ký hiệu nghệ thuật. Từ góc nhìn ký hiệu học văn hóa, chuyển thể không chỉ là sự thay đổi phương tiện biểu đạt mà còn là quá trình giải mã, lựa chọn và tái cấu trúc các mã văn hóa để hình thành một văn bản nghệ thuật mới. Vì vậy, giá trị của tác phẩm chuyển thể không được đo bằng mức độ trung thành với nguyên tác mà bằng khả năng tái tạo ý nghĩa và mở rộng không gian diễn giải của văn bản gốc.
Trong điện ảnh Việt Nam, Mùa len trâu (2004) của đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh là một trường hợp chuyển thể tiêu biểu. Bộ phim được chuyển thể từ hai truyện ngắn Mùa len trâu và Một cuộc biển dâu trong tập Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, đồng thời tái hiện không gian văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long đầu thế kỷ XX. Nếu văn chương Sơn Nam lưu giữ ký ức văn hóa Nam Bộ thông qua ngôn từ và nghệ thuật tự sự, thì bộ phim chuyển hóa những giá trị ấy bằng hình ảnh, âm thanh, không gian và nhịp điệu điện ảnh, tạo nên một văn bản nghệ thuật có tính độc lập nhưng vẫn duy trì sự đối thoại với nguyên tác.
Đã có nhiều nghiên cứu về Mùa len trâu dưới các góc độ văn học, điện ảnh học và mĩ học, chủ yếu tập trung vào giá trị hiện thực, phong cách nghệ thuật của đạo diễn hoặc mối quan hệ giữa phim với nguyên tác văn học. Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa các ký hiệu văn hóa từ văn học sang điện ảnh vẫn chưa được khảo sát một cách hệ thống dưới góc nhìn ký hiệu học văn hóa. Đây là khoảng trống nghiên cứu mà bài viết hướng tới bổ sung.
Trên cơ sở đó, bài viết tiếp cận Mùa len trâu như một quá trình chuyển mã ký hiệu văn hóa từ hai truyện ngắn của Sơn Nam sang điện ảnh, tập trung phân tích sự tái cấu trúc ba biểu tượng trung tâm Nước – Trâu – Người. Qua việc đối chiếu giữa văn bản văn học và văn bản điện ảnh, nghiên cứu làm rõ cách Nguyễn Võ Nghiêm Minh tiếp nhận, bảo lưu và phát triển các mã văn hóa trong sáng tác Sơn Nam bằng ngôn ngữ điện ảnh, qua đó góp phần khẳng định vai trò của điện ảnh trong việc bảo tồn, tái tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc trong bối cảnh nghệ thuật đương đại.
1. Chuyển mã ký hiệu văn hóa từ văn học sang điện ảnh qua phim Mùa len trâu
1.1. Từ văn học Sơn Nam đến điện ảnh Nguyễn Võ Nghiêm Minh: cơ sở của quá trình chuyển mã
Trong nghiên cứu ký hiệu học văn hóa, chuyển thể từ văn học sang điện ảnh được xem là quá trình chuyển mã giữa hai hệ thống ký hiệu có phương thức biểu đạt khác nhau. Nếu văn học kiến tạo ý nghĩa bằng ngôn từ và khả năng gợi mở của trí tưởng tượng, thì điện ảnh tổ chức ý nghĩa thông qua hình ảnh, âm thanh, không gian và nhịp điệu. Vì vậy, giá trị của một tác phẩm chuyển thể không nằm ở việc sao chép nguyên tác mà ở khả năng tái cấu trúc các mã văn hóa để hình thành một văn bản nghệ thuật mới.
Từ góc nhìn ký hiệu học văn hóa, Lê Nguyên Cẩn cho rằng: “quá trình chuyển thể từ văn học sang điện ảnh không phải là sự sao chép nguyên tác mà là một hoạt động đồng sáng tạo, trong đó đạo diễn thông qua các giải pháp nghệ thuật và chính cấu trúc cốt truyện để kiến tạo một hình thức biểu đạt mới phù hợp với đặc trưng của loại hình điện ảnh”. Quan điểm này cho thấy bản chất của chuyển thể không phải là sự lặp lại nội dung văn học mà là quá trình giải mã và tái tạo các giá trị văn hóa trong một hệ thống ký hiệu mới.
Mùa len trâu (2004) của Nguyễn Võ Nghiêm Minh là một trường hợp tiêu biểu của quá trình chuyển mã đó. Được chuyển thể từ hai truyện ngắn Mùa len trâu và Một cuộc biển dâu trong tập Hương rừng Cà Mau, bộ phim không chỉ tiếp nhận cốt truyện mà còn kế thừa hệ thống ký hiệu văn hóa đặc trưng trong hai truyện ngắn của Sơn Nam. Nếu văn chương Sơn Nam lưu giữ ký ức văn hóa Nam Bộ bằng ngôn từ giàu chất dân tộc học, thì Nguyễn Võ Nghiêm Minh chuyển hóa những giá trị ấy thành ngôn ngữ điện ảnh thông qua hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu và không gian thị giác. Chính sự khác biệt về phương thức biểu đạt đã tạo nên một văn bản điện ảnh có tính độc lập nhưng vẫn bảo lưu chiều sâu văn hóa của nguyên tác.
Ở phương diện này, nhận định của John Berger rằng “nghệ thuật thị giác luôn hiện hữu trong phạm vi một sự bảo tồn nào đó” gợi mở cách nhìn về điện ảnh như một phương thức lưu giữ và tái tạo ký ức văn hóa. Những khuôn hình trong Mùa len trâu không chỉ tái hiện cảnh quan vùng đồng bằng sông Cửu Long mà còn lưu giữ những kinh nghiệm sinh tồn, lối sống và thế giới quan của cư dân Nam Bộ trong một hình thức biểu đạt mới.
Điều đáng chú ý là Nguyễn Võ Nghiêm Minh không chuyển dịch các chi tiết văn chương theo quan hệ tương ứng một – một. Thay vào đó, đạo diễn thực hiện quá trình tái cấu trúc các ký hiệu văn hóa bằng hệ thống hình ảnh, âm thanh và nhịp điệu điện ảnh. Một ký hiệu ngôn từ trong sáng tác Sơn Nam có thể được chuyển hóa thành nhiều lớp ký hiệu điện ảnh đồng thời, tạo nên những tầng ý nghĩa mới mà vẫn duy trì sự đối thoại với văn bản gốc. Chính quá trình chuyển mã này làm nên giá trị độc lập của Mùa len trâu với tư cách một tác phẩm điện ảnh.
Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích ba biểu tượng trung tâm Nước – Trâu – Người. Đây là những ký hiệu văn hóa giữ vai trò hạt nhân trong hai truyện ngắn của Sơn Nam được khảo sát và đồng thời là hệ thống biểu tượng được Nguyễn Võ Nghiêm Minh tái cấu trúc rõ nét nhất trong quá trình chuyển thể. Việc khảo sát ba biểu tượng này sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ chế chuyển mã ký hiệu văn hóa từ văn học sang điện ảnh và khẳng định khả năng của điện ảnh trong việc bảo tồn, tái tạo các giá trị văn hóa dân tộc.
1.2. Chuyển mã biểu tượng nước
Biểu tượng nước là một trong những hạt nhân của hệ thống ký hiệu văn hóa Nam Bộ và cũng là điểm khởi đầu của quá trình chuyển mã từ văn học Sơn Nam sang điện ảnh Nguyễn Võ Nghiêm Minh. Không chỉ quy định không gian sinh tồn của cư dân đồng bằng sông Cửu Long, nước còn hàm chứa những lớp nghĩa văn hóa được tích lũy qua lịch sử cộng đồng. Chính vì vậy, khi bước từ văn bản văn học sang văn bản điện ảnh, biểu tượng này không được sao chép nguyên trạng mà được tái cấu trúc bằng ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh và nhịp điệu điện ảnh.
Trong truyện ngắn Mùa len trâu, Sơn Nam mở đầu câu chuyện bằng hình ảnh mùa nước nổi như một trạng thái bao trùm toàn bộ không gian sống: “Nước tràn bờ sông Hậu chảy qua. Nước trên trời tuôn xuống. Gió biển triền miên thổi lộng về. Từ sáng tới chiều mặt trời biến dạng sau lớp mưa... Núi Ba Thê bên này, núi Cấm trước mặt; hòn Sóc, hòn Đất bên kia bình thường xem hùng vĩ, thơ mộng thì nay thành lè tè, bé bỏng trong cảnh bao la trời nước.”
Đoạn văn không chỉ miêu tả hiện tượng mùa nước nổi mà còn kiến tạo một trật tự sinh tồn, trong đó con người hiện diện như một bộ phận của thế giới tự nhiên hơn là chủ thể chế ngự nó. Việc lặp lại hình ảnh nước kết hợp với hệ thống động từ chỉ sự vận động đã tạo nên cảm giác về một không gian luôn biến đổi, xóa nhòa ranh giới vốn có giữa đất và nước. Trong cấu trúc nghệ thuật của Sơn Nam, thiên nhiên không đối lập với con người mà trở thành yếu tố chi phối nhịp sống, phương thức mưu sinh và kinh nghiệm tồn tại của cư dân Nam Bộ. Vì vậy, nước không chỉ là yếu tố sinh thái mà còn được mã hóa thành một ký hiệu văn hóa, lưu giữ ký ức cộng đồng và phản ánh mối quan hệ gắn bó giữa con người với môi trường sông nước. Chính cấu trúc ý nghĩa ấy đã trở thành nền tảng để Nguyễn Võ Nghiêm Minh tiếp nhận và chuyển mã biểu tượng nước bằng ngôn ngữ điện ảnh trong Mùa len trâu.
Nguyễn Võ Nghiêm Minh không chuyển thể đoạn văn này theo lối minh họa trực tiếp mà chuyển mã nội dung ấy thành một hệ thống ký hiệu điện ảnh giàu sức biểu đạt. Thay vì minh họa trực tiếp những gì Sơn Nam mô tả, đạo diễn kiến tạo cảm nhận về không gian bằng các đại cảnh có thời lượng dài, trong đó mặt nước chiếm lĩnh phần lớn khuôn hình, làm mờ đường chân trời và xóa nhòa ranh giới giữa đất, trời và con người. Việc sử dụng các khuôn hình có chiều sâu kết hợp với nhịp điệu hình ảnh chậm rãi khiến không gian không còn là bối cảnh tĩnh của câu chuyện mà trở thành một thực thể luôn vận động, bao bọc và chi phối sự tồn tại của nhân vật. Nhờ đặc trưng của ngôn ngữ điện ảnh, ý niệm “bao la trời nước” trong văn bản Sơn Nam không chỉ được tái hiện bằng hình ảnh mà còn được chuyển hóa thành một trải nghiệm thị giác, giúp người xem trực tiếp cảm nhận quy mô và sức mạnh của không gian sông nước Nam Bộ.
Sự chuyển đổi từ ngôn từ sang ngôn ngữ điện ảnh đồng thời làm thay đổi phương thức kiến tạo trải nghiệm thẩm mỹ của người tiếp nhận. Nếu trong văn học, Sơn Nam khơi gợi cảm nhận về không gian sông nước thông qua sức gợi của ngôn từ và trí tưởng tượng của người đọc, thì Nguyễn Võ Nghiêm Minh chuyển hóa những cảm nhận ấy thành trải nghiệm trực tiếp bằng hình ảnh, âm thanh và nhịp điệu điện ảnh. Tiếng nước vỗ vào mạn xuồng, tiếng chân người lội giữa đồng ngập, tiếng gió ràn rạt trên mặt nước cùng những khoảng lặng kéo dài không chỉ tạo dựng bầu không khí hiện thực mà còn tham gia vào quá trình kiến tạo ý nghĩa của tác phẩm. Trong cấu trúc biểu đạt ấy, âm thanh không giữ vai trò minh họa cho hình ảnh mà vận hành như một ký hiệu điện ảnh, tương tác với khuôn hình để hình thành một chỉnh thể biểu đạt thống nhất. Nhờ sự cộng hưởng giữa thị giác và thính giác, biểu tượng nước được mở rộng từ một hình ảnh của môi trường tự nhiên thành một trải nghiệm cảm quan toàn diện, giúp người xem không chỉ nhìn thấy mà còn cảm nhận được sức nặng của không gian sinh thái và những áp lực tồn sinh mà con người Nam Bộ phải đối diện. Có thể thấy, quá trình chuyển mã ở đây không diễn ra theo nguyên tắc thay thế một phương tiện biểu đạt bằng một phương tiện khác, mà là sự tái tổ chức toàn bộ hệ thống ký hiệu của văn bản. Điều được chuyển tải không chỉ là thông tin về mùa nước nổi, mà còn là cách con người cảm nhận, trải nghiệm và tồn tại trong không gian văn hóa sông nước Nam Bộ.
Ở phương diện này, nhận định của John Berger rằng “nếu ngôn ngữ mới mẻ của hình ảnh được sử dụng khác đi, nó sẽ, thông qua cách sử dụng mới mẻ ấy, tạo ra một dạng quyền lực mới” trở thành một gợi mở quan trọng để lý giải quá trình chuyển mã trong Mùa len trâu. Điện ảnh không đơn thuần ghi lại hiện thực mà tái kiến tạo hiện thực bằng một hệ thống ký hiệu thị giác và thính giác đặc thù. Những khuôn hình về biển nước trong bộ phim vì vậy không chỉ tái hiện cảnh quan Nam Bộ đầu thế kỷ XX mà còn lưu giữ ký ức thị giác của một nền văn hóa sông nước. Điều được bảo tồn không phải là hình dạng của dòng sông hay mùa nước nổi, mà là cách cộng đồng cư dân cảm nhận, thích nghi và kiến tạo đời sống trong môi trường ấy. Chính ở điểm này, điện ảnh đã mở rộng khả năng biểu đạt của văn bản văn học, chuyển ký ức được lưu giữ bằng ngôn từ thành ký ức được trải nghiệm bằng hình ảnh và âm thanh.
Từ góc nhìn ký hiệu học văn hóa, có thể thấy Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã thực hiện quá trình chuyển mã biểu tượng nước bằng cách thay đổi phương tiện biểu đạt nhưng vẫn bảo lưu cấu trúc ý nghĩa của nguyên tác. Trong văn chương Sơn Nam, biểu tượng nước được kiến tạo chủ yếu bằng nhịp điệu câu văn, hệ thống miêu tả và sức gợi của ngôn từ; trong điện ảnh, cùng ký hiệu ấy được triển khai thông qua bố cục khuôn hình, chuyển động máy quay, ánh sáng, âm thanh và nhịp dựng. Nhờ sự chuyển đổi hệ thống ký hiệu, biểu tượng nước không bị giản lược mà được mở rộng thêm những chiều kích cảm quan mới. Người xem không chỉ nhận biết nước như một yếu tố của môi trường tự nhiên mà còn trực tiếp trải nghiệm nó như một lực lượng chi phối nhịp sống, định hình hành trình mưu sinh và thử thách khả năng thích nghi của con người.
Đáng chú ý, trong Mùa len trâu, nước không chỉ tồn tại như một không gian vật chất mà còn giữ vai trò tổ chức cấu trúc tự sự của bộ phim. Hầu hết những bước ngoặt quan trọng trong hành trình của nhân vật đều diễn ra trên sông nước hoặc gắn với mùa nước nổi. Từ những cuộc dịch chuyển mưu sinh, gặp gỡ, chia ly đến mất mát và cái chết, mọi biến cố đều được đặt trong mối quan hệ với dòng nước. Bởi vậy, nước không chỉ là bối cảnh của câu chuyện mà trở thành một yếu tố kiến tạo diễn ngôn điện ảnh, chi phối nhịp điệu kể chuyện và sự phát triển của nhân vật.
So với văn bản của Sơn Nam, đây cũng là điểm Nguyễn Võ Nghiêm Minh phát triển thêm chiều sâu biểu tượng. Nếu trong truyện ngắn, nước chủ yếu được khắc họa như môi trường sinh thái đặc thù của cư dân Nam Bộ, thì trong bộ phim, biểu tượng này còn mang ý nghĩa hiện sinh. Dòng nước vừa là điều kiện tồn tại, vừa là thử thách buộc con người phải không ngừng lựa chọn, thích nghi và khẳng định sự sống. Nhờ vậy, biểu tượng nước vượt khỏi phạm vi của một ký hiệu địa lý để trở thành hình ảnh về dòng chảy của thời gian, lịch sử và số phận con người.
Trong cấu trúc biểu tượng của Mùa len trâu, nước đồng thời là điểm khởi đầu của hệ thống ký hiệu Nước – Trâu – Người. Nước tạo nên môi trường sinh tồn của đàn trâu, quyết định hành trình len trâu và qua đó chi phối toàn bộ số phận của con người. Ba biểu tượng không tồn tại biệt lập mà liên kết trong một chỉnh thể văn hóa, trong đó mỗi yếu tố vừa mang ý nghĩa riêng, vừa góp phần kiến tạo ý nghĩa của các yếu tố còn lại. Chính mối quan hệ tương hỗ ấy tạo nên tính thống nhất của hệ thống ký hiệu trong cả văn bản văn học lẫn văn bản điện ảnh, đồng thời đặt nền tảng cho quá trình phân tích hai biểu tượng tiếp theo là Trâu và Người.
1.3. Chuyển mã biểu tượng Trâu
Trong hệ thống ký hiệu văn hóa của cư dân nông nghiệp Việt Nam, trâu không chỉ là vật nuôi gắn với hoạt động sản xuất mà còn là một biểu tượng văn hóa bền vững, phản ánh phương thức sinh tồn và thế giới quan của cộng đồng. Dưới góc nhìn ký hiệu học văn hóa, biểu tượng không chỉ đại diện cho một đối tượng cụ thể mà còn là nơi tích tụ ký ức lịch sử, kinh nghiệm sống và những giá trị tinh thần được cộng đồng lưu truyền qua nhiều thế hệ. Vì vậy, hình tượng trâu trong văn hóa Việt Nam vượt khỏi ý nghĩa về sức lao động để trở thành ký hiệu biểu đạt mối quan hệ cộng sinh giữa con người với tự nhiên, đồng thời phản ánh triết lý sống thuận theo quy luật của môi trường nông nghiệp lúa nước.
Từ góc nhìn của Yuri Lotman, “biểu tượng rơi vào ký ức nhà văn từ chiều sâu của ký ức văn hóa và được làm sống lại trong văn bản mới”. Điều này đặc biệt phù hợp khi khảo sát hình tượng trâu trong quá trình chuyển thể từ văn học Sơn Nam sang điện ảnh Nguyễn Võ Nghiêm Minh. Nếu trong văn bản văn học, con trâu được đặt trong mạng lưới quan hệ với đời sống lao động và sinh kế của cư dân Nam Bộ, thì khi bước vào điện ảnh, nó tiếp tục được tái cấu trúc thành một biểu tượng thị giác mang nhiều tầng ý nghĩa về sự tồn tại, sự nhẫn nại và thân phận con người trước những biến động của tự nhiên và lịch sử.
Trong tập Hương rừng Cà Mau, Sơn Nam không xây dựng hình tượng trâu như một đối tượng miêu tả độc lập mà đặt nó trong toàn bộ cấu trúc sinh thái – xã hội của vùng đất phương Nam. Đặc biệt trong truyện ngắn Mùa len trâu, đàn trâu xuất hiện như một thành tố không thể tách rời của mùa nước nổi. Khi đất đai bị nhấn chìm, con người phải đưa đàn trâu vượt qua những vùng ngập nước để tìm kiếm nơi sinh tồn. Hành trình “len trâu” vì thế không đơn thuần là một hoạt động chăn dắt vật nuôi mà trở thành biểu hiện của một phương thức thích nghi đặc thù với môi trường tự nhiên.
Ở đây, Sơn Nam đã mã hóa con trâu như một ký hiệu văn hóa gắn với kinh nghiệm sinh tồn của cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trâu vừa là tài sản vật chất, vừa là biểu tượng của sự gắn bó giữa con người với đất đai, lao động và cộng đồng. Trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, sự tồn tại của con người phụ thuộc vào khả năng duy trì mối quan hệ cân bằng với những sinh thể khác trong hệ sinh thái. Vì vậy, trâu trong thế giới nghệ thuật Sơn Nam không chỉ đại diện cho hoạt động sản xuất mà còn phản ánh triết lý sống thuận theo tự nhiên của cư dân Nam Bộ.
Khi chuyển sang ngôn ngữ điện ảnh, Nguyễn Võ Nghiêm Minh không xem đàn trâu như một chi tiết nhằm phục dựng hiện thực nông nghiệp truyền thống mà đặt nó vào vị trí trung tâm của cấu trúc hình ảnh. Trong quá trình chuyển mã, hình tượng trâu không còn tồn tại chủ yếu như một đối tượng được kể lại bằng ngôn từ, mà trở thành ký hiệu thị giác giữ vai trò tổ chức không gian và định hướng cảm nhận của người xem. Những khuôn hình rộng với đàn trâu di chuyển giữa biển nước, sự đối lập giữa thân thể con vật và không gian mênh mông, cùng nhịp điệu chậm rãi đã làm nổi bật sự hiện diện của trâu như một chủ thể văn hóa hơn là một yếu tố minh họa cho bối cảnh.
Nếu trong văn bản văn học, người đọc tiếp nhận hình tượng trâu thông qua sức gợi của ngôn ngữ, thì điện ảnh cho phép người xem trực tiếp trải nghiệm sự tồn tại của đàn trâu bằng hình ảnh, chuyển động và âm thanh. Chính sự thay đổi phương thức biểu đạt này đã mở rộng trường nghĩa của biểu tượng, đưa hình tượng trâu từ phạm vi của một chi tiết tự sự trở thành một ký hiệu điện ảnh.
Sự chuyển đổi từ ký hiệu ngôn từ sang ký hiệu điện ảnh đồng thời làm thay đổi cách thức tiếp nhận biểu tượng. Những cảnh quay dài ghi lại đàn trâu lặng lẽ di chuyển giữa đồng nước, chuyển động chậm của thân thể con vật trong tương quan với không gian bao la và nhịp điệu tiết chế của bộ phim đã tạo nên một trải nghiệm thị giác giàu tính chiêm nghiệm. Người xem không chỉ quan sát đàn trâu như một thành tố của đời sống nông nghiệp mà còn cảm nhận được sức nặng của hành trình sinh tồn mà cả con người và muôn vật cùng chia sẻ.
Ở đây, hình tượng trâu không được lãng mạn hóa hoặc nhân cách hóa theo lối biểu tượng truyền thống. Nguyễn Võ Nghiêm Minh lựa chọn một lối biểu đạt tiết chế, để chính sự hiện diện của đàn trâu trong không gian điện ảnh tự kiến tạo ý nghĩa. Nhờ đó, biểu tượng trâu được giải phóng khỏi chức năng minh họa và trở thành một ký hiệu văn hóa có khả năng biểu đạt những chiều kích mới về sự tồn tại của con người trước thiên nhiên.
Từ góc nhìn ký hiệu học văn hóa, quá trình chuyển mã trong Mùa len trâu còn thể hiện ở sự mở rộng ý nghĩa của biểu tượng trâu từ bình diện sinh thái sang bình diện hiện sinh. Nếu trong văn bản của Sơn Nam, trâu trước hết gắn với lao động và sinh kế của cư dân Nam Bộ, thì trong bộ phim, hình tượng này còn phản chiếu thân phận của những con người phải đối diện với thiên nhiên khắc nghiệt và những biến động của lịch sử. Sự nhẫn nại của đàn trâu trong hành trình vượt nước trở thành hình ảnh tương ứng với sức chịu đựng của con người trước những thử thách của đời sống.
Sự tương đồng ấy không được thể hiện bằng những lời bình hay đối thoại mang tính giải thích mà được kiến tạo thông qua nhịp điệu hình ảnh, sự song hành giữa chuyển động của con người và đàn trâu, cũng như cách máy quay đặt cả hai trong cùng một trường hình ảnh. Chính cách tổ chức hình ảnh này đã làm nổi bật mối quan hệ cộng sinh giữa con người và tự nhiên, đồng thời mở rộng ý nghĩa của biểu tượng trâu vượt khỏi phạm vi của một hình tượng lao động.
Đặc biệt, việc tổ chức hình ảnh con trâu trong mối quan hệ với nhân vật Kìm và các nhân vật chăn trâu khác đã tạo nên một cấu trúc biểu tượng thống nhất. Nhân vật không đứng ngoài quan sát đàn trâu mà cùng di chuyển, cùng chịu đựng và cùng bị cuốn vào quy luật của mùa nước. Mối quan hệ ấy cho thấy một quan niệm đặc trưng của văn hóa Nam Bộ: con người không phải là chủ thể tuyệt đối thống trị tự nhiên mà là một thành phần trong mạng lưới sinh thái rộng lớn.
Từ góc nhìn điện ảnh học, có thể nhận thấy Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã khai thác sức mạnh biểu đạt của hình ảnh để mở rộng trường nghĩa của biểu tượng trâu. Nếu văn bản Sơn Nam chủ yếu nhấn mạnh chức năng xã hội – sinh thái của đàn trâu, thì bộ phim phát triển thêm chiều kích cảm quan và hiện sinh. Những cảnh quay đàn trâu giữa không gian nước rộng lớn không chỉ cung cấp thông tin về đời sống mà còn tạo nên một trải nghiệm thẩm mĩ về sự nhỏ bé của con người trước tự nhiên.
Quá trình chuyển mã này cho thấy điện ảnh không làm mất đi ý nghĩa ban đầu của biểu tượng mà tạo ra một tầng nghĩa mới dựa trên đặc trưng của phương tiện biểu đạt. Trâu trong văn học Sơn Nam là ký hiệu được hình thành từ kinh nghiệm cộng đồng; trâu trong điện ảnh Nguyễn Võ Nghiêm Minh trở thành ký hiệu thị giác, nơi chuyển động, âm thanh và không gian cùng tham gia kiến tạo ý nghĩa. Đây chính là sự khác biệt căn bản giữa minh họa nguyên tác và tái tạo văn hóa bằng ngôn ngữ điện ảnh.
Nếu biểu tượng nước đại diện cho không gian sinh tồn, thì biểu tượng trâu đại diện cho mối quan hệ cộng sinh giữa con người và môi trường ấy. Nước tạo nên hoàn cảnh sống, còn trâu gắn với phương thức con người thích nghi với hoàn cảnh đó. Chính sự kết hợp giữa hai biểu tượng này tạo thành nền tảng sinh thái – văn hóa cho sự xuất hiện của biểu tượng thứ ba: Người.
1.4. Chuyển mã biểu tượng Người
Nếu Nước biểu trưng cho không gian sinh tồn và Trâu biểu đạt mối quan hệ cộng sinh giữa con người với tự nhiên, thì Người là trung tâm kết nối toàn bộ hệ thống ký hiệu văn hóa trong Mùa len trâu. Tuy nhiên, con người trong thế giới nghệ thuật của Sơn Nam cũng như trong điện ảnh Nguyễn Võ Nghiêm Minh không được kiến tạo như chủ thể đứng ngoài thiên nhiên để chế ngự hay cải biến nó. Ngược lại, họ luôn hiện diện trong mối quan hệ tương tác với môi trường sinh thái, cộng đồng và dòng chảy lịch sử. Chính sự gắn kết ấy làm cho hình tượng con người không chỉ phản ánh số phận cá nhân mà còn trở thành nơi kết tinh căn tính văn hóa Nam Bộ.
Từ góc nhìn ký hiệu học văn hóa, nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật không chỉ là chủ thể của hành động mà còn là một ký hiệu văn hóa, nơi lưu giữ những lớp nghĩa văn hóa của cộng đồng. Như Lotman khẳng định, “tác phẩm nghệ thuật là phương thức tổ chức cực kỳ tiết kiệm, hàm súc, thuận tiện cho việc lưu trữ và truyền đạt “thông tin“. Bởi vậy, khi hình tượng con người được chuyển từ văn học sang điện ảnh, điều được chuyển tải không chỉ là hành động, tính cách hay số phận của nhân vật mà còn là toàn bộ lớp nghĩa văn hóa mà nhân vật đại diện. Chính ở điểm này, quá trình chuyển thể trở thành quá trình chuyển mã, trong đó hệ thống ký hiệu được tái cấu trúc bằng ngôn ngữ điện ảnh.
Trong sáng tác của Sơn Nam, con người Nam Bộ hiện lên trước hết như một chủ thể sinh tồn. Họ không được lý tưởng hóa bằng những phẩm chất phi thường hay những xung đột tâm lý kịch tính, mà được đặt trong những thử thách thường nhật của môi trường sống: mùa nước nổi, đói nghèo, thiên tai và những biến động lịch sử. Vì vậy, nhân vật trong Mùa len trâu mang ý nghĩa đại diện nhiều hơn ý nghĩa cá thể; số phận của họ phản chiếu kinh nghiệm khai phá, thích nghi và tồn tại của cả một cộng đồng cư dân vùng đất phương Nam.
Nhân vật Kìm là minh chứng rõ nhất cho quá trình chuyển mã biểu tượng Người từ văn học sang điện ảnh. Trong truyện ngắn của Sơn Nam, Kìm trước hết là một cậu bé gắn với công việc chăn trâu và hành trình mưu sinh theo mùa nước nổi. Khi bước vào điện ảnh, nhân vật không chỉ giữ vai trò trung tâm của cốt truyện mà còn trở thành điểm nhìn điện ảnh, thông qua đó người xem tiếp cận toàn bộ không gian văn hóa Nam Bộ.
Nguyễn Võ Nghiêm Minh không khai thác nội tâm nhân vật bằng lời kể hay độc thoại như văn học. Thay vào đó, ông chuyển hóa đời sống tinh thần của Kìm thành những biểu hiện thị giác: ánh mắt lặng lẽ, gương mặt ít biểu cảm, nhịp bước chậm, sự cô độc giữa không gian mênh mông của đồng nước. Chính sự tiết chế trong diễn xuất và cách tổ chức khuôn hình đã tạo nên chiều sâu biểu tượng của nhân vật. Nội tâm không còn được kể lại mà được gợi mở thông qua khoảng lặng, ánh sáng, bố cục và chuyển động của cơ thể trong không gian điện ảnh.
Sự chuyển đổi quan trọng nhất trong quá trình điện ảnh hóa nhân vật Kìm nằm ở phương thức biểu đạt nội tâm. Văn học có khả năng tiếp cận trực tiếp thế giới tinh thần của nhân vật thông qua lời kể, miêu tả và dòng ý thức; trong khi đó, điện ảnh chủ yếu biểu hiện nội tâm thông qua hành động, ánh mắt, tư thế cơ thể, khoảng cách không gian và nhịp điệu hình ảnh. Nguyễn Võ Nghiêm Minh không sử dụng nhiều lời thoại để giải thích tâm trạng nhân vật mà để cơ thể, sự im lặng và mối quan hệ với không gian xung quanh tự biểu đạt ý nghĩa.
Đây chính là điểm gặp gỡ với quan niệm của Nguyễn Đình Thi – Lê Mạnh Hùng về hành động trong nghệ thuật biểu diễn: “hành động của con người… bao hàm toàn bộ những gì có liên quan đến hoạt động sống, đấu tranh sinh tồn của con người, nó đa dạng, phức tạp, khó nhận biết và biến động không ngừng”. Trong Mùa len trâu, cơ thể nhân vật Kìm luôn tồn tại trong sự tương tác với môi trường: chèo xuồng, dẫn trâu, vượt nước, đối diện với mất mát. Thông qua chuỗi hành động được lặp lại trong suốt bộ phim, Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã chuyển hóa kinh nghiệm sinh tồn của cư dân Nam Bộ thành một hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng. Những hành động ấy không chỉ phục vụ diễn biến cốt truyện mà còn trở thành các ký hiệu biểu đạt thân phận. Cơ thể con người trong bộ phim vì thế trở thành nơi lưu giữ dấu vết của hoàn cảnh sống và kinh nghiệm văn hóa.
Một đặc điểm nổi bật của biểu tượng Người trong Mùa len trâu là sự im lặng. Đây không phải sự thiếu vắng ngôn ngữ mà là một hình thức biểu đạt giàu ý nghĩa văn hóa. Các nhân vật Nam Bộ trong thế giới nghệ thuật của Sơn Nam và Nguyễn Võ Nghiêm Minh ít lý giải cuộc đời bằng diễn ngôn; họ chủ yếu bộc lộ qua hành động, sự chịu đựng và khả năng thích nghi. Chính vì vậy, bộ phim chủ động tiết giảm lời thoại, đồng thời kéo dài các khoảng lặng và nhịp điệu hình ảnh để người xem tự cảm nhận đời sống nội tâm của nhân vật. Sự im lặng ở đây không chỉ là một thủ pháp điện ảnh mà còn là một ký hiệu văn hóa, gợi ra lối ứng xử điềm tĩnh, nhẫn nại và bền bỉ của các nhân vật Nam Bộ trước những biến động của tự nhiên và lịch sử.
Ở đây, điện ảnh không chỉ tái hiện con người trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà còn mở rộng chiều kích nhân bản của hình tượng. Những khuôn hình dài về Kìm giữa biển nước, hình ảnh con người nhỏ bé bên cạnh đàn trâu và không gian thiên nhiên rộng lớn tạo nên một cấu trúc thị giác trong đó con người vừa mong manh vừa bền bỉ. Sự đối lập giữa vóc dáng nhỏ bé của nhân vật và sự bao la của thiên nhiên không nhằm phủ nhận giá trị của con người mà nhấn mạnh khả năng tồn tại, thích nghi và duy trì sự sống của họ.
Nếu Sơn Nam sử dụng ngôn từ để ghi chép và lưu giữ ký ức văn hóa Nam Bộ thì Nguyễn Võ Nghiêm Minh sử dụng điện ảnh để tái tạo ký ức ấy bằng hình ảnh. Theo Phan Bích Hà, “mục đích của nghệ thuật điện ảnh không đơn thuần thể hiện sự vật, mà còn xác tạo cho đối tượng được phản ánh một hàm nghĩa”. Từ góc nhìn này, hình tượng con người trong Mùa len trâu không đơn thuần là sự phục dựng hình ảnh cư dân Nam Bộ đầu thế kỷ XX mà còn trở thành biểu tượng văn hóa về khả năng thích nghi, lòng nhân hậu và sức sống bền bỉ của cộng đồng. Điện ảnh, bằng ngôn ngữ của hình ảnh và âm thanh, đã mở rộng những lớp nghĩa vốn được Sơn Nam gửi gắm trong ngôn từ, qua đó làm cho biểu tượng Người vừa kế thừa văn bản văn học, vừa có đời sống độc lập trong văn bản điện ảnh.
Điểm đặc biệt trong quá trình chuyển mã biểu tượng Người là Nguyễn Võ Nghiêm Minh không biến nhân vật thành đại diện cho một thông điệp tư tưởng có tính áp đặt. Bộ phim duy trì khoảng cách quan sát để nhân vật tồn tại trong chính không gian văn hóa của họ. Chính sự tiết chế trong cách kể chuyện đã tạo nên chiều sâu cho hình tượng con người: họ không phải những biểu tượng trừu tượng mà là những cá thể cụ thể đang sống, lao động, mất mát và tiếp tục tồn tại.
Từ cấu trúc tổng thể của bộ phim, có thể thấy Người là điểm hội tụ của hệ thống ký hiệu Nước – Trâu – Người. Con người tồn tại trong không gian của nước, gắn bó với sinh kế dựa vào đàn trâu và thông qua sự tương tác với hai yếu tố ấy mà hình thành căn tính văn hóa Nam Bộ. Vì vậy, biểu tượng Người không tồn tại biệt lập mà hoàn thiện cấu trúc ký hiệu của toàn bộ tác phẩm. Quá trình chuyển mã từ văn học sang điện ảnh vì thế không chỉ bảo lưu những giá trị văn hóa mà còn mở rộng khả năng biểu đạt của chúng bằng ngôn ngữ điện ảnh. Chính điều này khẳng định Mùa len trâu không phải là bản sao của văn bản Sơn Nam mà là một văn bản điện ảnh độc lập, nơi các ký hiệu văn hóa được tái cấu trúc và tái sinh trong một hệ thống biểu đạt mới.
2. Kết luận
Từ trường hợp Mùa len trâu (2004), có thể thấy chuyển thể từ văn học sang điện ảnh không đơn thuần là sự chuyển đổi phương tiện biểu đạt mà là quá trình chuyển mã giữa các hệ thống ký hiệu văn hóa. Thông qua việc phân tích ba biểu tượng trung tâm Nước – Trâu – Người, bài viết cho thấy Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã kế thừa hệ thống ký hiệu văn hóa trong hai truyện ngắn của Sơn Nam, đồng thời tái cấu trúc chúng bằng ngôn ngữ điện ảnh để kiến tạo một văn bản nghệ thuật độc lập. Trong quá trình đó, các biểu tượng không chỉ được bảo lưu mà còn được mở rộng ý nghĩa thông qua hình ảnh, âm thanh, không gian và nhịp điệu điện ảnh. Từ góc nhìn ký hiệu học văn hóa, nghiên cứu góp phần làm rõ cơ chế chuyển mã từ văn học sang điện ảnh, đồng thời khẳng định vai trò của điện ảnh trong việc bảo tồn, tái tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc. Cách tiếp cận này cũng gợi mở hướng nghiên cứu đối với các trường hợp chuyển thể khác trong điện ảnh Việt Nam dưới góc nhìn ký hiệu học văn hóa.
Chú thích:
* Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh TP. Hồ Chí Minh.
1 Lê Nguyên Cẩn (2018), Mã Văn hóa trong tác phẩm văn học – những vấn đề lý thuyết và giảng dạy, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 192.
2 Berger, John (2017), Way Of Seeing - Những cách thấy (Như Huy dịch), NXB. Thế Giới, tr. 58.
3 Sơn Nam (2022), Hương rừng Cà Mau, NXB. Trẻ, tr. 649.
4 Berger, John (2017), Way Of Seeing - Những cách thấy (Như Huy dịch), NXB. Thế Giới, tr. 59.
5 Lotman, IU.M. (2014), Kí hiệu học văn hóa (Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trần Đình Sử dịch), NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 223, 239.
6 Lotman, IU. M. (2014), Kí hiệu học văn hóa (Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trần Đình Sử dịch), NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 70.
7 Nguyễn Đình Thi – Lê Mạnh Hùng (2021), Giáo trình đạo diễn sân khấu, NXB. Văn học, tr. 30.
8 Phan Bích Hà (2007), Văn học nghệ thuật truyền thống với phim truyện Việt Nam, NXB. Văn hóa, Thông tin.