ăn học Nam Bộ sau 1975 có nhiều thành tựu đáng kể về nội dung và hình thức thể hiện. Góp phần tạo nên hương sắc riêng của văn xuôi Đồng bằng sông Cửu Long là sự xuất hiện của những cây bút đầy nội lực như Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thanh Huệ, Nguyễn Thị Thanh Ngọc, Trúc Linh Lan, Nguyễn Ngọc Tuyết, Huệ Thi (Cần Thơ); Trầm Nguyên Ý Anh, Nguyễn Thị Mây (Trà Vinh); Trầm Hương (Bến Tre); Bùi Tiểu Quyên (Long An); Lê Thanh My, Võ Diệu Thanh (An Giang); Kim Quyên (Tiền Giang)… Riêng ở vùng đất Cà Mau, bên cạnh những cây bút “gạo cội” đã khẳng định được tên tuổi của mình trong nền văn học nước nhà như Nguyễn Ngọc Tư, Lê Đình Trường, Lê Minh Nhựt... vẫn còn những cây bút đã và đang tỏa sáng, tiêu biểu là Nguyễn Thị Việt Hà. Mặc dù không sinh ra tại Cà Mau, nhưng nhờ quá trình trải nghiệm và gắn bó, con người cùng dư vị phù sa của mảnh đất cuối trời Tổ quốc đã thấm sâu vào từng con chữ, từng trang văn của chị. Nguyễn Thị Việt Hà gây ấn tượng với người đọc không chỉ ở số lượng tác phẩm mà còn ở sự duyên dáng, sắc sảo và am hiểu về văn hóa Nam Bộ, nhất là văn hóa ẩm thực. Tất cả những điều đó đã tạo nên một lối viết văn dung dị, gần gũi, nặng chất đời, góp phần làm sôi động không khí văn chương vùng đất mũi Cà Mau, mang đến một hương sắc lạ cho văn xuôi Đồng bằng sông Cửu Long sau năm 1975.
1. Nguyễn Thị Việt Hà – cây bút trẻ đầy nội lực
Nhà văn Nguyễn Thị Việt Hà sinh ngày 29/4/1978 tại Bắc Giang – một tỉnh miền núi yên bình và hữu tình. Chị tốt nghiệp cử nhân Ngữ văn tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội rồi bén duyên với bục giảng, trở thành một giáo viên dạy văn đầy nhiệt huyết. Song hành với sự nghiệp giáo dục, Nguyễn Thị Việt Hà còn hoạt động với tư cách nhà báo không chuyên, nhà văn và nhà thơ; nhiều tác phẩm của chị được đăng tải trên các báo, tạp chí văn nghệ phát hành rộng rãi trong cả nước. Với tài năng đa dạng và lối viết dân dã, mộc mạc, chân chất nhưng có chiều sâu, chị đã nhận được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi sáng tác văn chương từ địa phương đến quốc gia. Có thể điểm qua những thành tích nổi bật của chị: Giải Nhất cuộc thi Văn học trẻ với bài thơ Bâng khuâng tháng Chín và Giải Nhì cuộc thi Văn học trẻ với truyện ngắn Những đứa con của biển (1995); Giải Ba truyện ngắn Câu chuyện tặng chồng tôi do Tạp chí VTV và Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức (2007); Giải Nhất cuộc thi Nét bút tri ân với tác phẩm Ba hạt đậu xanh của mẹ (2010); Giải Nhì cuộc thi truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ IV với tác phẩm Ở lại cùng dòng sông (2011); Giải Nhất cuộc thi Chuyện bây giờ mới kể do Báo Lao Động tổ chức với tác phẩm Những cây xương rồng của mẹ (2012); Giải Nhất bút ký do Hội Nhà báo Cà Mau tổ chức (2012); Giải Nhì cuộc thi thơ Hướng về Trường Sa do Báo Tuổi Trẻ tổ chức với tác phẩm Tổ quốc rõ hình từ phía đảo Trường Sa (2012) cùng nhiều giải thưởng báo chí khác. Tác phẩm của chị cũng đã được tuyển chọn làm ngữ liệu giảng dạy trong chương trình phổ thông. Những thành tựu trên là minh chứng đáng trân trọng cho quá trình lao động nghệ thuật miệt mài, đầy sáng tạo của Nguyễn Thị Việt Hà.
Ở mảng truyện ngắn, từng trang viết của chị, với lối hành văn dân dã, dung dị, thường gắn với những câu chuyện về đời sống, thân phận con người và lồng ghép những giá trị văn hóa sông nước của vùng đất mới phương Nam, nhất là văn hóa ẩm thực. Từ đó, người đọc cảm nhận được sự am hiểu khá tường tận về đất và người, cũng như tình yêu, niềm tự hào của Nguyễn Thị Việt Hà với vùng đất Chín Rồng. Bốn tập truyện ngắn của chị: Con đò và thiếu phụ (Nhà xuất bản Quân đội, 2013); Bức thư tình thứ 901 (Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ, 2014); Vẫn còn mưa ngoài hiên (Nhà xuất bản Văn học, 2014) và Chở tình qua sông (Nhà xuất bản Quân đội, 2019) là minh chứng rõ nét cho điều đó.
Nguyễn Thị Việt Hà từng chia sẻ với độc giả về quan điểm sáng tác văn chương của mình một cách chân thành: “Viết cho tiếng lòng, cho đam mê, cho khát vọng của chính mình và cả những người đã yêu thương, tin tưởng, trông đợi mình… Viết như để thở”1. Trong cuộc sống đời thường, Nguyễn Thị Việt Hà luôn thể hiện quan điểm sống lạc quan: “Cuộc đời của bất kỳ ai cũng có nhiều thử thách nhưng đồng thời cũng có rất nhiều cơ hội để mình lựa chọn. Mình đang đi trên con đường có nhiều lối rẽ, có lối rải hoa hồng, có lối rắc đầy gai. Nếu kém may mắn đi trên con đường gai nhọn, đá sắc thì điều ấy cũng chẳng có gì ghê gớm đến mức tuyệt vọng. Bởi khi đi trên con đường chông gai, vất vả ấy mình sẽ nhận ra chân giá trị cuộc sống nên hãy quý trọng niềm vui, hạnh phúc ấy. Cuộc sống như người nông dân gieo hạt, cần mẫn trông chờ hạt nẩy mầm rồi hy vọng một ngày thu hái trái ngọt. Và tôi luôn tin rằng nếu một cánh cửa này khép lại sẽ có một cánh cửa khác mở ra”2. Cách nghĩ, cách sống ấy chính là chất liệu bồi đắp nội lực và sắc thái văn hóa vùng đất mới phương Nam trong ngòi bút Nguyễn Thị Việt Hà.
Trước khi bàn về những biểu hiện văn hóa ẩm thực trong truyện ngắn Nguyễn Thị Việt Hà, cần lược khảo đôi nét về văn hóa. Theo Trần Ngọc Thêm, “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”3. Như vậy, văn hóa có thể hiểu là sự sáng tạo của con người khi gắn bó với môi trường tự nhiên và xã hội. Môi trường tự nhiên và con người có mối quan hệ mật thiết. Con người tác động, làm biến đổi môi trường tự nhiên; đồng thời, tự nhiên không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật chất mà còn tác động đến tâm hồn con người. Thiên nhiên có thể trở thành nơi ký thác những tâm tư tình cảm và xoa dịu những tổn thương của con người. Đôi khi, thiên nhiên còn được xem như một liệu pháp tinh thần giúp con người thoải mái hơn để đối diện với những vấn đề trong cuộc sống mà mình gặp phải. Thiên nhiên có thể giúp con người trở nên tích cực hơn trong suy nghĩ, trong các mối quan hệ, trong sinh hoạt đời thường. Nam Bộ được thiên nhiên ưu đãi với điều kiện tự nhiên thuận lợi, khí hậu ôn hòa với hai mùa mưa nắng rõ rệt, hiếm khi xảy ra thiên tai, bão lụt. Cùng với đó là hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt đã tạo nên những sản vật phong phú, đa dạng từ cây trái xum xuê cho đến cá tôm dồi dào... Có thể nói, thiên nhiên đã rất ưu ái cho mảnh đất và con người Nam Bộ. Nhận thức được điều này, con người Nam Bộ đã sống hòa hợp với thiên nhiên, tận dụng nguồn sản vật sẵn có, dễ tìm từ thiên nhiên ban tặng để tạo nên những món ăn hằng ngày vừa dân dã, vừa đa dạng, phong phú. Và có lẽ, do được thiên nhiên ưu đãi nên con người nơi đây cũng trở nên phóng khoáng trong cách nghĩ, cách ăn, tạo nên dấu ấn đặc trưng của văn hóa vùng miền với “những nét đặc trưng, những sắc thái riêng mà các vùng khác không có hoặc có mà không điển hình, không tiêu biểu”4. Từ sự am tường về điều kiện tự nhiên, xã hội và con người miền Tây, Nguyễn Thị Việt Hà đã chắt lọc và sáng tạo nên những tác phẩm văn chương chở nặng hơi thở và văn hóa vùng sông nước, tạo được dư ba trong tâm thức người đọc. Đó cũng chính là yếu tố làm nên tên tuổi của nhà văn trẻ vùng đất Cà Mau.
Nguyễn Thị Việt Hà là một trong những nhà văn trẻ gắn bó máu thịt với mảnh đất miền Tây. Vì thế, chị đã đưa câu chuyện đời thường, mang dấu ấn văn hóa miền Tây vào truyện ngắn của mình một cách tự nhiên, không khiên cưỡng. Mỗi truyện ngắn của chị thường tập trung khai thác một khía cạnh của cuộc sống; dấu ấn văn hóa ẩm thực Nam Bộ cũng là một điểm sáng trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của chị. Theo Nguyễn Thị Diệu Thảo, “Văn hóa ẩm thực là cách ăn, kiểu ăn, món ăn đặc trưng của từng dân tộc, từng địa phương mà qua đó ta biết được trình độ văn hóa, lối sống, tính cách của con người đó, của dân tộc đó”5. Trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Thị Việt Hà, văn hóa ẩm thực được nhắc đến như hương vị của cuộc sống, góp phần làm phong phú thêm giá trị văn hóa chung của vùng đất Nam Bộ. Với những nguyên liệu sẵn có từ tự nhiên, người dân lao động đã chế biến, nêm nếm để tạo nên những món ăn mang đậm nét đặc trưng của vùng đồng bằng sông nước. Người Nam Bộ sống cùng với thiên nhiên, tận dụng những sản vật sẵn có để tạo nên món ăn hằng ngày, hiện diện trong mỗi mâm cơm với hương sắc rất riêng. Con người nói chung, người dân Nam Bộ nói riêng đã chuyển hóa sản vật tự nhiên thành văn hóa ẩm thực. Nếu người dân Bắc Bộ tận dụng môi trường tự nhiên để tạo nên nét văn hóa ẩm thực thanh tao, tinh tế; người Trung Bộ gắn với nét ẩm thực đậm đà, cay nồng thì người dân Nam Bộ lại gắn liền với dấu ấn văn hóa ẩm thực ngọt ngào, phóng khoáng. Hơn một lần, bữa cơm chiều của gia đình người lao động vùng sông nước với món ăn thuần túy được Nguyễn Thị Việt Hà tả chân, giản dị mà cảm động qua tác phẩm Chuyện ở quê:
“Ông ơi vô ăn cơm, chiều dữ rồi.
Ba lẳng lặng đi vô. Ngó mâm cơm má kho cá với trái bần, canh chua cá ngát nấu bần thơm lựng. Bồi hồi ba hỏi:
- Sao nấu với bần không vậy cà?
- Ngay mùa bần chín mà ông. Thằng hai, thằng ba, con út đều thích món này hết trơn.
Ba không nói gì gắp miếng cá bống kho bần ăn cơm. Thịt cá trắng kho với bần chín ngọt thơm nhứt hạng mà sao nghe như có gì đó đắng đắng trong lòng”6 . Món ăn được nhắc đến ở đây là canh chua bần – món ăn thân thuộc của người dân vùng sông nước. Bần là loại cây mọc ven sông, thân cứng. Người dân có thể trồng cây bần để chống sạt lở đất ven sông; cây còn được sử dụng làm nút chai, trong khi trái bần có thể chế biến thành nhiều món ngon như canh chua bần, cá kho bần. Hương vị được miêu tả là “thơm lựng”, “thơm nhứt hạng”; nguyên liệu không tốn tiền, dễ kiếm và cách chế biến cũng rất giản đơn. Từ lời văn của chị, món ăn không chỉ là vị của trái bần mà còn là hương vị của miền sông nước Nam Bộ đã thấm vào tâm thức của người dân nơi đây. Nguyễn Thị Việt Hà thật tinh tế khi miêu tả cuộc sống con người Nam Bộ một cách đơn sơ, giản dị nhưng đầy cảm xúc.
Canh chua là món ăn quen thuộc trong bữa cơm gia đình Nam Bộ. Nó không chỉ nấu với trái bần, trái me chua mà còn nấu với cơm mẻ. Trong tác phẩm Mộ núi, tác giả một lần nữa nhắc đến món canh chua cá lóc nấu với cơm mẻ và rau muống đồng một cách giản dị: “má nghe có tiếng chó sủa rộn ngoài cổng nhìn ra thấy Hoài xách xâu cá lóc, nắm rau muống đi vô. Ủa, mới sớm mà con mang mấy thứ này đi đâu vậy? Má hỏi. Hoài cười cười, nói mấy đoạn không trọn câu: Cá lóc đồng đó má, nhà mình có sẵn cơm mẻ rồi, nấu canh chua nghe má”7. Cơm mẻ dùng để chế biến món canh chua cá lóc, làm cho bữa ăn dân dã nơi thôn quê thêm phần hấp dẫn. Hầu hết các món ăn trong ẩm thực Nam Bộ đều đơn giản từ nguyên liệu đến cách chế biến. Đời sống người dân lao động lam lũ trên đồng ruộng nên món ăn cũng không quá cầu kỳ, cách chế biến cũng giản đơn như tâm tính con người. Chỉ cần những sản vật vốn có, dễ tìm, người dân kết hợp lại với nhau một cách phù hợp, tạo ra những món ăn mang hương vị riêng, dân dã và đậm nét đặc trưng. Trong những bữa ăn đoàn viên của gia đình, món canh chua được xem là hương vị không thể thiếu. Vì vậy, Hạnh – nhân vật cùng tên trong tác phẩm kể lại ngày đầu tiên ba cô đi xuất khẩu lao động ở Đức về đã thèm được thưởng thức món ăn đậm chất Nam Bộ ấy: “Ngày đầu tiên ba về, ba nói thèm canh chua có lóc với tôm rim mặn, má luýnh quýnh đi mua thêm”8. Món canh chua ở Nam Bộ có hương vị riêng biệt. Nó hoàn toàn khác với món canh chua sấu thơm lừng, dịu mát ở miền Bắc. Canh chua Nam Bộ là sự tổng hòa của vị chua từ me, vị mặn từ nước mắm và muối, vị ngọt từ đường, vị cay từ ớt, mùi thơm từ sả cùng một số loại rau thơm đặc trưng; cách nêm nếm tạo nên hương vị riêng của món ăn quen thuộc, khiến người đi xa nao nao nhớ về vì món ăn ấy từng gắn bó máu thịt. Nó đã trở thành hương vị tình thân, hương vị quê hương. Có thể nói, thiên nhiên vùng sông nước là nguồn tư liệu dồi dào để Nguyễn Thị Việt Hà khám phá các giá trị và viết nên sắc màu đặc trưng của văn hóa ẩm thực phương Nam.
Nam Bộ là nơi cư trú đan xen của nhiều dân tộc như Kinh, Hoa, Khmer, Chăm... Do đó, ẩm thực Nam Bộ cũng trở nên đa dạng và phong phú. Nguyễn Thị Việt Hà thể hiện sự đa dạng ấy trong truyện ngắn của mình. Bên cạnh tô canh chua truyền thống, món bún mắm cũng xuất hiện, tạo nên sức hấp dẫn riêng. Bún mắm, món ăn mang dấu ấn ẩm thực Khmer, có hương vị đặc trưng và được tác giả đưa vào tác phẩm Ráng chiều rực đỏ. Đọc qua những câu văn dưới đây của Nguyễn Thị Việt Hà, khó ai cưỡng lại mong muốn được một lần thưởng thức: “Đó là cái quán bún mắm dựng lên bằng chòi lá sơ sài cuối thẻo đất xóm đảo. Mùi nước lèo thơm lựng... người đàn bà nhanh nhẹn cơi lửa cho nước lèo sôi ngùn ngụt rồi chan vào tô bún cho ngập nước. Sau đó xếp cá, thêm lát thịt ba rọi, vài con tép bạc, kèm theo rau thơm, giá sống, bắp chuối, rau muống chẻ nhỏ, nước mắm ớt nguyên chất, vắt thêm tí chanh. Sau đó mụ chan nước lèo lần hai”9. Món bún mắm được xem là “đặc sản” của vùng đất phương Nam, được tạo nên từ sự kết hợp của nhiều nguyên liệu dân dã, dễ tìm. Bún mắm miền Tây có cách chế biến khá đặc biệt, với sự kết hợp của nhiều nguyên liệu và phần nước lèo đậm đà. Dư vị của món bún mắm là sự phối hợp hài hòa của các đặc sản nơi đây như mắm cá, thịt ba rọi, tép bạc, rau thơm, giá sống, bắp chuối, rau muống chẻ nhỏ, nước mắm ớt nguyên chất, chanh… và nghệ thuật nêm nếm, bài trí trong tô bún nhằm tạo nên giá trị riêng, sức hấp dẫn riêng, chở nặng sắc thái văn hóa của vùng đất mới, gieo vào lòng người thưởng thức một ấn tượng thật khó phai. Bằng sự quan sát tinh tế, tỉ mỉ, bằng sự am tường về văn hóa phương Nam, Nguyễn Thị Việt Hà đã tạo được nét đặc trưng riêng cho trang viết của mình, thổi vào đó chất văn hóa ẩm thực độc đáo, khó nhầm lẫn.
Sức hấp dẫn của văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Việt Hà không chỉ thể hiện qua món ăn mà còn qua cách ăn, cách ứng xử của con người. Người Nam Bộ có tính cách bộc trực, hào sảng, thể hiện rõ qua cách đối nhân xử thế thường nhật. Đôi khi, người dân đổi sản phẩm này lấy sản phẩm kia thay vì định giá bằng tiền, thể hiện sự sẻ chia thắm tình, đậm nghĩa của người dân lao động. Trong Ráng chiều rực đỏ, cách ứng xử mang tính nhường cơm sẻ áo của những người lao động chân chất là minh chứng cho sự hào sảng, đầy tình nghĩa của người Nam Bộ:
“Đói hôn? Ăn tô bún nhe bây?
- Tui nói rồi tui không ăn bún. Sáng giờ bán được có tám cái bánh cam hà
- Ai bắt bây trả tiền. Tao làm cho tô nghen
- Thôi, tui đi à. - ả vội đứng dậy bưng xịa bánh
Người đàn bà ấn ả xuống, dịu giọng:
- Tao thấy bây bụng mang dạ chửa, tao thương. Bây sợ mắc ơn thì tao đổi tô bún lấy mấy cái bánh cam. Tao ngán bún, ăn bánh cam trừ bữa. Bây cứ ngồi”10. Với người dân Nam Bộ, ăn uống cũng là một hình thức trao đổi, giúp đỡ nhau, thể hiện tấm chân tình giữa người với người, tạo nên nét văn hóa ứng xử thật dung dị, vị tha, hào sảng. Hoàn cảnh của Phấn – người phụ nữ khuyết tật vận động, đang mang thai, sắp đến ngày sinh nhưng không có chồng và người thân, phải tá túc trong căn chòi nhỏ cạnh chợ và sống bằng nghề bán bánh cam ế ẩm – khiến người đàn bà bán bún cảm thương và đề nghị đổi tô bún lấy vài cái bánh cam của Phấn. Hành động ấy tuy bình thường nhưng lại đong đầy tình người, khẳng định tính hào sảng và tình yêu thương của người Nam Bộ. Từ một câu chuyện thường ngày liên quan đến cái ăn, Nguyễn Thị Việt Hà không chỉ giới thiệu về những món ăn dân dã mà còn khám phá tình cảm và tính cách nhân hậu của con người trên vùng đất phương Nam.
Người Nam Bộ sống cùng với thiên nhiên nên món ăn hằng ngày cũng được chế biến từ những sản vật tự nhiên. Có khi ăn là cách để sinh tồn qua ngày, nhưng cũng có khi là sự hưởng thụ những món thơm ngon, bổ dưỡng do thiên nhiên ban tặng cho con người. Trong tác phẩm Ở lại cùng dòng sông, nhân vật “tôi” rơi vào nghịch cảnh: ngày cưới đến gần nhưng vị hôn phu lại lên giường với cô bạn thân. Chán nản, tuyệt vọng, cô gieo mình xuống sông nhưng được dì Tư Rum, một người dân thương hồ, cứu sống và đưa lên ghe chăm sóc. Từ câu chuyện thương tâm này, Nguyễn Thị Việt Hà giới thiệu với người đọc món cháo hàu trứ danh Đất Mũi: “Dì nấu cháo hàu biểu tôi ăn cho lại sức. Dì nói không có thứ nào ngon hơn hàu, chỉ đưa thìa cháo vào miệng, răng khẽ chạm vào thân hàu và cảm nhận một tiếng vỡ bục thật khẽ, vị thơm ngậy cứ quấn mãi trong vòm miệng, để rồi khi đã trót ăn một lần thì cứ vấn vương mãi không dứt”11. Cháo hàu là món ăn đặc sản của vùng biển, có nhiều giá trị dinh dưỡng, khiến ai ăn một lần sẽ khó quên cái cảm giác “răng khẽ chạm vào thân hàu và cảm nhận một tiếng vỡ bục thật khẽ, vị thơm ngậy cứ quấn mãi trong vòm miệng”12. Nguyễn Thị Việt Hà gắn bó với vùng đất Cà Mau nên hiểu tường tận về giá trị dinh dưỡng của món cháo hàu, cách chế biến và thưởng thức. Theo kinh nghiệm dân gian ở Cà Mau, người dân tin rằng khi không khỏe, ăn tô cháo hàu có thể giúp lại sức nhanh; kinh nghiệm ấy được truyền lại từ đời này sang đời khác, ăn sâu vào tâm thức cộng đồng. Trong tác phẩm Mưa rơi đầu non, Nguyễn Thị Việt Hà lại giới thiệu với người đọc món cháo trứng gà ngải cứu thơm lừng vừa có giá trị dinh dưỡng, vừa được xem như một bài thuốc dân gian: “Chị trở mình tỉnh giấc, hình như chị đã ngủ một giấc dài. Trời tối từ bao giờ hay sắp chuyển mưa? Các con đâu...à, chúng kìa. Trung đang chẻ tăm tre, Hòa đan sọt. Hiền đâu? Hiền ơi! Mẹ ơi con đây... mẹ ăn cháo trứng gà nhé. Còn nóng. Con thả ít lá ngải cứu cho thơm”13. Sự kết hợp các nguyên liệu đơn giản, dễ tìm đem lại hiệu quả nhờ kinh nghiệm sống của người dân bản địa. Những đứa trẻ vùng sông nước đã vận dụng kinh nghiệm của người đi trước, nấu những món ăn phù hợp nhằm chăm sóc người mẹ khi đau ốm, qua đó gợi lên hình ảnh cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng. Tô cháo trứng gà ngải cứu không chỉ là món ăn mà còn chứa đựng tình yêu thương, sự trân quý của con cái dành cho mẹ. Tùy theo sức khỏe, khẩu vị của mỗi người mà người dân lao động có thể chế biến món ăn sao cho phù hợp. Ở truyện ngắn Gió đắng, Nguyễn Thị Việt Hà lại gửi gắm kinh nghiệm sống và cách ứng xử của mợ Ba với người cháu bên chồng vào ngày sinh nở thông qua những món ăn dân dã, quen thuộc của người dân Nam Bộ: “Ngày Lan sanh cũng vậy nữa, Lan đau bụng từ hồi đêm phải chuyển lên tới bệnh viện tỉnh vì em bé bị tràng hoa quấn cổ tới năm vòng phải mổ, tới sáng là thấy mợ lên tới bệnh viện cụ bị theo mớ cá bống kho tiêu, thịt ram mặn, thêm mấy trái đu đủ xanh”14. Theo kinh nghiệm sống của bà, cá kho khô, thịt ram mặn và đu đủ là những món phù hợp cho sản phụ sau sinh. Những món ăn ấy cũng góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn hóa ẩm thực vùng sông nước Nam Bộ trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Thị Việt Hà.
Thông qua sự quan sát, chiêm nghiệm từ cuộc sống của Nguyễn Thị Việt Hà, món ăn không chỉ đơn thuần là điều kiện để sinh tồn mà còn là kế sinh nhai của người dân miền sông nước. Trong tác phẩm Ráng chiều rực đỏ, nhân vật Phấn bán bánh cam để mưu sinh; đây là món ăn quen thuộc của làng quê, có cách chế biến không quá cầu kỳ. Bên cạnh đó là món bún mắm thơm lừng của Đất Mũi hay món hủ tiếu quen thuộc của quán Ngọc Dung: “Nhà Dung ở dạ cầu Bình Thủy, má có tiệm hủ tiếu “Ngọc Dung” ngon nức tiếng, bởi má có tên Dung, cưng Dung nên lấy con gái đặt tên tiệm”15. Cái tên của quán hủ tiếu ngay dốc cầu cũng chính là tên đứa con gái của bà chủ quán nên nó thân thương, máu thịt nhường nào. Cũng trong Ráng chiều rực đỏ, người đọc còn bắt gặp món bánh canh, hủ tiếu gõ gắn với những người dân Nam Bộ chân chất, thật thà, vẫn phải đối diện với khó khăn cơm áo gạo tiền: “Mấy hôm nay nhà bà Lành không gánh bánh canh bán đầu chợ nữa, nghe đâu thiếu đói, mấy đứa con ăn đến cụt vốn, dù gánh bánh canh mặn của bả chưa đến một trăm ngàn. Cái xe hủ tiếu gõ của ông Tư thời sự cũng không còn đẩy qua đây mỗi đêm. Tiếng thanh tre gõ vào nhau của thằng Cu Lì con ông Tư sinh động như một bản nhạc đường phố giờ tắt ngúm”16. Đọc những câu văn dung dị của Nguyễn Thị Việt Hà, đằng sau câu chuyện về văn hóa ẩm thực, người đọc cảm nhận được sự trăn trở, suy tư về cuộc sống, con người vùng sông nước luôn thường trực trong tâm hồn giàu trắc ẩn.
Truyện ngắn Về với má, nhân vật Mai phải trông em thay mẹ. Mai lỡ đánh em, sợ bị má đánh đòn nên đã bỏ nhà đi một thời gian khá lâu. Khi má tìm được Mai, sau khi ăn chiếc bánh bao không nhân của má, Mai bỗng quên cả nỗi sợ bị đòn bởi những món ăn ngon má nấu: “chừng nào về đến nhà má nấu cơm nóng cá sặc kho khô, canh rau tập tàng cho ăn, nghe má nói tui cũng đủ tiết nước miếng thèm thuồng”17. Chén cơm nóng ăn với cá sặc kho khô, canh rau tập tàng là những món ăn thân thuộc, dân dã, tốn ít tiền, dễ tìm nhất ở vùng quê Nam Bộ khiến ai đi xa cũng nhớ. Từ những món ăn thường nhật, gắn bó với mỗi người dân, Nguyễn Thị Việt Hà đã khơi dậy cảm thức làng quê trong tâm hồn mỗi con người, bồi đắp thêm tình yêu quê hương xứ sở. Ở Vệt máu, món “canh rau má nấu tôm, sườn kho mặn”18 là món ăn trưa tiện lợi đối với công chức bởi những món này thường dễ chế biến, nguyên liệu cũng dễ tìm và còn tiết kiệm được thời gian. Nam Bộ được xem là vựa lúa lớn của cả nước nên gạo hầu như chẳng bao giờ thiếu trong mỗi nhà. Vì thế, gạo không chỉ được dùng để nấu cơm mỗi ngày mà người dân còn có thể chế biến nhiều món ăn dân dã khác như bún, bánh canh, bánh hỏi, bánh lọt, bánh cam, bánh ống, bánh xèo, bánh đúc, bánh tráng, bánh giò… góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng, gần gũi mà không kém phần hấp dẫn của văn hóa ẩm thực phương Nam.
Trong Gió đắng, nhà văn giới thiệu với người đọc món “xà bần” độc đáo, đậm chất miền Tây, gắn với đời sống của người lao động chất phác qua nhân vật mợ Ba: “Có lần mợ đi nấu đám gả cho Huệ, cháu gọi ngoại là cố họ xa, mợ mần từ đêm tới sáng lu bu quên ăn, tới khi tàn tiệc mợ bới tô cơm ngồi góc bếp ăn với xà bần. Má của Huệ tưởng mợ giận vì không chu đáo hỏi tới hỏi lui mợ cười hiền nói “trời ơi không có phải. Người dưng mình còn thương huống hồ là người trong nhà thương còn hổng hết sao giận trời? Tại nêm nếm no ngang chớ không phải quên ăn. Giờ đói ăn mới ngon. Tình thiệt là thích ăn xà bần nghe nó đậm, thấm, vừa miệng”19. Nếu không gắn bó với cuộc sống người dân miền sông nước, người đọc khó có thể hiểu món xà bần là gì và được chế biến ra sao. Thực ra, xà bần là những thức ăn còn thừa như thịt lợn, thịt bò, thịt gà, tôm hay các loại rau củ,... đều được giữ lại để ngày hôm sau cho chung vào chiếc nồi lớn, cho thêm nước lọc hoặc nước hầm xương..., nêm nếm cùng một chút gia vị, rồi đun sôi để có một món xà bần hoàn chỉnh. Xà bần thường được dùng với cơm và được xem là một đặc sản của Nam Bộ. Nguyễn Thị Việt Hà với vốn sống và hiểu biết sâu rộng của mình đã mang đến cho người đọc cảm giác gần gũi và thêm hiểu biết về văn hóa ẩm thực phương Nam. Qua các tác phẩm được khảo sát, cách ăn uống của người Nam Bộ được khắc họa theo hướng giản dị, ít cầu kỳ; việc ăn trước hết đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và hướng đến sự đủ đầy. Đó là một nét văn hóa ẩm thực của vùng đất phương Nam được Nguyễn Thị Việt Hà gửi gắm qua những đứa con tinh thần của mình.
Dấu ấn văn hóa ẩm thực trong sáng tác của Nguyễn Thị Việt Hà không chỉ được miêu tả trực tiếp mà còn được giới thiệu gián tiếp thông qua hoài niệm. Trong truyện ngắn Về với má, hương vị món cơm quê hiện lên qua lăng kính nỗi nhớ của nhân vật Mai thật cụ thể: “Mùi cơm chín nấu bằng củi nổ lép bép hay của đám lá tai tái bén lửa. Hồi ở nhà tôi không hiểu tại sao người xưa hay dùng khói để tả nỗi nhớ quê. Khi tha hương tôi mới hiểu, nhìn ngọn khói loi choi trên nóc nhà ở quê người mà tôi nhớ quê mình đến cồn cào gan dạ, tôi thèm ngồi bên cà ràng ấm nóng đợi má sai biểu tôi làm chuyện này chuyện nọ. Sông đang đưa tôi về nhà bằng hơi thở của má, nhịp chèo của má ru tôi ngủ”21. Nỗi nhớ mùi vị cơm quê trong lòng người xa xứ cũng chính là nỗi nhớ về hương vị của làng quê, về những kỷ niệm đẹp bên gia đình luôn hiện hữu nơi Mai.
Như vậy, trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Việt Hà, vấn đề ẩm thực không chỉ là món ăn, cách chế biến mà còn được đề cập đến cách ăn, tâm tính, văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ. Từ truyện ngắn của chị, người đọc cảm nhận nếp nghĩ mộc mạc của con người vùng đất Chín Rồng, thể hiện trong cách nghĩ, cách làm và cách ăn. Bằng sự quan sát tỉ mỉ và nghệ thuật sử dụng ngôn từ dân dã, đậm chất khẩu ngữ của nhà văn, mỗi món ăn không đơn thuần chỉ là ẩm thực mà còn được nâng tầm thành văn hóa – văn hóa ẩm thực, văn hóa con người, là phương tiện mưu sinh, là điểm neo đậu, nảy mầm và phát triển tình cảm giữa người với người.
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam đương đại, văn học Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang có những đóng góp nhất định. Bên cạnh những cây bút đã khẳng định được vị thế trên văn đàn, Nguyễn Thị Việt Hà được đánh giá là một trong những nhà văn trẻ thành công ở thể loại truyện ngắn. Qua ngòi bút của chị, thiên nhiên và con người Nam Bộ là những gam màu chủ đạo, góp phần tạo nên bức tranh văn hóa; trong đó, văn hóa ẩm thực trở thành điểm nhấn trong truyện ngắn của chị và tạo sức hấp dẫn riêng đối với người đọc. Vì thế, việc ghi nhận đóng góp của Nguyễn Thị Việt Hà vào quá trình bồi đắp văn hóa phương Nam là cần thiết.
Chú thích:
* Trường Đại học FPT, Phân hiệu Cần Thơ.
1, 2 http://www.huongquenha.com 26/7/2013.
3 Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 10.
4 Nhiều tác giả (2005), Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB. Từ điển bách khoa, tr. 818.
5 Nguyễn Thị Diệu Thảo (2016), Ẩm thực Việt Nam và thế giới, NXB. Phụ Nữ, tr. 14.
6, 7, 21 Nguyễn Thị Việt Hà (2013), Con đò và thiếu phụ, Tập truyện ngắn, NXB. Quân đội Nhân dân, tr. 222, 387, 71.
8 Nguyễn Thị Việt Hà (2016), Vẫn còn mưa ngoài hiên, Tập truyện ngắn, NXB. Văn học, tr. 401.
9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19 Nguyễn Thị Việt Hà (2013) Con đò và thiếu phụ,tập truyện ngắn, NXB. Quân đội Nhân dân, tr. 222, 387, 10, 10, 88, 334, 331, 39, 70, 69, 345.