Nguyễn Đức Hạnh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, một trí thức đa tài, đồng thời là nhà giáo, nhà nghiên cứu lý luận, phê bình, nhà thơ và nhà văn. Những vai trò đó có lẽ đã góp phần đưa ông đến việc lựa chọn thể loại truyện ngắn thay vì tiểu thuyết bởi truyện ngắn vốn giàu chất thơ. Ông đã xuất bản tập truyện ngắn tiêu biểu là Tiếng chuông chùa Tử Đằng và nhiều truyện ngắn khác đăng rải rác trên các báo. Nhà văn Nguyễn Đức Hạnh đã đoạt các giải thưởng văn học như: giải Nhất về lý luận, phê bình văn học với công trình chuyên khảo tiểu thuyết Việt Nam; giải Ba Giải thưởng Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013; giải Khuyến khích truyện ngắn của Giải thưởng Cây bút vàng (Bộ Công an) năm 2020 cho truyện ngắn Viên đạn thứ ba; giải C Cuộc thi viết về hình tượng người lính cảnh vệ năm 2022 với hai bài thơ Những người hát bè trầm và Rừng cây chắn sóng. Bên cạnh thơ, truyện ngắn của ông tạo được dấu ấn đậm nét trong truyện ngắn Thái Nguyên đầu thế kỷ XXI. Văn ông có chất ngồn ngộn của tiểu thuyết nhưng được cô đọng trong khuôn khổ truyện ngắn nên phong phú chi tiết, đầy chất kỳ ảo và giàu chất thơ.
Năm 2022, tập truyện ngắn Tiếng chuông chùa Tử Đằng1 của Nguyễn Đức Hạnh gây tiếng vang lớn trên văn đàn Thái Nguyên nhờ phương pháp sáng tác gần gũi với khuynh hướng huyền ảo Mĩ Latinh và có sự kế thừa văn học truyền thống. Nhiều nhà phê bình đã quan tâm và đánh giá về tác phẩm của ông. Nhà văn Tiểu Mai nhận định đây là “khúc cua lạ trên văn đàn”, thể hiện sự tìm tòi “một lối viết khác” của Nguyễn Đức Hạnh2. Bút pháp của ông được đánh giá là giàu hình ảnh, đậm chất thơ, khai thác yếu tố kỳ ảo theo hướng nhân văn, không gây sợ hãi. Nhà phê bình Khang Quốc Ngọc nhấn mạnh tập truyện mang đậm màu sắc hiện sinh và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, với nhân vật đa diện và giọng văn đa dạng, linh hoạt, kết hợp giữa tự sự, giễu nhại và châm biếm. Ông ghi nhận yếu tố kỳ ảo được sử dụng một cách tự nhiên, không gây sốc3. Tác giả Hồ Thủy Giang cũng khẳng định Nguyễn Đức Hạnh đang “tìm tòi một lối viết khác”, sử dụng yếu tố huyền ảo, dị thường (hồn ma, sinh vật quái đản) để tạo nên “một kiểu viết riêng” độc đáo4.
Tuy nhiên, các đánh giá, phê bình này mới chỉ dừng lại ở việc khẳng định giá trị tác phẩm, vị trí và đóng góp của nhà văn chứ chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về cảm hứng nghệ thuật và đặc trưng thi pháp nghệ thuật truyện ngắn của ông. Do đó, mục đích của bài viết này là hệ thống, lý giải các cảm hứng nghệ thuật nổi bật và chủ đề tương ứng trong truyện ngắn của Nguyễn Đức Hạnh để tìm ra phong cách, đóng góp riêng của ông trong văn học Thái Nguyên đương đại, góp phần lấp đầy khoảng trống học thuật trên. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào tập truyện ngắn Tiếng chuông chùa Tử Đằng (2022) và một số truyện ngắn đăng trên báo của tác giả.
Thế giới tự sự của Nguyễn Đức Hạnh được thắp sáng bởi một quan niệm văn chương vị nhân sinh sâu sắc. Với ông, văn chương dù viết về đề tài nào thì cuối cùng vẫn phải hướng đến số phận của nhân dân, vận mệnh của đất nước, thân phận của con người trước mọi thử thách của lịch sử và đời thường nhiều nghiệt ngã. Chính la bàn tư tưởng này đã dẫn dắt ngòi bút của ông đi vào ba nguồn cảm hứng lớn, tạo nên phong cách độc đáo của truyện ngắn Nguyễn Đức Hạnh.
1. Cảm hứng về số phận con người và số phận văn chương
Cảm hứng lớn nhất trong văn xuôi Nguyễn Đức Hạnh là số phận con người với nỗi cô đơn, hoài nghi và đau thương thời hậu chiến, cùng hành trình kiếm tìm tình yêu và bản thể. Song song với mạch này là cảm hứng tự vấn về số phận văn chương của người viết.
1.1. Cảm hứng về số phận con người
Cảm hứng nghệ thuật lớn nhất và xuyên suốt trong văn xuôi Nguyễn Đức Hạnh chính là số phận con người. Các trăn trở hiện sinh của ông tập trung vào nỗi cô đơn, nỗi hoài nghi, đau thương thời hậu chiến, sự vật lộn mưu sinh trong danh lợi, cùng hành trình kiếm tìm tình yêu và bản thể. Nhân vật của Nguyễn Đức Hạnh thường là những con người lạc lõng, cô đơn trong xã hội. Họ trở nên xa lạ với chính đồng loại và đôi khi là với chính bản thể của mình. Trạng thái tồn tại phổ biến của các nhân vật là sự mất kết nối, không tìm thấy nơi an trú trong cộng đồng đồng loại, gia đình hay quê hương.
Gào thét khắc họa bi kịch của thân phận con người lạc lõng, cô độc giữa đồng loại nhưng lại tìm thấy chính mình ở một nơi ngoài lề xã hội. Nhân vật “hắn” bắt đầu bi kịch bằng sự cô độc tuyệt đối khi nhận công việc bảo vệ trên đảo khỉ, cảm thấy “giống Robinson trên đảo hoang”. Tuy nhiên, hắn lại tìm thấy hạnh phúc trong tình yêu dị loại với một con khỉ cái lông trắng. Tình yêu này được thiên nhiên chứng giám: cây cổ thụ thủ thỉ “Yêu nhau… yêu nhau…”5. Đảo khỉ trở thành một cộng đồng đạo đức liên loài, nơi không còn sự phân cấp người - vật mà chỉ còn sự cộng sinh, nâng đỡ. Bi kịch xảy ra khi hắn chọn quay lưng với tình yêu thuần khiết này để chạy theo danh lợi và áp lực xã hội. Hành động phản bội ấy bị thiên nhiên phán xét bằng tiếng chim họa mi cất tiếng rành rọt: “Phản bội!”. Cái chết của khỉ cái là bản án cuối cùng, tuyệt đối, khiến hắn không thể viết văn được nữa, văn chương của hắn chỉ còn là “xác chữ vô hồn”, rơi vào bi kịch hoang mang, bế tắc khi mọi thứ mất đi không thể trở lại như cũ. Tác phẩm mang tính hiện sinh sâu sắc và tinh thần sinh thái học hiện đại.
Truyện ngắn Phố Phiêu Bạt khắc họa những con người nhỏ bé, bị giông gió cuộc đời đẩy vào sự hoang mang, vô định khi những giá trị văn hóa bị xâm thực bởi đời sống hiện đại. Phố Phiêu Bạt là nơi tụ họp của những con người tha hương, cuộc đời họ là cuộc lưu đày không hồi kết của những linh hồn mỏi mệt. Sự xung đột giữa nhà thơ và người thợ rèn biểu tượng cho sự giằng xé giữa cái đẹp (tinh thần) và cái mạnh (thể xác). Sự hủy hoại cội nguồn văn hóa (giếng cổ bị lấp) dẫn đến sự tha hóa, nơi “càng thông minh càng ích kỷ, từ ích kỷ đến tàn bạo có bao xa?”6. Tuy nhiên, việc giếng cổ được phát lộ trở lại, vọt lên “nước màu hồng” là niềm hi vọng mong manh vào sự tái sinh của đạo lý.
Tóm lại, văn xuôi Nguyễn Đức Hạnh xoáy vào bi kịch số phận con người, khởi phát từ nỗi cô đơn tuyệt đối và sự đứt gãy trong kết nối xã hội, dẫn đến khủng hoảng bản ngã và sự phán xét nghiệt ngã từ chính thiên nhiên hay cội nguồn.
1.2. Cảm hứng về số phận văn chương
Văn xuôi Nguyễn Đức Hạnh không chỉ là nơi ông khám phá số phận con người mà còn là hành trình tự vấn sâu sắc về nghề viết và sứ mệnh của văn chương. Quan điểm sáng tác của ông thể hiện rõ qua nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” – một hình thức hóa thân của chính nhà văn – người đồng hành, chiêm nghiệm và tự soi chiếu vai trò người cầm bút của mình.
Thứ nhất, văn chương cần bắt nguồn từ tình yêu chân thật và lòng nhân hậu. Trong truyện ngắn Gào thét, tác giả đặt ra câu hỏi về nguồn gốc và sức sống của văn chương. Văn chương của nhân vật “hắn” (người viết) từng tràn đầy sức sống vì nó được nuôi dưỡng từ tình yêu trong sáng với khỉ cái lông trắng và thiên nhiên thanh khiết. Câu văn “nước mắt khỉ mặn hơn nước mắt người” là một tuyên ngôn nghệ thuật sâu sắc, khẳng định rằng văn chương đích thực phải bắt nguồn từ “tình yêu trong sáng, thánh thiện dù không cùng giống loài” và “lòng nhân hậu không biên giới”. Khi “hắn” rời đảo theo tiếng gọi danh lợi, “văn chương đích thực phải câm lặng” và những gì viết ra sau này chỉ còn là “xác chữ vô hồn”. Nguyễn Đức Hạnh khẳng định văn chương không dung thứ cho sự giả trá, với ông, viết văn không chỉ là lao động nghệ thuật mà còn là lao động đạo đức.
Thứ hai, văn chương là hành trình sáng tạo đầy thử thách và hiểm nguy. Trong Bến Tượng nghiêng trôi, thông qua cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa ba hồn ma văn nhân và một nhà thơ trẻ, tác giả chiêm nghiệm rằng văn chương “vừa rực rỡ, vừa độc hại, có thể cứu người, cũng có thể giết người”7. Chi tiết siêu thực ba hồn ma văn nhân “làm tình” để sáng tác là ẩn dụ cho thấy nghệ thuật có thể khiến người ta “điên loạn, kiệt quệ”. Dù vậy, tác giả vẫn tin tưởng văn chương phải kết tinh từ tài hoa, cảm xúc và gắn bó với đời sống.
Thứ ba, văn chương cần soi chiếu sự thật bị lãng quên. Trong Cuốn sách kỳ lạ, Nguyễn Đức Hạnh đặt ra sứ mệnh của văn chương phải lắng nghe và kể lại “những nỗi đau và hi vọng mà rất ít người trông thấy”. Các hồn ma liệt sĩ đau đớn nhất vì bị “lãng quên và bị phản bội”. Dù bản thảo của người viết bị từ chối vì quá “hoang đường ma quái” nhưng nó vẫn tồn tại dưới dạng ký ức và “những đoạn, những trang mới” tự nhiên xuất hiện trong sách lịch sử. Qua đó, tác giả khẳng định văn chương phải phản ánh sự thật, ngay cả khi sự thật đó “nằm dưới ba thước đất”8.
Thứ tư, người nghệ sĩ chân chính phải có cả tài năng và nhân cách. Trong Hoa Huê tình còn thơm, bi kịch của nhân vật “hắn” – người có tài nhưng “chỉ thấy TÀI mà không thấy TÌNH đâu”9 – là lời cảnh tỉnh. Hắn bị kết án phải tồn tại vĩnh viễn trong trạng thái lơ lửng, phi nghĩa vì thiếu lòng nhân ái và sự trung thực. Kết cục bi kịch của “hắn” là sự khẳng định nghệ thuật chân chính không chấp nhận sự giả tạo.
2. Cuộc tranh đấu của lương tri
Truyện ngắn Nguyễn Đức Hạnh cũng thể hiện mạnh mẽ cảm hứng về cuộc tranh đấu của lương tri con người trước cám dỗ vật chất, quyền lực và dục vọng.
2.1. Bi kịch tha hóa và hành trình chuộc lỗi
Truyện ngắn Tiếng chuông chùa Tử Đằng là một khảo sát sâu sắc của Nguyễn Đức Hạnh về bi kịch tha hóa và hành trình chuộc lỗi của con người trong xã hội hiện đại, nơi mà luật nhân quả không chỉ vận hành trong cõi siêu hình mà còn biểu hiện hữu hình trong đời sống cá nhân. Tác phẩm tập trung vào bi kịch tha hóa của ông lão chôn thai nhi, người đã từng sống phóng đãng, dụ dỗ nhiều cô gái có thai rồi nhẫn tâm bắt họ phá bỏ. Hậu quả của lối sống vô đạo ấy được vật chất hóa thành hình phạt mang tính nghiệp báo: lão bị ám ảnh bởi vong nhi và bị tai nạn khiến gương mặt biến dạng khủng khiếp, trở thành “nửa mặt người, nửa mặt quỷ”. Chi tiết ghê rợn này là biểu tượng đầy ám ảnh về sự tha hóa, cho thấy phần lương thiện của lão đã bị tội lỗi ăn mòn, biến lão thành nửa quỷ dữ. Hình tượng khuôn mặt phân thân ấy là sự trừng phạt của chính lương tâm đối với kẻ gây tội ác.
Tuy nhiên, nhân vật ông lão không chỉ đại diện cho cái ác, lão còn hiện thân cho một con người đang tuyệt vọng chuộc lỗi. Sự giày vò của lương tri đã buộc lão phải sống để trả “món nợ đời”. Từ sau biến cố ghê rợn, lão sống như kẻ hành khất, ngày ngày lặng lẽ thu nhặt các thai nhi xấu số mang ra nghĩa địa chôn cất. Hành động này là cách lão tự trừng phạt và gắng vớt vát lại phần “người” lương thiện đã đánh mất. Hành trình chuộc tội ấy được đặt trong sự đối thoại với thế giới đạo đức: Người cha của cậu bé “tôi” giảng giải về luật nhân quả rằng mọi tội ác rồi sẽ phải trả giá, bởi lương tâm và trời đất sẽ không dung thứ kẻ làm ác. Bi kịch của ông lão đạt đến sự cứu chuộc qua tiếng chuông chùa Tử Đằng. Tiếng chuông vốn được coi là thanh âm thiêng liêng thức tỉnh con người hướng thiện. Câu chuyện đạt đến đỉnh cao huyền ảo khi tiếng chuông bỗng nhiên “có màu sắc”. Bí ẩn này được giải đáp: phép màu xảy ra bởi những linh hồn vô tội của các vong nhi đã hòa cùng cậu bé thiện lương nhập vào tiếng chuông chùa. Hình ảnh tiếng chuông màu nhiệm ấy là bằng chứng cho niềm tin lạc quan của tác giả vào sức mạnh cứu rỗi của lòng từ bi và sự hối cải chân thành. Tiếng chuông trở thành “tiếng nói của lương tri cộng đồng”, khẳng định thông điệp nhân văn cao quý rằng dù tội lỗi có lớn đến đâu, con người vẫn có thể tìm lại phần thiện lương nếu biết sám hối và yêu thương.
2.2. Đối diện với cái đa diện của đời sống: thức tỉnh lương tri qua con mắt trí tuệ của nhà Phật
Truyện ngắn Cổ tháp tiếp tục khai thác chủ đề hành trình thức tỉnh lương tri và thanh lọc tâm hồn giữa bối cảnh xã hội đầy bất công, phi lý. Tác phẩm tập trung vào nhân vật chính là một nhà văn trẻ qua những trải nghiệm kỳ bí tại ngôi chùa cổ có bốn tháp xá lợi, buộc anh phải đối diện với quá khứ tội lỗi và những mặc cảm sâu kín của nội tâm. Với Cổ tháp, Nguyễn Đức Hạnh sử dụng đậm nét yếu tố huyền ảo và biểu tượng linh thiêng để kiến tạo một không gian ranh giới đặc biệt, nơi ranh giới giữa thực và ảo, quá khứ và hiện tại bị xóa nhòa, mở ra cuộc đối thoại giữa nhân vật và lương tri của chính mình.
Trong truyện, nhân vật chính tình cờ đến ngôi chùa cổ để nghiên cứu về kiến trúc văn hóa. Ngay lập tức, anh bị cuốn vào những hiện tượng kỳ lạ, liên tục mơ thấy những hình ảnh quá khứ đan xen hiện thực, nghe thấy tiếng nhắc nhở của các vị cao tăng cổ đại và chứng kiến những cảnh tượng tiền kiếp mơ hồ. Những giấc mơ huyễn hoặc này mang tính chất “siêu thực nội tâm”, buộc anh phải suy ngẫm về cuộc đời mình. Anh kinh ngạc nhận ra ký ức bản thân như “một ngôi mộ cổ đang dần được khai quật”, mang lại sự tò mò ban đầu nhưng sau đó là “nỗi kinh sợ” khi đối diện với sự thật. Khủng hoảng tâm lý của nhân vật lộ rõ khi anh nhận ra mình đã khoác “chiếc áo” đạo đức bề ngoài, còn bên trong tâm hồn chưa hề trong sạch. Lời độc thoại nội tâm đứt quãng: “Khủng khiếp! Thấy mình ngập trong bùn nhơ tội lỗi… chính ta đâu phải đã trong sáng như gương…”10 cho thấy quá trình tự vạch trần bản thân, nhận thức sâu sắc về tội lỗi và trách nhiệm đạo đức.
Hình tượng bốn tòa tháp cổ trong chùa là biểu tượng triết học sâu sắc. Mỗi lần chạm vào tháp, nhân vật có cảm giác “nóng ran như có luồng điện chạy qua bàn tay”, như thể tòa tháp là một cánh cổng linh diệu đánh thức lương tri và ký ức quá khứ. Sự kết hợp giữa hiện thực và siêu thực đã biến ngôi chùa cổ thành một không gian ranh giới nơi quá khứ, hiện tại, ý thức, vô thức gặp gỡ.
Tư tưởng cốt lõi của truyện mang đậm màu sắc triết lý Phật giáo. Những mảnh ký ức đa diện giống như các mặt của ngôi tháp cổ, thể hiện sự đa diện của bản thể con người. Tư tưởng này gợi liên tưởng đến khái niệm “như thị” trong Phật học, tức là nhìn sự vật đúng như bản chất đa diện của nó, không bị chi phối bởi vọng tưởng hay định kiến. Cổ tháp là một ẩn dụ triết học sâu sắc, bốn mặt tháp cổ soi chiếu bốn phương, tựa như nhắn nhủ con người hãy nhìn mình và đời bằng cái nhìn toàn diện. Hành trình của nhân vật là sự tự cứu rỗi, một sứ mệnh đạo đức phải hoàn thành, khẳng định niềm tin rằng con người vẫn có thể tìm về phần thiện nếu dám đối diện và chuộc lỗi.
2.3. Hiện thực phê phán và khát vọng cứu rỗi lương tri
Truyện ngắn Phát minh của Nguyễn Đức Hạnh là một nghiên cứu độc đáo về sự tha hóa và khát vọng thức tỉnh lương tri trong xã hội hiện đại, nơi lòng tham, dối trá và ích kỷ lan tràn. Tác phẩm được xây dựng trên một tình huống giả tưởng khoa học – việc kỹ sư trẻ Tí phát minh ra một chiếc máy đánh giá và thanh tẩy nhân cách. Qua tình huống này, tác giả đã khéo léo vận dụng thủ pháp hiện thực phê phán kết hợp yếu tố trào phúng để phơi bày bi kịch đạo đức của con người và làm nổi bật khát vọng cứu rỗi lương tri.
Chiếc máy của Tí được miêu tả có khả năng “chiếu” ra phẩm chất đạo đức (màn hình chia đôi: nửa màu đỏ thể hiện ưu điểm, nửa màu đen là tha hóa), trở thành một biểu tượng độc đáo – tựa như “tấm gương công lý” phơi bày thiện ác trong mỗi cá nhân. Khi được thử nghiệm trên các quan chức và cán bộ, màn hình hầu như toàn một màu đen kịt, điều này tạo nên một tình huống hài hước mà chua chát, lột trần sự tham lam, dối trá và vô đạo đức của giới cầm quyền. Sự châm biếm đạt đến đỉnh điểm khi chiếc máy bị quá tải và phát nổ lúc thử nghiệm Chủ tịch huyện. Lời giải thích đầy ngây thơ của Tí rằng “Máy bị quá tải ạ”11 chính là bản án châm biếm sâu cay nhất, ngụ ý rằng tội lỗi của vị quan chức này đã vượt quá mọi giới hạn đo lường và khả năng thanh lọc của máy móc.
Ban đầu, Tí sáng chế chiếc máy với mục đích khoa học thuần túy. Nhưng dần dần, anh nhận ra nghịch lý cay đắng: công cụ dù ưu việt đến đâu cũng vô nghĩa nếu con người không đủ can đảm tự “chữa” lấy chính mình. Chi tiết chiếc máy có thể cải hóa thành công cậu thiếu niên hư Tèo là một ẩn dụ đạo đức, khẳng định rằng bản chất con người có thể cải hóa theo hướng thiện, miễn là có sự tác động đúng đắn. Tuy nhiên, khi đối diện với những kẻ có quyền lực, họ chỉ muốn dùng chiếc máy này để thao túng và trừng phạt kẻ dưới. Từ đó, Nguyễn Đức Hạnh khẳng định lương tri cá nhân mới là yếu tố quyết định cứu rỗi con người.
Cùng liên quan đến vấn đề con người sử dụng công cụ khoa học nhưng truyện Phát minh thể hiện sự đối lập rõ rệt với truyện Gió xanh của Phạm Duy Nghĩa, khi Gió xanh sử dụng vẻ đẹp siêu nhiên (cơn gió lam kỳ ảo) để thức tỉnh tâm hồn, còn Phát minh lại triển khai hành trình thanh lọc trong không gian hiện thực trào phúng, dùng tiếng cười đạo đức để phản tỉnh. Qua tác phẩm, Nguyễn Đức Hạnh gửi gắm thông điệp nhân văn: dù xã hội có tha hóa đến đâu, chỉ cần mỗi cá nhân còn giữ được “công cụ” lương tri trong lòng và dám sử dụng nó thì vẫn còn hi vọng cải biến và cứu chuộc. Chiếc máy ảnh không chỉ là dụng cụ cơ khí mà còn là biểu tượng triết lý, đại diện cho ánh sáng lý trí soi chiếu nhân cách.
2.4. Bên bờ vực tội ác: lựa chọn của lương tri trong đêm trường tăm tối
Truyện ngắn Năm canh bên bờ vực của Nguyễn Đức Hạnh là một khảo sát sắc lạnh, tập trung thể hiện cuộc giằng co khốc liệt giữa lương tri và bóng tối tội lỗi trong tâm hồn một con người. Khác biệt với những tác phẩm giàu yếu tố siêu nhiên khác, truyện này chủ yếu xoáy sâu vào độc thoại nội tâm và tâm lý, lột tả bi kịch hiện sinh khi nhân vật chính – một người nông dân nghèo đói lưu lạc tới bãi vàng, được gọi là “hắn” – bị hoàn cảnh cùng quẫn đẩy đến bờ vực tội ác. Thời gian chờ đợi kéo dài suốt năm canh (một đêm trường) trên con đèo vắng, nơi hắn phục kích để cướp số vàng khổng lồ của lão Khoa, chính là khoảng thời gian tâm lý để hắn trải qua cuộc đấu tranh dữ dội với lương tâm mình. Nhà văn đã mô tả quá trình tha hóa tư tưởng ấy một cách tinh tế. Một mặt, hắn tự biện minh cho tội ác sắp tới là hành động “hi sinh đời mình” vì gia đình. Hắn chấp nhận triết lý tàn bạo của bãi vàng: “Khôn ăn người, dại người ăn” và “Muốn thắng thì phải là kẻ mạnh. Mà muốn là kẻ mạnh thì phải ác”12. Sự giằng xé này được đẩy tới đỉnh điểm qua những cơn mê sảng, khi hắn bị hành hạ bởi ác mộng lương tri: túi vàng “đã ngập trong máu tươi” và hình ảnh gia đình (cha mẹ, vợ hiền) từ chối đồng tiền bất nghĩa.
Trong cuộc chiến nội tâm này, lương tri trỗi dậy qua các mảnh ký ức và biểu tượng. Hắn nhớ lời cha dặn phải giữ lấy phẩm giá: “Giấy rách vẫn phải giữ lấy lề”. Khi thời khắc quyết định đến, cám dỗ tội ác được nhân cách hóa bằng “một con rắn độc” oằn mình trườn tới, thôi thúc hắn hành động. Tuy nhiên, hắn lại mường tượng đôi mắt buồn trách của vợ, đôi mắt này trở thành “sức mạnh vô hình” bóp nghẹt cổ tay cầm mã tấu của hắn. Cuối cùng, lương tri chiến thắng: hắn “ném thanh mã tấu xuống vực sâu”13, hoàn thành sự thanh lọc tinh thần và dứt bỏ tội lỗi. Ngay khoảnh khắc hắn chọn làm người lương thiện, thiên nhiên đồng cảm với quyết định này: con rắn độc bò đi và núi rừng thức giấc, “muôn ngàn lá cây” lấp lánh như “ánh mắt thăm thẳm, dịu dàng, tin yêu và chờ đợi”14 nhìn hắn. Hành động ném hung khí là biểu tượng đẹp về sự dứt bỏ tội lỗi, khẳng định sức mạnh của phần người chiến thắng phần thú. Năm canh bên bờ vực là một minh chứng cho thấy lòng thiện vẫn có thể chiến thắng lòng tham khi con người biết tỉnh ngộ.
3. Kiếp hồng nhan trong giông gió cuộc đời
Hình tượng người phụ nữ (kiếp hồng nhan) trong truyện Nguyễn Đức Hạnh hiện lên vừa bi kịch vừa tỏa sáng với phẩm giá, đức hi sinh và vẻ đẹp tâm hồn bền bỉ.
3.1. Nạn nhân của định kiến, chiến tranh, hủ tục và bạo lực
Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Đức Hạnh, hình tượng người phụ nữ (kiếp hồng nhan) là đối tượng chịu đựng bi kịch sâu sắc, không chỉ do những xung đột nội tại mà còn bởi sự vùi dập của các thế lực ngoại cảnh như định kiến, chiến tranh, hủ tục và bạo lực. Các nhân vật nữ hiện lên trước hết là nạn nhân của lịch sử và xã hội, phải gánh chịu những tổn thương tinh thần và thể xác kéo dài.
Bút pháp hiện thực kỳ ảo được tác giả sử dụng triệt để trong việc khắc họa thân phận bị phán xét. Trong truyện ngắn Thăm thẳm bóng người, cô giáo Nhường là điển hình của phận hồng nhan bị định kiến xã hội khắt khe vùi dập. Cô bị gán cho hình ảnh con rắn – biểu tượng của dục vọng và cấm kỵ – dưới dạng thức kỳ ảo khi phải chịu đựng những lời đồn thổi cay nghiệt về việc không chung thủy trong thời chiến. Bi kịch giới tính và xã hội đạt đến đỉnh điểm với cái chết đột ngột của con trai cô – thằng Quyết. Chính sự kiện đau thương này, khi máu ộc ra từ xác thằng bé, đã phơi bày sự thật về người cha ruột (ông Sơn), nhưng mọi việc đã quá muộn. Mặc dù bi kịch đã được phơi bày, lời lẽ của người đời vẫn không ngừng lên án và chê bai, đẩy cô vào nỗi đau mất mát không thể đo đếm. Thậm chí, hình ảnh con rắn trắng chết quấn quanh mộ ông Sơn còn là biểu tượng ma quái cho nỗi đau và định kiến xã hội đã giết chết nhân phẩm người phụ nữ.
Sự tàn phá của chiến tranh không chỉ dừng lại ở bom đạn mà còn ở những vết thương tâm hồn dai dẳng thời hậu chiến, như được khắc họa trong Biển bỗng khóc òa. Bốn người phụ nữ (họa sĩ, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo) đều là nạn nhân của chiến tranh, mang vết thương tinh thần và sống trong nỗi cô đơn tuổi già. Họ phải đối mặt với một định kiến mới: bị xã hội coi là “bã đàn bà”. Tuy nhiên, tác phẩm đã đẩy bi kịch lên thành một khoảnh khắc hòa giải đầy chất nhân văn khi một trong số họ gặp lại người cựu Trung tá Việt Nam Cộng hòa, người từng bị chính cô bắn trúng khiến anh mất khả năng làm đàn ông. Cái ôm và lời xin lỗi giữa họ là hành động cứu chuộc ký ức, làm dịu đi những tổn thương mà chiến tranh để lại, khiến biển cả cũng “khóc òa” như tiếng nức nở của con người trước mất mát không thể gọi tên.
Dù là người lính chiến sĩ với phẩm chất “bông hồng thép”, nhân vật Vy trong Vĩnh biệt hoa thiên lý cũng không thoát khỏi bi kịch tình yêu dang dở vì những trói buộc của hoàn cảnh và định kiến15. Cô gái Hoa thiên lý tuy mang vẻ đẹp lý tưởng và lòng hi sinh cao thượng nhưng vẫn phải chịu đựng nỗi đau chia ly. Qua việc khắc họa những thân phận nữ giới này, Nguyễn Đức Hạnh đã thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc, đồng thời phê phán những rào cản vô hình mà xã hội áp đặt lên người phụ nữ, khẳng định phẩm giá và sự kiên cường của họ trước giông gió cuộc đời.
3.2. Bi kịch tình yêu
Truyện ngắn Nguyễn Đức Hạnh thường khắc họa người phụ nữ như một biểu tượng cô đặc cho nỗi đau nhân thế. Bi kịch tình yêu của họ thường dẫn đến sự đọa đày, tan vỡ, thậm chí hủy diệt do sự chi phối của dục vọng cá nhân hoặc các thế lực tàn khốc bên ngoài. Bi kịch này có thể được phân tích thành hai dạng thức chính: tình yêu bị phản bội bởi lòng tham cướp đoạt vật quý và tình yêu bị hủy hoại bởi dục vọng.
Trước hết, Nguyễn Đức Hạnh phơi bày góc tối của bản năng con người, nơi lòng tham và dục vọng bóp méo tình yêu thành công cụ trục lợi. Trong Nước mắt đá, cô gái bán ngô Say, với tình yêu chân thành, đã trở thành nạn nhân của một kẻ giả danh tình yêu để chiếm đoạt hòn đá trị bệnh cứu người. Tương tự, cô gái mù Mơ trong Hoa Huê tình còn thơm đã bị người yêu phụ bạc khi cố gắng chiếm đoạt cây hoa Huê tình bản mệnh – biểu tượng của phẩm giá và nghệ thuật chân chính. Cả hai nhân vật đều là nạn nhân của tình yêu bị lợi dụng cho lòng tham vật chất hoặc danh vọng. Giàng Thị Say chết oan uổng nhưng nỗi đau của cô được siêu hình hóa thành “nước mắt đá”, còn tiếng hát của Mơ (dù bị phản bội) vẫn mang lại niềm hi vọng.
Bên cạnh đó, tình yêu còn bị hủy hoại bởi dục vọng (bao gồm dục vọng danh tiếng và tiền tài). Các nhân vật nữ ở đây thường bị phản bội hoặc bị phong ấn số phận trong một không gian bi thương. Khỉ trắng trong Gào thét bị người yêu (gã nhà văn) bỏ rơi để theo đuổi danh vọng và tiền tài, dẫn đến cái chết bi thảm. Cái chết của khỉ cái là “bản án cuối cùng, tuyệt đối” cho kẻ phản bội. Ma Bảo Ngọc trong Kỳ nữ “số đỏ” và… là hình tượng “vàng thau lẫn lộn”, một người phụ nữ dùng nhan sắc (vũ khí tình dục) để thâu tóm vật chất và học vị nhưng cuối cùng vẫn chết thê thảm vì tình yêu trắc trở. Cô Lả trong Nước mắt Khau Vai thì mãi chờ lời hẹn ước của người yêu nhưng anh ta về thành phố lấy vợ là con cán bộ, còn cô tan biến vào không gian của hoài niệm dở dang. Những nhân vật nữ này đều chọn cái chết để giải thoát khỏi cuộc đời bạc bẽo đầy giả dối. Qua đó, Nguyễn Đức Hạnh khẳng định tình yêu, khi tách rời bản thể nguyên sơ và lòng nhân hậu, đều không thể tồn tại được.
3.3. Những người mẹ với nỗi đau và tình thương bất tử
Hình tượng người mẹ trong văn Nguyễn Đức Hạnh vượt qua bi kịch cá nhân để trở thành biểu tượng mẫu tử và quyền năng phán xét. Nhiều nhân vật người mẹ được khắc họa như nạn nhân nhưng tình yêu của họ lại mạnh hơn cả cái chết. Điển hình là người mẹ trong truyện ngắn Dưới đáy hồ, người đã chết đuối nhưng linh hồn cô không tan biến; thay vào đó, cô hóa thạch thành hình ảnh “con gấu mẹ khổng lồ đang ngửa cổ lên trời gào thét” trên tảng đá. Sự hóa thạch này là biểu tượng của tình yêu vĩnh cửu, một sự canh giữ bi thương kéo dài hơn ba mươi năm. Cô là vong hồn không thể siêu thoát, chờ đợi để thực hiện nốt thiên chức của mình – khẩn cầu chồng cứu đứa con trai lạc lối. Tình mẫu tử đã vượt qua mọi sự hủy hoại của thời gian và cái chết. Hình tượng này được đẩy lên tầm triết lý trong Đến chợ Mạnh Ma mà thương nước mắt. Người mẹ ở đây không còn là nạn nhân đơn lẻ mà là hiện thân của công lý, một quan tòa tối cao. Mái tóc bạc của bà được miêu tả “dày nặng dài quá gót” tượng trưng cho gánh nặng của quá khứ, của ký ức và nỗi đau đã ngấm vào xương tủy. Bà thể hiện tình yêu nghiệt ngã mang sức nặng của công lý khi từ chối tha thứ cho đứa con tội lỗi, bởi làm vậy là “phản bội lại hàng vạn người mẹ khác”. Đỉnh điểm là sự vật chất hóa nỗi đau khi bà “khóc không có nước mắt. Mỗi lần thổn thức là một giọt máu tươi ứa ra bên mép”16. Nước mắt bằng máu này trở thành năng lượng thanh lọc, chữa lành vết thương cho các linh hồn liệt sĩ khác. Qua đó, tác giả khẳng định người mẹ là tượng đài bi tráng về sự hi sinh vô tận và một tình yêu vĩnh cửu, mạnh hơn cả cái chết.
4. Kết luận
Truyện ngắn Nguyễn Đức Hạnh là sự kết tinh của quá trình tìm tòi sáng tạo “một lối viết mới cho những điều không mới”, định hình bởi khuynh hướng hiện thực kỳ ảo mang đậm màu sắc tâm linh và triết lý Việt Nam. Về mặt nội dung, ông kiến tạo một thế giới nghệ thuật xoay quanh những trăn trở vĩnh cửu về số phận con người, sự đấu tranh nội tâm của lương tri và bi kịch của người phụ nữ. Nhân vật của ông, dù là người sống, hồn ma hay loài vật kỳ dị, đều là phương tiện để ông đi tìm “hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người”, khẳng định niềm tin vào cái thiện và sức mạnh cứu rỗi của nghệ thuật. Tuyên ngôn sáng tạo của ông là: “Tính nhân văn và tính thẩm mĩ là hai tiêu chí sống còn để đánh giá một tác phẩm văn chương có ích hay vô ích”. Sự kết hợp độc đáo giữa hiện thực và kỳ ảo, cùng với các cảm hứng nhân sinh sâu sắc này, đã mang đến một làn gió mới cho văn xuôi Thái Nguyên, khẳng định vị trí đặc biệt của Nguyễn Đức Hạnh trong nền văn học đương đại Việt Nam.
Chú thích:
1 Nguyen Duc Hanh (2022), The Bell Sounds of Tu Dang Pagoda, Vietnamese Writers Association Publishing House.
2 Tieu Mai (2022): “The Bell Sounds of Tu Dang Pagoda - A Strange Bend in The Literary World”, available at: https://vanvn.vn/tieng - chuong - chua - tu - dang - khuc - cua - la - tren - van - dan/ (Accessed 11 August 2024).
3 Khang Quoc Ngoc (2022): “The Bell Sounds of Tu Dang Pagoda Drifts in Goosebumps”, available at: https://vanvn.vn/tieng-chuong-chua-tu-dang-troitrong-su-gai-gai-son-oc/ (Accessed 10 October 2025).
4 Ho Thuy Giang (2020), A Trial Identification of Nguyen Duc Hanh’s Short Stories, Van nghe Thai Nguyen Online Magazine, available at: Https:// www.vannghethainguyen.vn/thu - nhan - dien - truyen - ngan - nguyen - duc - hanh - p22580.html (Accessed 11 August 2024).
5, 6, 7, 8, 10, 11, 12, 13, 14 Nguyen Duc Hanh (2022), The Bell Sounds of Tu Dang Pagoda, Sđd, tr. 16, 146, 32, 229, 98, 248, 119, 122, 114.
9 Nguyễn Đức Hạnh (2022): “Hoa huê tình còn thơm”, available at: https://vanvn.vn/truyenngan-nguyen-duc-hanh-hoa-hue-tinh-con-thom/ (Accessed 11 August 2024).
15 Nguyen Duc Hanh (2023): “Farewell to the honeysuckle”, Saigon Literature Online Magazine, available at: https://vanhocsaigon.com/truyen-ngancua-nguyen-duc-hanh-vinh-biet-hoa-thien-ly/.
16 Nguyen Duc Hanh (2024): “At Manh Ma market, felt sorry for the tears shed”, Arts and Literature: Vietnamese Writers Association Online Magazine, available at: https://baovannghe.vn/dencho-manh-ma-ma-thuong-nuoc-mat-truyenngan-du-thi-cua-nguyen-duc-hanh-17604.html (Accessed 12 August 2024).