Khi nghiên cứu về văn hoá, học giả người Úc Chris Barker đã chỉ ra mối quan hệ giữa địa điểm, không gian và giới tính: “Giới tính là một nguyên lý tổ chức của đời sống xã hội thẩm mĩ trong những mối liên quan quyền lực. Do đó, cách kết cấu xã hội về địa điểm sẽ được định giới”1. Soi chiếu vào truyện viết về đô thị Việt Nam đương đại, người đọc nhận ra đô thị cũng là một văn bản văn hoá với cấu trúc quyền lực giới.
Từ góc nhìn nhân học văn hoá, vấn đề giới trong văn học không được xem như một thuộc tính sinh học cố định mà như một cấu trúc văn hoá - xã hội được kiến tạo, được duy trì và biến đổi thông qua các thực hành đời sống, diễn ngôn và quan hệ quyền lực. Văn học là một hình thức biểu đạt văn hoá đặc thù, vừa phản ánh vừa tham gia kiến tạo các mô hình giới, các chuẩn mực ứng xử và những phân tầng quyền lực gắn với giới tính trong những bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể. Tiếp cận nhân học văn hoá vì thế cho phép đọc văn bản văn học như một “tư liệu văn hoá”, nơi những kinh nghiệm giới được mã hoá và tái tạo nghĩa không ngừng. Trong tiểu thuyết Nhiều cách sống của nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang, độc giả cũng nhận ra sự vận động của cấu trúc quyền lực giới như thế trong đời sống văn hoá đô thị.
Một trong những biểu hiện nổi bật của sự chuyển dịch cấu trúc quyền lực giới trong tiểu thuyết Nhiều cách sống là sự suy giảm vị thế trung tâm của nam giới – vốn từng là trụ cột của các diễn ngôn văn hoá truyền thống và sự xuất hiện ngày càng rõ nét tiếng nói tiệm cận với tư tưởng nữ quyền, nơi thân phận và khát vọng của người phụ nữ được thể hiện với ý thức thoát ra khỏi sự quy chiếu của cái nhìn nam quyền. Đồng thời, bên trong lớp vỏ của không gian đô thị hiện đại, tiểu thuyết Nhiều cách sống của nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang đã hé mở những ẩn ức tâm lý thuộc về bản dạng tính dục, những nỗi niềm thầm lặng của những nhân vật đồng tính – những thân thể bên lề vừa bị che giấu vừa đang gắng sức phát ngôn. Vì thế, tác phẩm trở thành một môi trường biểu hiện và va đập của các diễn ngôn giới, tính dục và bản ngã cá nhân.
1. Đô thị và sự chuyển dịch vị thế của nam giới từ trung tâm ra ngoại biên
Quá trình đô thị hoá nhanh chóng đã kéo theo sự đa dạng hoá về sinh kế, lối sống và hệ giá trị. Một trong số những hệ quả của đô thị hoá là sự suy giảm tính độc tôn của mô hình nam giới là trung tâm vốn được bảo chứng bởi trật tự gia trưởng nông thôn. Trong không gian đô thị, nam giới không còn mặc nhiên giữ vị thế chủ thể trung tâm mà ngày càng bị đẩy ra các vùng ngoại biên biểu tượng, nơi quyền lực giới phải cạnh tranh với các chủ thể khác và chịu sự chi phối của những chuẩn mực mới về lao động, tiêu dùng, cảm xúc và đời sống cá nhân. Nhân học đô thị vì thế giúp nhận diện sự dịch chuyển này như một quá trình văn hoá phức hợp, phản ánh sự khủng hoảng và tái định nghĩa của nam tính trong bối cảnh hiện đại hoá.
Trong tiểu thuyết Nhiều cách sống của Nguyễn Quỳnh Trang, nhân vật Huy là một minh chứng tiêu biểu cho hình ảnh người đàn ông đô thị rơi vào khủng hoảng bản thể. Anh sống trong bất lực, cô đơn và trống rỗng giữa thành phố hiện đại, không tìm được lối thoát tinh thần lẫn sự kết nối cảm xúc để rồi chọn cái chết như một hình thức kết thúc nỗi lạc loài triệt để. Tương tự, nhân vật Du cũng hiện lên như một thân thể lưu lạc giữa những mối quan hệ rỗng nghĩa, không đủ khả năng kiến tạo ý nghĩa sống hay xác lập vai trò trong các thiết chế xã hội. Du làm tình với các cô gái không phải để phô diễn bản lĩnh giới mà là một cách để chạy trốn quá khứ, “chạy trốn con người từng là chính mình”2. Sự yếu đuối nội tại của Du được phơi bày rõ qua cái nhìn của Lâm Lâm, người tình gắn bó với anh. Cô nhận ra rằng đằng sau vẻ ngoài lạnh lùng là một tâm thế hoảng sợ, bất lực và mất khả năng tin vào tình yêu: “Tôi đã chạm tay vào sự yếu đuối bạc nhược thảm hại của Du... Từ bao giờ anh đã quá hoảng sợ với những phù phiếm quặn thắt mang tên Tình yêu. Anh không muốn đặt niềm tin vào bất cứ người phụ nữ nào nữa... Anh chấp nhận và kéo tuột tôi vào đời anh chỉ vì ngoài tôi ra anh không còn có khả năng chia sẻ nỗi đau với bất cứ ai khác”3. Qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang, Du không còn là kẻ chinh phục mà trở thành biểu tượng của một thân thể tổn thương, co rút và bất lực trước những đòi hỏi của tình yêu và ký ức. Những biểu tượng nam giới như Huy hay Du trong tiểu thuyết Nhiều cách sống cho thấy sự đảo chiều trong mã giới tính văn học đương đại: người đàn ông không còn là chủ thể quyền lực mà trở thành biểu tượng cho sự tan rã bản sắc, sự vô định trong hành động và sự đứt gãy trong định vị xã hội, phản ánh sâu sắc khủng hoảng hiện sinh của con người trong không gian đô thị hậu hiện đại.
Nhận thức về sự khủng hoảng của vị trí người đàn ông trong gia đình và xã hội Việt Nam đương thời, không phải đến tiểu thuyết của Nguyễn Quỳnh Trang mới có. Trước đó, trong nhiều trang văn của các nhà văn đương đại như Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Huy Thiệp…, độc giả cũng đã nhận ra sự thất thế của một mẫu hình nam tính “tinh hoa”. Đó là “những tiếng than về sự mất mát một mẫu hình nam tính tinh tuyển của đất kinh kỳ văng vẳng trong văn Nguyễn Việt Hà: “Hà Nội ơi, hình như mày đã hết thật những quý ông rồi”4. Nhưng có lẽ các quan niệm về giới và nữ quyền khi được chính phụ nữ kiến tạo và bồi đắp sẽ mở ra những trải nghiệm và những hình dung khác biệt, đặc sắc riêng mà diễn ngôn của nhà văn nam không thể chiếm lĩnh hay thay thế một cách trọn vẹn. Khi trở thành chủ thể tự biểu đạt, các nhà văn nữ đương đại như Nguyễn Quỳnh Trang đã trực tiếp phác thảo khuôn diện bản thân, hình thành những phương thức thể hiện giới và những ngôn ngữ gắn với thân thể và kinh nghiệm sống của chính mình, từ đó thể hiện tuyên ngôn nữ quyền nơi đô thị.
2. Đô thị và tiếng nói tiệm cận nữ quyền
Đô thị là không gian đặc thù nơi tiếng nói nữ quyền có điều kiện hình thành, cất lên và lan toả thông qua những thực hành đời sống mới và các mạng lưới xã hội mở. Sự tập trung dân cư, tính đa dạng nghề nghiệp và nhịp sống hiện đại của đô thị tạo ra các khoảng trống văn hoá làm lung lay trật tự gia trưởng truyền thống của nam giới, qua đó mở rộng khả năng tự ý thức, tự biểu đạt và thương lượng quyền lực của phụ nữ. Trong không gian này, nữ giới không chỉ xuất hiện như đối tượng bị quy định bởi các chuẩn mực giới mà dần trở thành chủ thể phát ngôn, kiến tạo diễn ngôn về thân thể và khát vọng tự do. Nhân học đô thị giúp nhìn nhận tiếng nói nữ quyền không như một hệ tư tưởng trừu tượng mà như một thực hành văn hoá cụ thể trong bối cảnh đô thị hoá và hiện đại hoá. Theo lý thuyết nữ quyền sinh thái, gánh trên lưng vai trò chăm sóc và nuôi dưỡng gia đình, người phụ nữ thường là những người bị ảnh hưởng đầu tiên và nặng nề trước sự biến đổi của môi trường tự nhiên, trong đó có sự đô thị hóa. Nhưng cũng bởi lẽ đó, phụ nữ đã và đang đóng vai trò tiên phong, hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề như: đảm bảo cuộc sống tinh thần, an sinh xã hội lẫn các kết nối văn hoá, cộng đồng đô thị. Nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang, bằng sự tự ý thức nữ quyền, đã xác lập một tiếng nói của giới mình trong tiểu thuyết Nhiều cách sống khi vừa cắt nghĩa thân phận phụ nữ trong môi trường đô thị vừa thể hiện khát vọng nữ quyền và sự chuyển dịch vị thế, vai trò của nữ giới nơi đô thành.
2.1. Thân phận phụ nữ chốn đô thị
Trước hết, Nhiều cách sống của Nguyễn Quỳnh Trang đã phản ánh những tác động phức tạp của không gian đô thị đối với đời sống nữ giới. Từ cảm thức về một thành phố lên ngôi của chủ nghĩa tiêu dùng, nhà văn đã ghi nhận những chấn thương tâm lý và khủng hoảng căn tính của phụ nữ. Thông qua tiếng nói tự sự tiệm cận nữ quyền, các nhà văn không chỉ chất vấn bản chất của thành phố hiện đại mà còn tái cấu trúc đô thị như một văn bản đa tầng, trong đó thân phận phụ nữ trở thành điểm giao cắt giữa các mã quyền lực, sinh thái và văn hóa, góp phần làm lộ rõ những giới hạn và nghịch lý của tiến trình đô thị hóa.
Lâm Lâm trong Nhiều cách sống được nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang xây dựng là một cô gái lớn lên cô đơn, bơ vơ ngay chính trong gia đình có đầy đủ cả cha và mẹ nhưng không hạnh phúc. Nỗi bất hạnh đến từ cuộc hôn nhân gượng ép, không tình yêu giữa cha và mẹ cô. Họ đến với nhau chỉ vì một phút nông nổi, lầm lỡ của tuổi trẻ nhưng cuộc hôn nhân kéo dài không có sự thủy chung mà vẫn phải giả vờ chung sống. Chính sự trách nhiệm nửa vời của họ đã đẩy Lâm Lâm vào trạng thái bị bỏ rơi, cô đơn giữa gia đình. Khi cái gia đình vá víu ấy chính thức tan vỡ thì Lâm Lâm thật sự bị bỏ rơi.
Lớn lên, dù là một nhà báo, một nhà văn nhưng Lâm Lâm lại đau đớn nhận ra mình đã tự đánh mất chính mình trong những văn bản “lãng đãng” hay “nửa mùa” bởi cô không còn cảm nhận được sự hiện diện của bản thân trong thế giới đô thị. Lâm Lâm rơi vào trạng thái khủng hoảng khi thốt lên chua chát: “Có ai đọc truyện của tớ khi thấy cái tên đâu?”. Tên tuổi, nghề nghiệp, sản phẩm sáng tạo, tất cả đều mất khả năng quy chiếu về bản thể, khiến cô trượt dài trong cảm giác lạc lõng và bị tha hóa. Trong dòng thời gian tuyến tính, những mốc điểm như: buổi sáng, buổi chiều, buổi sáng thứ hai, trước thời điểm này ba tuần… được nhắc đến trong truyện không còn là công cụ tổ chức đời sống mà trở thành biểu tượng của một vòng quay vô hồn, cơ giới hóa sự tồn tại con người. Nhân vật hiện lên như một “cái máy biết thở”, sống thụ động, rập khuôn và mất đi ý chí để phản kháng, cũng không còn nơi nào để neo giữ niềm tin.
Qua tiểu thuyết Nhiều cách sống, Nguyễn Quỳnh Trang không chỉ kể lại những bi kịch cá nhân mà còn phác họa chân dung của những người phụ nữ bất hạnh, đang rơi vào trạng thái hoảng loạn bản thể, mất phương hướng. Tiểu thuyết vì thế trở thành một diễn ngôn mang tính hiện sinh sâu sắc. Nhưng cũng chính trong tiếng nói hoài nghi, tự vấn ấy, tác giả cũng phát hiện ra những khát vọng tái thiết bản ngã vang lên giữa đô thị hiện đại như một tín hiệu về tiếng nói nữ quyền.
2.2. Khát vọng khẳng định nữ quyền và sự chuyển dịch vị thế, vai trò của nữ giới nơi đô thị
Nữ quyền thể hiện trong truyện Nhiều cách sống của Nguyễn Quỳnh Trang là hình ảnh những người phụ nữ dám thể hiện tiếng nói tự do, tự trị và giá trị của bản thân. Họ tự do phô diễn những khoái lạc dục vọng của mình và luôn mang trong mình khát vọng hạnh phúc và bản thể. Bên cạnh đó, người phụ nữ còn thể hiện được vị thế của mình khi đóng vai trò thức tỉnh, gắn kết nam giới với tự nhiên và cuộc sống nơi đô thị.
Nhân vật Lâm Lâm được khắc họa như một biểu tượng của nội lực nữ giới trong xã hội đô thị hiện đại. Cô mang trong mình khát vọng yêu thương và khả năng chữa lành sâu sắc. Dù từng hoài nghi, trống rỗng và lạc lõng giữa nhịp sống đô thị nhưng khi đến với Du, cô không chỉ khao khát một tình yêu đích thực mà còn chủ động vun đắp, xây dựng một mối quan hệ bền vững. Lời thì thầm trong lúc làm tình của cô: “Anh có thể nói yêu em được không? Chỉ cần nói vào những lúc này thôi” không phải là một biểu hiện yếu mềm đơn thuần, mà ngược lại, đó là sự khẳng định bản lĩnh cảm xúc của người phụ nữ hiện đại khi họ biết mình cần gì và dám chủ động đối diện với mong muốn. Tình yêu của Lâm Lâm không chỉ cứu rỗi Du khỏi trạng thái lạc hướng mà còn tái sinh anh trong vai trò một con người biết sống, biết cảm, biết hi vọng. Chính cô là người gieo mầm sống yêu thương, gợi mở một tương lai mới cho Du: “Tôi thấy nụ cười anh thật rạng rỡ. Những người bạn quanh tôi thật rạng rỡ. Mọi giây phút từng qua trong quá khứ dù có hình dáng của những vết thương sâu cũng rạng rỡ. Kể cả tương lai, tương lai không biết trước cũng thật rạng rỡ... Rạng rỡ theo cái nhìn của tôi”5. Cái kết của Nhiều cách sống không chỉ khép lại hành trình tình cảm giữa Lâm Lâm và Du mà còn mở ra một tầng nghĩa sâu xa về sự tái sinh tinh thần, về khả năng hàn gắn và chữa lành của tình yêu trong bối cảnh đô thị hiện đại đầy mất mát và rối loạn. Lời tự sự cuối truyện của Lâm Lâm: “Tôi thấy nụ cười anh thật rạng rỡ... kể cả tương lai, tương lai không biết trước cũng thật rạng rỡ...” không chỉ mang tính miêu tả cảm xúc mà là một tuyên ngôn về sức mạnh nội tại của tình yêu, của khả năng cảm nhận và tái tạo thế giới từ chính ánh nhìn của người phụ nữ. Ở đây, Lâm Lâm đã trở thành biểu tượng cho chủ thể kiến tạo lại thế giới, hồi sinh sự sống. Từ “rạng rỡ” được lặp lại năm lần ở kết truyện như một cấu trúc biểu tượng nhấn mạnh vào sự biến đổi nhãn quan: quá khứ từng đau đớn, hiện tại từng lạc lối, thậm chí cả tương lai bất định đều được nhìn dưới ánh sáng mới – ánh sáng của tình yêu và khả năng cứu rỗi của người phụ nữ. Cái kết cũng đồng thời khẳng định sự đảo chiều hệ mã giới truyền thống: nếu Du là hình ảnh tượng trưng về một người đàn ông bất lực, lạc lối, thì chính tình yêu từ Lâm Lâm – một người phụ nữ đô thị tưởng như yếu mềm lại mang sức mạnh dẫn dắt, thức tỉnh. Điều đó cho thấy vai trò của người phụ nữ trong truyện viết về đô thị đương đại không còn là sự cam chịu hay bị động như trong xã hội cũ, mà ở chỗ kiến tạo giá trị, phục hồi ý nghĩa sống và trở thành trung tâm nhân đạo mới giữa một xã hội đô thị đang bị rạn vỡ.
Đặc biệt, trong truyện Việt Nam viết về đô thị đầu thế kỷ XXI, ý thức về tình dục và vẻ đẹp thân thể của nữ giới đã được khắc họa như một chiều kích mới để khẳng định vị thế cá nhân và bản sắc giới. Nếu trong văn học truyền thống, sex thường bị quy chiếu vào các phạm trù đạo đức thì trong truyện đô thị đương đại, sex đã trở thành một diễn ngôn đa tầng, nơi người phụ nữ ý thức rõ ràng về dục tính như một phần của nhân tính và coi đó là phương tiện biểu đạt khát vọng sống, bản năng tự do và đặc biệt là tuyên ngôn nữ quyền. Vẻ đẹp thân thể không còn bị giấu giếm hay trói buộc trong những khuôn mẫu đạo lý mà được nhìn nhận như một biểu tượng của sức mạnh nội tại, sự tự chủ và niềm kiêu hãnh. Việc người phụ nữ biết mình đẹp, hài lòng với vẻ đẹp ấy và thậm chí là sử dụng nó như một quyền năng mềm trong giao tiếp xã hội cho thấy sự thay đổi căn bản trong cách diễn giải về tình dục và nữ tính. Từ chỗ bị chi phối bởi các hệ quy chiếu nam giới, đến nay người phụ nữ đã trở thành chủ thể tự kiến tạo và tự biểu hiện trong không gian văn học đô thị hiện đại.
Trong tiểu thuyết Nhiều cách sống, nữ nhà văn thế hệ 8X Nguyễn Quỳnh Trang không né tránh hay vòng vo mà lựa chọn lối viết trực diện, trần trụi, thậm chí lạnh lùng khi mô tả các trải nghiệm xác thịt. Cách tiếp cận thẳng thắn ấy không chỉ nhằm gây sốc hay phơi bày hiện thực mà còn cho thấy một nỗ lực trong ý thức giành lại quyền phát ngôn về cơ thể và tình dục từ góc nhìn nữ giới. Có thể xem đây là biểu hiện của một khát vọng nữ quyền tiềm tàng – nơi người viết không chỉ phản kháng sự vật hóa phụ nữ trong văn chương nam giới mà còn chủ động định nghĩa lại thân thể, cảm xúc và dục tính của nữ giới theo cách của chính họ. Tình dục trong truyện hiện ra như một cách để con người tìm lại chính mình trong bối cảnh đô thị, nơi mà các mối quan hệ bị rút ngắn, các giá trị bị xóa mờ và cảm xúc cá nhân dễ dàng bị tan biến trong guồng quay của cuộc sống. Cảnh tượng “hai cơ thể không áo quần úp lên nhau”6 hay hình ảnh người phụ nữ “giạng chân ra, phía giữa sâu hun hút, khô khốc... Anh đã lẫn vào bề sâu thăm thẳm không đáy của huyệt mộ”7 không chỉ là biểu hiện của một hành vi thể xác mà còn là ẩn dụ về sự trống rỗng nội tâm, về những mối quan hệ thiếu chiều sâu và thiếu kết nối tinh thần. Tình dục trong tác phẩm Nhiều cách sống không được lãng mạn hóa hay lý tưởng hóa mà hiện lên dưới dạng ngôn ngữ thô ráp, rã rời, có khi gần như bạo liệt. Ẩn giấu sau những hoan lạc là nỗi tuyệt vọng và cả khát khao được yêu thương, được chạm tới và được thuộc về một ai đó, dù chỉ trong khoảnh khắc. Có thể thấy bối cảnh đô thị, sex không còn chỉ là một hành động thể xác mà còn là một ngôn ngữ của tồn tại, một nỗ lực cuối cùng để xác lập mối liên hệ giữa người với người. Khi nhân vật nữ cảm nhận “nỗi hoan lạc đang bừng bừng nóng riết đến thế”8, đó không chỉ là khoái cảm xác thịt mà còn là cảm giác được sống, được hiện hữu một cách toàn vẹn, mê đắm và đầy bản năng – điều mà cuộc sống đô thị thường nhật vô hồn không thể mang lại. Điều đáng lưu ý là, khác với văn học truyền thống vốn mô tả tình dục một cách ẩn dụ, kín đáo, nữ nhà văn trẻ Nguyễn Quỳnh Trang đã chọn lối viết trực tiếp, cởi mở, phù hợp với một thế hệ độc giả trẻ sống trong thời kỳ hậu hiện đại, nơi những chuẩn mực đạo đức truyền thống đang được nhìn lại và chất vấn. Qua đó, người đọc nhận ra cơ thể nữ giới không còn là một biểu tượng bị định nghĩa bởi nam giới mà trở thành một ký hiệu phản kháng, nơi người phụ nữ định hình lại chính mình giữa ma trận ánh sáng, dục vọng và những mã ký hiệu của đời sống đô thị hiện đại.
Như vậy, hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Nhiều cách sống của Nguyễn Quỳnh Trang không chỉ là chủ thể văn hóa mà còn là một ký hiệu biểu đạt cho tiến trình tái định nghĩa nữ quyền trong bối cảnh xã hội đô thị hiện đại. Việc họ chủ động phô diễn dục vọng, khoái lạc và cảm xúc riêng tư không chỉ là sự giải thiêng hoá hình ảnh phụ nữ truyền thống mà còn là hành vi phá vỡ các mã ký hiệu cũ vốn gắn liền với sự cam chịu, câm lặng và bị quy chiếu theo nam quyền: “Với nữ giới, tính dục là tự do bản thể, là niềm kiêu hãnh giới tính, là nữ quyền. Từ ý thức bình đẳng giới, văn học nữ trở thành những diễn ngôn mới về tính dục nữ. Lấy nữ giới làm chủ thể trải nghiệm, chủ thể trần thuật… nhiều tiểu thuyết nữ đã công phá vào những “vùng cấm kỵ” để khẳng định tiếng nói, khẳng định “quyền” của phụ nữ (trong đó có những “quyền năng” từ giới tính)”9. Chính qua sự hiện diện và hành động của những nhân vật nữ này, truyện đô thị đương đại đã kiến tạo một không gian ký hiệu học nơi giới nữ không còn là “ký hiệu bị định danh” mà trở thành “ký hiệu chủ thể hóa”, mang năng lực sản sinh và can thiệp vào hệ thống nghĩa của văn bản. Sự chuyển dịch từ vị thế bị nhìn sang vị thế được nhìn, và nhìn lại chính mình, chính là biểu hiện sinh động của nữ quyền trong diễn ngôn văn học đô thị Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Đây cũng là tiếng nói nữ quyền rất mạnh mẽ của các nhà văn nữ đương đại Việt Nam khi “họ ý thức về giới nữ và quyền bình đẳng nữ giới cụ thể hơn và lý tính hơn. Họ có cách cảm nhận khác và ý thức khác về vai trò, địa vị của mình trong cuộc sống hiện đại của thời bình... Giờ đây, văn - thơ nữ trẻ đã làm nên một bước ngoặt mới trong cách nhìn nghệ thuật về phái tính và âm hưởng nữ quyền so với văn - thơ nữ trước đó”10.
3. Đô thị và nỗi lòng đồng tính
Tiếp cận đô thị như một liên văn bản văn hoá, tiểu thuyết Nhiều cách sống của nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang còn kiến tạo tiếng nói đồng tính như một mã ký hiệu giới đặc thù, qua đó bộc lộ những tầng sâu phức tạp của căn tính con người trong không gian đô thị hiện đại. Với một cái nhìn nhân văn, nữ nhà văn này đã đi sâu mô tả và nhận diện những che giấu về thân phận, những mặc cảm giới tính của cộng đồng song tính, lưỡng giới nơi đô thị. Khai thác chủ đề đồng tính cũng là phương tiện để tác giả khám phá bản thể con người – nơi hội tụ cả sức mạnh và sự yếu đuối, cả những khát khao phá vỡ sự áp đặt và được trở về đúng bản thể. Nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang một mặt chỉ ra những tổn thương tâm lý, mặc cảm thân phận của những người đồng tính, một mặt khẳng định những khát khao mãnh liệt được sống là chính mình của họ. Khi viết về tính dục lệch pha của giới tính thứ ba, nữ nhà văn không khai thác từ góc nhìn xã hội học về giới mà đi sâu vào những ẩn ức tâm hồn con người. Trên hành trình tìm về bản thể, họ đi tìm giới tính thật như một sự khẳng định bản ngã của chính mình.
Viết về chủ đề đồng tính trong tiểu thuyết Nhiều cách sống, nhà văn 8X Nguyễn Quỳnh Trang tiếp cận giới tính từ một diễn ngôn trực diện và giải phóng, đặt căn tính đồng tính vào trung tâm của quá trình kiến tạo ý nghĩa. Nhân vật Ni được xây dựng như một ký hiệu giới tự trị, trong đó dục tính không còn là phần bị che giấu hay lệch chuẩn cần được biện minh mà trở thành một diễn ngôn tự thân, công khai và quyết liệt. Ni là một lesbian tự do, cô sống và tự tìm cách thỏa mãn tất cả những ham muốn thực tại. Lời tự nhận là “đứa hư hỏng” cùng phát ngôn: “Chị có thể ngủ với bất cứ ai, không cần phân biệt nam hay nữ, không biết ít hay nhiều tuổi, không cần tìm hiểu thế là đúng hay sai. Cứ là muốn thì làm. Làm ngay tức khắc”11 đã bộc lộ một cách triệt để khát vọng đồng tính của nhân vật – một khát vọng vượt ra ngoài giới hạn nhị nguyên tính dục, đồng thời khẳng định quyền tự do tuyệt đối trong việc lựa chọn đối tượng yêu và cách biểu đạt ham muốn. Ở đây, khát vọng đồng tính không còn là một trạng thái cảm xúc mơ hồ hay ẩn ức bị kìm nén mà là một tuyên ngôn hiện sinh táo bạo. Nhân vật không chỉ thừa nhận xu hướng tính dục “khác” mà còn khẳng định sự tự chủ về dục tính. Đó chính là con người thực của cô, cô không giấu giếm, không chịu sự ràng buộc của ai và đó cũng là con đường nhân vật sống thực với giới tính của mình, được trở về đúng với bản thể tự nhiên nhất. Nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang đã đi sâu vào lối sống, tâm tư của thế hệ trẻ nơi đô thị, trong đó có cộng đồng đồng tính, với những lời tự vấn, đối thoại với thế hệ mình và cả đối thoại chuyển giao thế hệ. Thế hệ ấy mang lối sống đặc thù của thời kỳ đô thị hóa. Thông qua việc kiến tạo nhân vật Ni, nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang đã tiếp cận và khám phá những tầng sâu khuất trong thế giới nội tâm của một người đồng tính nữ bằng một thái độ nghiêm cẩn và thấu cảm. Tác giả dành cho Ni một vị trí tồn tại đầy tự chủ trong không gian tiểu thuyết – nơi cô hiện lên như một con người sống động, luôn say mê trong lao động nghề nghiệp và không ngần ngại bộc lộ những ham muốn cá nhân, kể cả những khát vọng thể xác. Nói cách khác, thông qua nhân vật Ni, nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang đã kiến tạo một mô hình ký hiệu giới mới của con người đô thị trẻ: một chủ thể ý thức rõ về bản ngã dục tính, chủ động biểu đạt và không chấp nhận bị quy định bởi các chuẩn mực đạo đức - xã hội áp đặt. Trong không gian đô thị như một liên văn bản văn hoá, nhân vật Ni vì thế trở thành dấu hiệu của sự dịch chuyển diễn ngôn giới, nơi căn tính đồng tính nữ được đọc lại như một hình thức tồn tại hợp pháp, tự do và giàu năng lực tự kiến tạo ý nghĩa.
Nhưng cũng trong tiểu thuyết Nhiều cách sống, độc giả còn bắt gặp những sự lựa chọn sống và chết khác. Đó là Huy khi chọn cái chết. Đây không đơn thuần là một kết thúc sinh học mà là một hành vi biểu hiện sâu sắc cho bi kịch của sự lạc giới – nơi chủ thể không tìm thấy điểm tựa định danh trong các hệ thống bản sắc truyền thống, đồng thời cũng bị vắt kiệt bởi những áp lực đồng hóa, kỳ thị và tha hóa từ xã hội hiện đại. Dưới góc nhìn phân tâm học và ký hiệu học văn học, cái chết của Huy là một tuyên ngôn cực đoan cho khát vọng giải phóng bản thể, khi mà không còn con đường nào khác để khẳng định quyền tự chủ cá nhân trong một thế giới phủ định:
“Huy rời xa cuộc đời thực, làm bạn với cái chết vĩnh hằng, cũng là một lựa chọn cho cách sống của Huy.
Huy không thể làm được gì ngoài việc ấy cho Huy.
Tôi không thể giúp Huy.
Không ai nắm được Huy mà giữ lại.
Huy không thuộc về ai.
Huy thuộc về chính Huy.
Làm chủ vận mạng của mình...
Huy được quyền quyết định.
Thêm một lần chết, lại có thể thêm một lần hồi sinh. Sống lặp lại theo một dạng thức khác mới”12.
Từng câu văn ngắn, được ngắt dòng trong lời độc thoại nội tâm của tôi – Lâm Lâm giống như một chuỗi khẳng định về quyền chủ thể của Huy – một con người từng bị xã hội phủ định bản thể giới tính nhưng đồng thời cũng là sự thú nhận bất lực của những người xung quanh trước lựa chọn cuối cùng của Huy. Cái chết của Huy không mang màu sắc bi lụy mà chính là một tuyên ngôn sinh tồn theo lối nghịch lý: chết đi để sống lại, để “thêm một lần hồi sinh. Sống lặp lại theo một dạng thức khác mới”. Ở đây, cái chết không còn là kết thúc mà là một ký hiệu tái sinh, nơi Huy giành lại quyền làm chủ vận mệnh, lựa chọn từ chối sự tồn tại bị ép buộc để hướng đến một tồn tại khác – nơi không còn khuôn mẫu, không còn ràng buộc.
Như vậy, cái chết của Huy là một diễn ngôn phản kháng, một lựa chọn cá nhân mang tính triết học và văn hóa sâu sắc khi bản sắc giới không còn có thể được diễn đạt bằng hệ thống ký hiệu hiện hành của xã hội dị giới chuẩn mực. Việc nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang không né tránh mà trực diện mô tả những cảm xúc bản năng của nhân vật đã góp phần phá vỡ các lằn ranh đạo đức giả và đặt ra vấn đề về sự công nhận bình đẳng những cách sống “khác” trong xã hội hiện đại. Qua đó, nữ nhà văn trẻ không chỉ đề xuất một diễn ngôn mới về giới và dục tính nơi đô thị mà còn khẳng định quyền tồn tại trọn vẹn của các bản thể thiểu số trong đời sống văn hóa, nghệ thuật đương đại.
Tóm lại, có thể khẳng định rằng tiểu thuyết Nhiều cách sống của Nguyễn Quỳnh Trang đã phác hoạ rõ nét một quá trình tái cấu trúc quyền lực giới trong bối cảnh đô thị đương đại. Không gian đô thị trong tiểu thuyết không còn bảo lưu vị thế độc tôn của nam giới như trong trật tự xã hội truyền thống mà trở thành môi trường làm lộ rõ sự dịch chuyển, phân tán và khủng hoảng của quyền lực nam tính. Ngược lại, tiếng nói nữ quyền được cất lên ngày càng mạnh mẽ, thể hiện sự tự ý thức, tự chủ và khát vọng vượt thoát khỏi những ràng buộc giới mang tính áp đặt. Đồng thời, đô thị cũng hiện diện như một không gian phát ngôn cho những cảm thức giới từng bị khuất lấp, đặc biệt là nỗi niềm của người đồng tính – những chủ thể luôn phải giằng xé giữa ẩn ức cá nhân và áp lực phán xét của cộng đồng. Qua đó, Nhiều cách sống không chỉ ghi nhận những biến đổi của đời sống giới trong bối cảnh đô thị hoá mà còn kiến tạo một diễn ngôn văn học mang chiều sâu nhân học, nơi bản sắc giới được nhìn nhận như một quá trình văn hoá động, liên tục được diễn giải, định vị lại trong các thực hành đời sống của con người hiện đại.
Chú thích:
* Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số 602.04-2024.02.
1 Chris Barker (Đặng Tuyết Anh dịch 2011), Nghiên cứu văn hoá lý thuyết và thực hành, NXB. Văn hoá thông tin, tr. 518.
2, 3, 5, 6, 7, 8, 11, 12 Nguyễn Quỳnh Trang (2014), Nhiều cách sống, NXB. Hội Nhà văn, tr. 153, 161, 286, 141, 147, 214-215, 239, 274.
4 Đặng Thị Thái Hà (2021): ““Đọc lại” văn xuôi Nguyễn Việt Hà từ góc nhìn phê bình giới”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 10, tr. 109.
9 Thái Phan Vàng Anh (2025): “Tiểu thuyết nữ đầu thế kỉ XXI – Ý thức giới của những diễn ngôn cá nhân”, https://nguvan.hnue.edu.vn.
10 Hồ Tiểu Ngọc (2022): “Ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 2, tr. 72.