TỔN THƯƠNG SINH THÁI VÀ NGHỊCH LÝ PHÁT TRIỂN TRONG VĂN HỌC ĐÔNG NAM Á: ĐỌC ''NGƯỜI GÁC CỔNG'' CỦA NURALIAH NORASID VÀ ''KHÓI TRỜI LỘNG LẪY'' CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ*

Trên cơ sở phân tích vấn đề sinh thái và nghịch lý phát triển ở Đông Nam Á qua hai tác phẩm ''The Gatekeeper (Người gác cổng)'' của nhà văn Nuraliah Norasid và'' Khói trời lộng lẫy'' của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, bài viết nhấn mạnh khả năng kết nối liên quốc gia của văn học Đông Nam Á, tức các văn bản thuộc những bối cảnh khác nhau có thể cùng tham gia vào diễn ngôn phản biện về chính sách bảo tồn và nhân văn môi trường hiện nay.

   Trong vài thập niên gần đây, các quốc gia Đông Nam Á đã viết nên huyền thoại của chính mình bằng những câu chuyện về sự phát triển kinh tế - xã hội vượt bậc. Tuy nhiên, đằng sau nhịp tăng trưởng ấy là những khoảng lặng đáng kể trong các diễn ngôn chính thống về tình trạng mất mát tài nguyên, xói mòn sinh thái và sự tổn thương tâm lý của cộng đồng. Văn học Đông Nam Á đương đại đã khắc họa những thay đổi nói trên, đồng thời kiến tạo không gian để những thân phận nhỏ bé bị bỏ quên trong trầm tích thời gian và lịch sử được kể lại câu chuyện của chính họ.

   Xuất phát từ góc nhìn này, bài viết chọn nghiên cứu hai tác phẩm The Gatekeeper (Người gác cổng, 2017)1 của nhà văn Nuraliah Norasid (Singapore) và Khói trời lộng lẫy (2010)2 của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (Việt Nam). Hai tác phẩm này được tiếp cận như những văn bản tự sự đậm tính biểu tượng, cho phép nhận diện các chiến lược kể chuyện nhằm phản ánh xung đột sinh thái - phát triển trong bối cảnh hiện đại hóa nhanh chóng của khu vực. Việc đặt hai tác phẩm đến từ hai quốc gia khác nhau vào cùng một không gian diễn giải cho thấy khả năng kết nối xuyên quốc gia của văn học Đông Nam Á: dù khác biệt về bối cảnh, chúng vẫn gặp nhau trong cách kiến tạo hình tượng nhân vật như ẩn dụ cho giá trị truyền thống trong quá trình phát triển. Từ đó, bài viết đặt ra câu hỏi: Các kiến tạo ẩn dụ sinh thái trong Người gác cổngKhói trời lộng lẫy về sự phát triển của khu vực được thể hiện như thế nào?

   1. Khói trời lộng lẫy và Người gác cổng: những cách tiếp cận

   Hai tác phẩm này đã thu hút mối quan tâm của giới nghiên cứu trong bối cảnh từng quốc gia. Khói trời lộng lẫy chủ yếu được xem xét từ góc độ phê bình sinh thái3, trong đó thiên nhiên được nhìn nhận như một thực thể lưu giữ ký ức văn hóa đang dần biến mất để nhường chỗ cho phát triển kinh tế4.

   Người gác cổng tuy ra đời muộn hơn nhưng mau chóng được tiếp nhận qua nhiều lăng kính khác nhau. Chẳng hạn, Wong Wen Pu phân tích The Gatekeeper như ẩn dụ về sự loại trừ chủng tộc và văn hóa trong xã hội Singapore đương đại5; Weihsin Gui đối chiếu The Gatekeeper với Surrogate Protocol (của Tham Cheng-E) nhằm làm nổi bật cách hai tác phẩm cùng phản ánh và phê phán chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism) trong bối cảnh đô thị hóa và bất bình đẳng gia tăng6; Inez Tan khai thác Medusa như hình tượng lai ghép giữa huyền thoại Hy Lạp gắn với bối cảnh đô thị châu Á, trên cơ sở đó gợi dẫn đến các vấn đề: Chính sách tái định cư, đô thị hóa và hình thành diễn ngôn về bản sắc quốc gia7... Ngoài ra, Kevin Martens Wong trong bài phỏng vấn trực tiếp với Norasid đã nhấn mạnh việc xây dựng ngôn ngữ Tuyunri thực chất là nhằm thể hiện tính tự chủ của một cộng đồng tưởng chừng như bị quên lãng trước tình trạng đồng hóa văn hóa8.

   Từ tổng quan sơ lược nêu trên có thể thấy cả hai tác phẩm đều đã được nhìn nhận từ góc độ phê bình sinh thái hoặc lý thuyết hậu thực dân, tuy nhiên chưa có các tiếp cận liên quốc gia, nhằm kiến tạo một cái nhìn mang tính khu vực về văn học Đông Nam Á trong bối cảnh hậu thực dân và phát triển. Bài viết này lấp khoảng trống đó bằng cách đặt cạnh nhau hai văn bản - đến từ Việt Nam và Singapore - như hai trường hợp đại diện kể về tiến trình hiện đại hóa. Hướng tiếp cận này được triển khai trên nền tảng hệ thống quan điểm của Fredric Jameson về phúng dụ dân tộc và văn học các nước thuộc Thế giới thứ ba (qua tiểu luận nổi tiếng Third-World Literature in the Era of Multinational Capitalism, 1986).

   Theo F. Jameson, trong bối cảnh hậu thuộc địa, cái riêng tư và cái tập thể hòa quyện vào nhau đến mức các truyện kể cá nhân luôn mang ý nghĩa đại diện cho sự hình dung về cộng đồng dân tộc: “Tôi muốn chỉ rõ rằng tất cả văn bản của thế giới thứ ba tất yếu có tính chất ẩn dụ, cụ thể là: chúng được đọc như những thứ tôi sẽ gọi là những ngụ ngôn/ phúng dụ dân tộc (national allegories), ngay cả khi những hình thức của chúng vượt ra ngoài các thể loại chủ yếu đại diện cho phương Tây, chẳng hạn như tiểu thuyết”9.

   Với Khói trời lộng lẫy, những dấu vết của phát triển nông thôn Việt Nam bộc lộ trực tiếp qua cảnh quan bị xâm thực và cộng đồng mất chỗ đứng. Với Người gác cổng, vì bối cảnh là một Singapore giả tưởng nên “chính sách” không được mô tả như thực tế lịch sử mà được chuyển hóa thành hình ảnh mang tính ẩn dụ: một đô thị được “làm sạch”, tầng ngầm bị đẩy ra khỏi tầm nhìn và thiên nhiên gần như biến mất. Theo tinh thần phúng dụ dân tộc, những cấu trúc này không nhằm tái hiện chính sách cụ thể của Singapore mà gợi mở cách một quốc gia tưởng tượng về chính mình: trật tự, đồng nhất và ưu tiên phát triển trước hết, ngay cả khi cái giá phải trả là sự mờ nhạt của ký ức tự nhiên và những cộng đồng yếu thế.

   Nhìn theo hướng này, chính sách đối với thiên nhiên và các không gian sống bị thu hẹp không chỉ là vấn đề môi trường mà còn là cách mỗi dân tộc kiến tạo hình ảnh về chính họ. Điều này tạo tiền đề để phân tích sâu hơn ở các phần sau về cách Việt Nam và Singapore (trong dạng thức hiện thực và giả tưởng) biểu đạt những nghịch lý phát triển qua số phận nhân vật và các biểu tượng sinh thái.

   Nhằm tăng tính tập trung cho vấn đề sinh thái trong văn học Đông Nam Á, bài viết sử dụng phối hợp khái niệm “bạo lực chậm” (slow violence) của Rob Nixon. Theo Nixon, bạo lực chậm là dạng bạo lực “xảy ra dần dần và không thể nhận thấy, là bạo lực hủy diệt chậm trễ, lan tỏa khắp thời gian và không gian, là bạo lực gây tổn thương mà thường không được coi là bạo lực”10, có nghĩa là bạo lực chậm thường phi kịch tính, khó có thể được nhận diện, do đó, khó loại trừ. Trong văn học, nó được biểu đạt qua hình ảnh của những không gian tự nhiên bị xâm lấn, sự thưa vắng của âm thanh sinh học, hơn thế là sự mất mát của ký ức tập thể. Khái niệm nói trên của Nixon phù hợp để giải mã hai tác phẩm bởi Khói trời lộng lẫyNgười gác cổng đều mô tả trạng thái thiên nhiên và không gian sống của con người bị triệt tiêu âm thầm nhưng khốc liệt: dòng sông bị vét cạn, khu rừng hóa đá, thành phố bị “làm sạch” đến mức vô hồn...

   Sự kết hợp giữa Jameson và Nixon trong nghiên cứu đó mở ra một khuynh hướng đọc kép: tác phẩm vừa là tự sự sinh thái vừa là những phúng dụ dân tộc. Nói cách khác, cái chết lặng lẽ của sinh vật, dòng sông, ký ức hay cộng đồng thiểu số là dấu hiệu của sự xói mòn sinh thái.

   Khi đặt cạnh nhau, hai tác phẩm Khói trời lộng lẫy của Nguyễn Ngọc Tư và Người gác cổng của Nuraliah Norasid, dù xuất phát từ những bối cảnh văn hóa khác nhau nhưng đều hướng về một mẫu hình tự sự tương đồng: các nhân vật trở thành biểu tượng sinh thái - văn hóa, phản ánh sự suy kiệt của môi trường và nghịch lý của tiến trình phát triển ở Đông Nam Á.

   2. Tổn thương sinh thái và những nghịch lý phát triển

   Khói trời lộng lẫy của Nguyễn Ngọc Tư là lời tự sự của Di – một cô gái làm việc tại Viện Di sản Thiên nhiên và Con người. Di mang mặc cảm bị cha bỏ rơi, lớn lên cùng nỗi ám ảnh bảo tồn vẻ đẹp tự nhiên, cô quyết định đưa em trai cùng cha khác mẹ (Phiên) đến một vùng đất xa xôi hẻo lánh để quan sát quá trình trưởng thành của một đứa trẻ. Nhưng mọi nỗ lực của Di trong việc níu giữ thiên nhiên và nuôi dạy Phiên trong trạng thái cách ly với xã hội hiện đại đều thất bại. Cảm giác bất lực ấy kết đọng trong hình ảnh khói bếp tan biến được hình dung như biểu tượng cho cái đẹp đang dần lụi tàn.

   Người gác cổng lấy bối cảnh giả tưởng tại Manticura – một thành phố từng trải qua thảm họa môi trường và tái thiết đô thị quy mô lớn. Nhân vật trung tâm (Ria) là cô gái mang mái tóc rắn, có khả năng hóa đá người khác, chính vì vậy, cô thuộc nhóm “dị biệt”, bị xã hội xem là hiểm họa. Câu chuyện được kể không theo mạch tuyến tính mà đan xen giữa hiện tại và ký ức, khắc họa nỗ lực sinh tồn của các nhóm thiểu số. Tác phẩm nhằm tái trình hiện vấn đề về bản sắc và phát triển.

   Hai câu chuyện kể trên đều chứa đựng những bi kịch cá nhân, có thể quy về một ẩn ức chung: nỗi cô đơn, sự lạc lõng và sự giằng xé nội tâm dữ dội của những thân phận dị biệt. Nhưng các câu chuyện đó chắc chắn không cô đọng lại ở những nỗi đau riêng lẻ mà cùng tái hiện sự hiện diện của những nghịch lý phát triển trong hệ sinh thái Đông Nam Á đương đại.

   Trong Người gác cổng, Nelroote là thành phố ngầm, nơi các sinh vật phi nhân loại sinh sống được mô tả với những đặc điểm điển hình: “Nelroote đã là một khu ổ chuột khi Ria đến cùng Barani, và có vẻ như nó sẽ là một khu ổ chuột mãi mãi. Có rất ít tiền thuê nhà phải trả và hầu hết mọi người đều phải vật lộn để sống qua ngày, vì vậy bất cứ điều gì bất hợp pháp thường bị bỏ qua trừ khi nó gây tổn hại trực tiếp đến ai đó”11. Không khí ẩm thấp, đời sống chật vật và cấu trúc tạm bợ của Nelroote tương phản hoàn toàn với Manticura trên mặt đất – một đô thị sạch sẽ, sáng bóng, được quy hoạch theo mô hình hiện đại hóa lý tưởng. Chính trong cấu trúc phân tầng ấy, Ria – người gác cổng có nhiệm vụ bảo vệ Nelroote khỏi các hiểm họa từ bên ngoài và cũng là người nhìn rõ nhất sự mong manh của cộng đồng dưới lòng đất trước các biến động trên bề mặt. Điều đáng nói ở đây, nhân vật Ria được lấy cảm hứng từ mẫu gốc Medusa trong thần thoại Hy Lạp12, nhưng trong Người gác cổng, hình tượng này được chuyển dịch sang một bối cảnh văn hóa - xã hội hoàn toàn khác. Nếu Medusa trong huyền thoại thường được nhìn bằng ánh mắt sợ hãi và bị quy giản thành biểu tượng của sự nguy hiểm thì Ria lại được Norasid kiến tạo như một cá thể dị biệt đáng thương hơn là đáng sợ. Khả năng hóa đá của cô không phải là quyền năng gây hại mà giống một cơ chế tự vệ gắn liền với chấn thương tâm lý và nỗi bất an kéo dài. Bằng cách đó, tác phẩm biến Medusa từ biểu tượng quái vật sang biểu tượng của một chủ thể bị hiểu lầm, phải tìm cách tồn tại giữa những chuẩn mực xã hội vốn không có chỗ cho sự khác biệt.

   Tính dị biệt của Ria, cũng như vị thế của không gian Nelroote, được thể hiện rõ qua việc nhà văn Norasid lựa chọn cách kể chuyện trong Người gác cổng. Như đã nói ở trên, tác phẩm vận hành bằng một cấu trúc tự sự đan xen giữa hồi tưởng và hiện tại, giữa thế giới mặt đất và lòng đất, giữa nhân loại và phi nhân loại. Đối với Ria và cư dân Nelroote, thời gian không vận hành tuyến tính; nó bị đứt quãng, chia cắt; ký ức của Ria được tái hiện như những mảnh vỡ, thời gian của cô là chuỗi gián đoạn giữa ẩn náu và chạy trốn.

   Sự hiện diện của Ria và cộng đồng Nelroote dưới lòng đất hoàn toàn là chi tiết giả tưởng nhưng được sử dụng như một ẩn dụ sắc sảo về cấu trúc xã hội Singapore đương đại. Nếu Manticura đại diện cho khát vọng vươn tới một quốc gia-đô thị hoàn hảo, sạch sẽ và lý tính thì Ria đại diện cho phần bị che khuất của quốc gia ấy: những con người, những ký ức và lối sống không phù hợp với mô hình phát triển được đặt ra.

   Trong Khói trời lộng lẫy, nhân vật Di ngay từ đầu đã bị tách khỏi gia đình hạt nhân truyền thống. Nghề nghiệp của cô cũng đầy tính ám dụ, công việc “lắng nghe” thiên nhiên mà Di làm thể hiện nỗ lực bảo tồn tự nhiên. Khi quyết định mang theo đứa em trai cùng cha khác mẹ đến cồn Bần, Di đã chủ động lựa chọn ly khai khỏi môi trường đô thị: “Rằng tôi tới đây chờ đợi một sự lãng quên, giống ông Sáu Câu từng chịu án giết người, giống chị Thắm lẩn tránh những đòn ghen của bà vợ lớn, giống chị Thiện bỏ lại ở quê chồng con và món nợ hụi hè... Những người mà họ nợ dù tình cảm hay tiền bạc, biết họ ở đây, nhưng không ai đuổi theo. Cái cồn nằm giữa dòng sông Mê mênh mông, tự nó như một chốn lưu đày”13. Cồn Bần, do vậy, không chỉ là một không gian địa lý đơn thuần với đặc điểm cô lập (nằm giữa dòng sông Mê) mà còn là ẩn dụ cho một nơi không cố định, không hi vọng, nơi tập hợp những con người đang gánh chịu hệ quả của chính sách công nghiệp hóa nông thôn, ô nhiễm môi trường và sự rạn vỡ các mô hình làng xã truyền thống.

   Rõ ràng cả hai tác phẩm này đều lựa chọn giọng kể từ những không gian bị tách ra khỏi dòng chảy đô thị. Tác giả của Người gác cổng để Ria kể từ lòng đất, nơi tiếng nói của cộng đồng Nelroote bị bao phủ bởi sự dè chừng, cách biệt. Tác giả của Khói trời lộng lẫy để Di kể từ cồn Bần, một không gian xa xôi gần như bị quên lãng. Chính từ những điểm nhìn ấy, các nghịch lý phát triển và tổn thương sinh thái dần lộ diện.

   Việc quan sát Nelroote trong Người gác cổng hay cồn Bần trong Khói trời lộng lẫy cho thấy một nghịch lý nổi bật của Đông Nam Á đương đại: những nơi chịu tổn thương sinh thái nặng nề nhất lại chính là những nơi con người cần được quan tâm nhiều nhất bởi họ ít có khả năng cất lên tiếng nói của mình.

   Đối lập với Nelroote, Manticura được Norasid mô tả như một thành phố tuyệt đối trật tự và đầy sự mới mẻ: “Suy cho cùng, Manticura vốn rất chú trọng đến việc “làm sạch”. Đến mức mà cả khu mua sắm Jankett Town không còn lấy một tòa nhà nào tồn tại từ trước thời kỳ “Hai Phân Nửa” cách đây hơn bốn mươi năm”14. Một chính sách hiện đại hóa triệt để được biện minh bằng lập luận “rất chú trọng đến việc làm sạch”, để rồi kết quả là xóa sổ không chỉ thiên nhiên mà còn cả các giá trị lịch sử (không còn lấy một tòa nhà nào tồn tại từ trước thời kỳ “Hai Phân Nửa”). Thay thế vào đó là “các trung tâm mua sắm với đỉnh tháp văn phòng cao chót vót trên những con đường tắc nghẽn. Đám đông người đi lại trên vỉa hè”15; “Không một tòa nhà nào dọc theo dãy phố đó mà không phát ra thứ ánh sáng nhân tạo – dù là rực rỡ, le lói hay lập lòe – trong ánh hoàng hôn dần buông”16. Sự mờ nhạt của thiên nhiên và các dấu tích của quá khứ trong không gian đô thị không được Norasid tái hiện bằng các sự kiện kịch tính mà như một tiến trình diễn ra âm thầm, tương thích với cách Rob Nixon nói về “bạo lực chậm”: những tổn thương môi trường khó nhận thấy ngay lập tức nhưng tích lũy lâu dài. Ở Manticura, cảm quan về tự nhiên dần bị thay thế bởi sự hiện diện dày đặc của những yếu tố nhân tạo (ánh sáng, kiến trúc công nghiệp, dòng người di chuyển), qua đó cho thấy tác động của tiến trình đô thị hóa lên ký ức và cảnh quan thành phố.

   Tóm lại, dù không đặt trọng tâm vào thiên nhiên theo nghĩa truyền thống, Người gác cổng vẫn hé lộ một dạng sinh thái đặc thù của đô thị hiện đại: những không gian bị nén lại, bị che khuất và hoạt động tạm bợ. Ở đó, yếu tố môi trường không chỉ là cây cối hay cảnh quan mà là toàn bộ điều kiện sống của cộng đồng cần được tính đến trong các mô hình phát triển. Tầng ngầm Nelroote luôn trong tình trạng thiếu thốn, bất ổn, phụ thuộc, mong manh, trở thành minh chứng cho một kiểu tổn thương sinh thái trong đô thị hiện đại.

   Với Khói trời lộng lẫy, bản thân nhân vật Di được xây dựng dựa trên sự kết hợp của nghịch lý: cô từ chối bước vào thế giới hiện đại nhưng lại không thể níu giữ và duy trì một thiên nhiên nguyên sơ. Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp và trải nghiệm cá nhân, Di tiếp tục nhận thấy nghịch lý trong nhiều cấp độ: từ cấp độ cá nhân đến hệ thống chính sách và cả những quan niệm nền tảng về bảo tồn.

   Cấp độ thứ nhất, trong những ứng xử mang tính cá nhân, “họ có thể giẫm lên những mầm cây vì tin rằng những cái cây này không bao giờ sống sót được mười năm tuổi [...] Họ có thể nhấm nháp rượu rắn với chim sẻ nướng dù biết đó là những con cuối cùng, họ đã giữ cuộc đời chúng bằng tiếng hót, bằng hình ảnh chúng sà xuống sân như một bầy lá rụng... và đem cất trong Viện, là xong”17. Con người hiểu được sự hữu hạn của thế giới xung quanh nhưng vẫn chiếm hữu hoặc phá hủy nó, đó là biểu hiện của sự đứt gãy mối liên kết giữa con người với tự nhiên.

   Cấp độ thứ hai, trong những chính sách phát triển ở địa phương, khi hiện đại hóa – vốn là mục tiêu và chỉ dấu của tiến bộ, lại trở thành áp lực đối với môi trường sinh thái và cả văn hóa truyền thống: “Dòng sông trước nhà ngoại tôi người ta chặn lấp, những chỗ còn lại thành những ao tù đầy nước”, “khi cái đình thần Thạnh Hưng xây lại, sơn phết như “tuồng hát bội”, khi người ta làm cửa cho những ngôi nhà vốn bao đời mở phơi lòng, khi người ta dẫn nhập nước mặn vào đồng”18. Rõ ràng quá trình cải tạo để phát triển ở đây đã không quan tâm đến những đặc thù văn hóa bản địa, dẫn đến làm biến dạng di sản tự nhiên và di sản phi vật thể.

   Ở cấp độ cao hơn - cấp độ tư tưởng, “Người ta ung dung trong lúc thiên nhiên vẫn không ngừng biến mất”; “Con người trừng trị thiên nhiên bằng cách hủy hoại, hạ nhục nó. Còn thiên nhiên trả thù bằng cách nào em biết không? Nó biến mất”; “Hơn ai hết, anh hiểu cái mà Viện đang gìn giữ là vẻ đẹp không hoàn hảo, chúng đã chết một phần, chúng không có cảm giác trên da thịt, mùi vị... Chúng là sự níu kéo vô vọng của con người”; “Những vẻ đẹp được nhốt trong phòng lưu trữ của Viện là những tiếng kêu thét tuyệt vọng, bất lực trước mất mát, sự run rẩy của nỗi buồn, bởi quá nhiều thứ ta sẽ không bao giờ thấy lại ngoài đời”19. Đây là cực điểm của nghịch lý: thiên nhiên sống động được bảo tồn bằng cách trưng bày hiện trạng bất động của nó. Tương tự, trong Người gác cổng, những sinh vật bị hóa đá, bị giam giữ hay bị loại bỏ khỏi không gian xã hội cũng là biểu tượng cho các “sinh thể” vốn không phù hợp với tốc độ và logic phát triển.

   Cậu bé Phiên – em trai Di bất đắc dĩ bị tách khỏi cộng đồng mà lẽ ra cậu thuộc về. Nhân vật này, có thể coi là một “thử nghiệm” cho quan điểm bảo tồn cứng nhắc, “đóng khung” của Di khi cô từ chối mọi sự tiếp xúc từ bên ngoài đối với Phiên (không đến trường, không bạn bè, không tương tác). Ban đầu Phiên hoàn toàn thích ứng với mô hình cuộc sống khép kín mà Di định dạng cho cậu. Nhưng rồi Phiên bắt đầu nhìn thấy một thế giới khác ở phía bên kia cây cầu, nó dần nhận ra sự thiếu thốn và khác biệt của mình. Nhu cầu “hướng ngoại” của Phiên là dấu hiệu của thái độ khước từ vị trí mà Di đã áp đặt lên cậu. Trong nghĩa rộng, mối quan hệ Di - Phiên là phúng dụ cho sự căng thẳng giữa các hình thức bảo tồn mang tính áp đặt với nhu cầu dịch chuyển và khao khát khẳng định bản sắc của các cộng đồng dân cư trẻ.

   Soi chiếu từ góc nhìn của Fredric Jameson, tự sự của Di không chỉ kể về một cá nhân bất hạnh mà vận hành như một phúng dụ dân tộc: những đổ vỡ riêng tư của cô (đứt gãy gia đình, bất lực trước sự biến mất của cảnh quan, nỗ lực bảo tồn rơi vào vô vọng) phản chiếu sự bối rối của cả một cộng đồng trước sự tan rã của ký ức sinh thái và các mô hình văn hóa từng ổn định. Di là một chủ thể bị đặt giữa hai sự giằng xé: quá khứ không thể gìn giữ và tương lai chưa thể nắm bắt; mở rộng ra, đó còn là tình thế lúng túng của cộng đồng: khao khát giữ gìn những giá trị cội nguồn nhưng lại thiếu các cơ chế bền vững để duy trì chúng. Nỗi hoang hoải của Di: “Tôi đứng trong khói và tự hỏi, làm sao giữ được vẻ đẹp lộng lẫy này…”, “khi nắm chúng lại, tôi chỉ nghe những ngón tay mình xỏ vào lòng tay của chính mình” vừa diễn tả cảm giác mất mát riêng tư vừa tượng trưng cho một hiện thực mong manh và đầy bất an mà cộng đồng phải đối diện.

   Tóm lại, từ việc đặt Người gác cổngKhói trời lộng lẫy cạnh nhau, có thể nhận diện một cấu trúc tổn thương chung đang được trình hiện trong văn học Đông Nam Á đương đại. Ở bề mặt, những tổn thương sinh thái có thể dễ dàng nhận diện nhưng chính chúng lại hé lộ một nghịch lý phát triển sâu hơn.

   Nhìn dưới góc so sánh, Người gác cổng Khói trời lộng lẫy cho thấy sự suy thoái môi sinh, đồng thời cũng là một phúng dụ có tính khu vực: những sinh thể vẫn tồn tại nhưng ít được quan tâm trong quá trình phát triển, những không gian bị đặt bên ngoài tầm nhìn, những ký ức bị mài mòn trong nhịp biến động quá nhanh của hiện đại hóa. Sự gặp gỡ giữa hai tác phẩm được cụ thể hóa sắc nét nhất qua hai hình ảnh: một đô thị sạch sẽ đến mức vô hồn (Người gác cổng) và “những vẻ đẹp được nhốt trong phòng lưu trữ” (Khói trời lộng lẫy). Cả hai cùng phản ánh quá trình “vật hóa” tự nhiên, thứ mà con người đang cố gắng bảo tồn chỉ là cái vỏ của hệ sinh thái, trong khi linh hồn của nó (âm thanh, tập tính, môi trường sống) lại đang bị tiêu biến từng ngày. Điều này gợi nhắc đến hình ảnh trung tâm trong phim tài liệu Sự im lặng của mùa hè (2012) của đạo diễn Mai Đình Khôi, đó là tiêu bản của các sinh vật tự nhiên được lưu giữ trong bảo tàng, cũng có nghĩa là con người hình dung về tự nhiên gắn với nhận thức về sự mất đi hơn là nhận thức về sự sống, về trạng thái đang tồn tại.

   3. Kết luận

   Từ những phân tích trên, việc kết nối hai văn bản của văn học Việt Nam và Singapore cho phép nhận diện tính chất xuyên biên giới của vấn đề: dù trong không gian nông thôn hay đô thị, dù theo lối kể chuyện hiện thực hay giả tưởng, văn học Đông Nam Á đều hướng sự chú ý đến những giá trị cốt lõi của đời sống nhân loại – thiên nhiên, cộng đồng, ký ức và mô hình sống từng bền vững. Hai văn bản, dù xuất phát từ những bối cảnh rất khác nhau, đều gợi mở một dạng tự sự đặc thù: tự sự về những thế giới đang dần biến mất và những cộng đồng phải sống trong sự biến đổi ấy.

   Khi đặt lý thuyết phúng dụ dân tộc của Jameson bên cạnh khái niệm bạo lực chậm của Nixon, có thể thấy các tác phẩm không chỉ phản ánh những tổn thương sinh thái mà còn mở ra cách hiểu mới về những yếu tố chi phối đời sống xã hội. Sự “mâu thuẫn” giữa phát triển và bảo tồn, giữa ký ức và hiện tại xuất hiện trong cả hai văn bản dường như không còn là trạng thái riêng của một quốc gia mà có thể bắt gặp trong nhiều câu chuyện khác của khu vực. Những mâu thuẫn ấy không được trình bày bằng các hình ảnh kịch tính mà bằng những dấu hiệu nhỏ, lặp lại và âm ỉ, đúng với nhịp vận hành của bạo lực chậm.

   Điều đáng chú ý hơn cả là khi chúng tôi chọn đặt hai văn bản cạnh nhau, sự khác biệt giữa đô thị Singapore và nông thôn miền Tây Việt Nam không làm mờ đi tính chất liên kết của chúng; ngược lại, nó cho thấy tính đa dạng của những hình thức tự sự đang được hình thành để nói về sự biến thiên của khu vực. Người gác cổngKhói trời lộng lẫy, do vậy, là hai trường hợp có thể gợi mở mối quan tâm đối với những tác phẩm có góc nhìn tương tự trong văn học Đông Nam Á đương đại, từ đó có khả năng cảnh báo về một tương lai mà con người sẽ sống trong những “bảo tàng ký ức” hoặc những đô thị sạch sẽ nhưng vô hồn.

 

 

 

Chú thích:
* Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số 602.04- 2023.01.
1, 14, 15, 16 N. Norasid (2017), The Gatekeeper, Epigram Books.
2, 13, 17, 18, 19 Nguyễn Ngọc Tư (2022), Khói trời lộng lẫy, NXB. Trẻ.
3 Trần Thị Ánh Nguyệt: “Thiên nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Thị Ngọc Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái”, https://nguvan.hnue.edu.vn/.
4 Hoàng Thị Hiền Lê: “Những chỉ báo thiên nhiên trong trang văn Nguyễn Ngọc Tư (qua tập truyện Cánh đồng bất tận và Khói trời lộng lẫy)”, https://vjol. info.vn/, DOI: 10.18173/2354-1067.2022-0019.
5 W. P. Wong: “Recognising Racism: Nuraliah Norasid’s The Gatekeeper”, https://www.asiancha. com/, Access date: April 11, 2025.
6 W. H. Gui: “Neoliberalism and Two Novels of Speculative Fiction from Singapore”, Global South vol. 15, no. 1, p. 72-91.
7 I. Tan: “Medusa in Singapore”, Singapore Unbound, https://singaporeunbound.org/, Access date: April 11, 2025.
8 K. M. Wong: “Constructing Tuyunri in The Gatekeeper: An Interview with Nuraliah Norasid”, https://unravellingmag.com/, Access date: April 11, 2025.
9 Fredric Jameson: “Văn học các nước thế giới thứ Ba trong kỉ nguyên của chủ nghĩa tư bản đa quốc gia” (Đỗ Hường, Thái Hà lược dịch), Tạp chí Nghiên cứu văn học, 7.2015, tr. 8.
10 Rob Nixon (2011), Slow Violence and the Environmentalism of the Poor, Harvard University Press, Cambridge.
11 U. K. Heise (2008), Sense of Place and Sense of Planet: The Environmental Imagination of the Global, Oxford University Press Inc.
12 Medusa trong thần thoại Hy Lạp ban đầu là một phụ nữ xinh đẹp nhưng sau khi bị thần biển Poseidon xâm phạm trong đền thờ của nữ thần Athena, nàng bị Athena biến thành quái vật có mái tóc rắn và ánh mắt hóa đá.

Bình luận

    Chưa có bình luận