ĐỌC ''NGƯỜI ĐẸP SAY NGỦ'' CỦA YASUNARI KAWABATA NGHĨ VỀ ''THIẾU NỮ NGỦ NGÀY'' CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

''Thiếu nữ ngủ ngày'' là bài thơ Nôm truyền tụng nổi tiếng của Hồ Xuân Hương. Hầu hết các ý kiến đều cho rằng, cảm hứng chủ đạo của bài thơ là phê phán những kẻ ngụy quân tử. Đặt bài thơ bên cạnh tiểu thuyết ''Người đẹp say ngủ'' của Y. Kawabata, bài viết đưa ra cách hiểu khác về ''Thiếu nữ ngủ ngày''. Từ đó, thấy được tài năng, tầm vóc của Hồ Xuân Hương qua những gặp gỡ, tương đồng về tư tưởng thẩm mĩ với Y. Kawabata – một tài năng kiệt xuất của văn học Nhật Bản thế kỷ XX.

   Lịch sử văn chương nhân loại có những gặp gỡ, trùng hợp đến kỳ lạ. Không chỉ trong sáng tác dân gian mà cả trong văn học bác học. Xa cách ngàn trùng về không gian, khác biệt về thời đại, hệ hình tư duy nghệ thuật, hình thức thể loại, ngôn ngữ… nhưng khi hiện diện bên nhau, không ít tác phẩm lại có nhiều gặp gỡ, tương đồng. Người đẹp say ngủ của Y. Kawabata và Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương là hiện tượng như vậy.

   Thiếu nữ ngủ ngày là bài thơ Nôm làm theo thể thơ thất ngôn bát cú, tương truyền là của Hồ Xuân Hương. Nói là tương truyền bởi lẽ cho đến nay những gì ta biết được về Hồ Xuân Hương còn nhiều khoảng trống, ngay cả khi Hồ Xuân Hương đã được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa. Những câu hỏi như: Có hay không một nhà thơ Hồ Xuân Hương trong thơ ca Việt Nam trung đại? Nếu có thì đó có phải là nữ sĩ? Những bài thơ Nôm được truyền tụng có đúng là của Hồ Xuân Hương?... đến nay chưa được giải đáp một cách thuyết phục. Sự thiếu hụt tư liệu và những vênh lệch trong nguồn tư liệu hiện có đã tạo ra những vùng mờ, nghi vấn về hiện tượng Hồ Xuân Hương. Trong lịch sử văn chương nhân loại, những nghi ngờ về một hiện tượng trong quá khứ không phải là điều hiếm gặp. Ở thời đại sử thi, Homere (Hy Lạp), Vanmiky, Vyasa (Ấn Độ)… là những hiện tượng như vậy. Tuy nhiên, cho đến nay, trong khói sương huyền thoại, hòa trộn thực hư, Homere, Vanmyki, Vyasa vẫn được xem là những nhà thơ lớn nhất trong lịch sử văn chương nhân loại. Iliat, Odixe, Ramayana, Mahabharata là những sử thi bất hủ, kết tinh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của người Hy Lạp, Ấn Độ trong thời đại sử thi. Ở Việt Nam, hơn hai thế kỷ qua, bất chấp mọi nghi vấn, ngờ vực, trong tâm thức người Việt Nam, Hồ Xuân Hương là biểu tượng cho năng lực sáng tạo, ý thức nữ quyền của người phụ nữ trong xã hội nam tôn, nữ ti. Số lượng tác phẩm Hồ Xuân Hương để lại không nhiều, chủ yếu là thơ Nôm truyền tụng, làm theo thể thơ Đường luật. Mỗi bài thơ đều có độ mở, sức gợi, vượt thời gian, chứa đựng tiếng nói nội tâm pha trộn, đan cài nhiều sắc thái, cung bậc cảm xúc, suy tư về con người, đặc biệt là về người phụ nữ. Trong số 48 bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, có tới 30 bài viết về người phụ nữ, theo những cảm hứng khác nhau. Ở đó, quan niệm về cái đẹp, nhu cầu tình dục, đời sống bản năng của con người, đặc biệt là người phụ nữ, được bộc lộ trực tiếp, ấn tượng bằng một ngôn ngữ thơ gần gũi, giản dị. Nếu mới lạ trong tư tưởng, cảm xúc và nghệ thuật biểu hiện là yếu tố làm nên sức hấp dẫn, mê hoặc của thơ, thì thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã hội đủ những yếu tố đó. Ở mỗi thời đại, tùy thuộc vào ý thức, tâm thế, sự trải nghiệm, người đọc có cách hiểu, cách cảm riêng về thơ Hồ Xuân Hương. Không ít trường hợp, nó được gợi dẫn từ sáng tác của nhà văn hiện đại. Thiếu nữ ngủ ngày là một bài thơ như thế:

   “Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
   Tiên nữ nằm chơi quá giấc nồng.
   Lược trúc chải cài trên mái tóc
   Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
   Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm
   Một lạch đào nguyên suối chửa thông.
   Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
   Đi thì cũng dở ở không xong”.
                                           (Theo bản Quốc văn tùng ký)1

   So với văn bản bài thơ in trong Đào Thái Tôn – Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục (NXB. Giáo dục, Hà Nội, 1996), văn bản trên đây có vài khác biệt ở câu 2 và câu 3: “tiên nữ” hay “thiếu nữ”; “biếng cài” hay “chải cài”?. Với thơ Nôm Hồ Xuân Hương, việc xác tín văn bản là hết sức khó khăn, thậm chí là không thể. Bởi lẽ các văn bản đều tồn tại, phổ biến theo hình thức truyền tụng trước khi được in ấn. Không ít bài thơ có sự khác biệt giữa các văn bản. Việc khảo cứu, phân tích, vì vậy, phải dựa trên những yếu tố có tính ổn định, mang dấu ấn phong cách thơ Hồ Xuân Hương. Theo đó, sự khác biệt về từ ngữ ở hai văn bản thơ nói trên không ảnh hưởng nhiều đến giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của bài thơ. Tuy nhiên, theo tôi, các từ “thiếu nữ”, “biếng cài” thể hiện rõ nét hơn tính chỉnh thể của bài thơ và phong cách ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương, gần với tâm hồn, điệu sống của người bình dân. Bài thơ làm theo thể thất ngôn bát cú, theo lối tự sự - trữ tình. Không gian, thời gian, sự việc, nhân vật đều hiện rõ trên bề mặt ngôn từ. Người đọc có thể lược thuật bài thơ qua nhân vật, chi tiết, sự việc cụ thể nhờ sự nổi bật đến mức đậm đặc của tính chuyện. Đó là điều người đọc xưa nay đều nhận thấy. Vậy sự khúc mắc, khác biệt trong cách cảm, cách hiểu bài thơ là ở đâu? Dựa trên những phân tích, diễn giải của nhiều người đọc, có thể thấy sự khác biệt trong cách hiểu bài thơ Thiếu nữ ngủ ngày chủ yếu là ở hai cấu kết. Trong đó, tâm điểm là ở sự “dùng dằng đi chẳng dứt” của người quân tử khi tình cờ bắt gặp vẻ đẹp trinh nguyên của thiếu nữ đang ngủ say trong “hây hẩy gió nồm đông”. Đọc Người đẹp say ngủ của Yasunari Kawabata giúp ta có cái nhìn mới về bài thơ Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương, nhất là ở hai câu kết.

   Trong văn học Nhật Bản thế kỷ XX, Yasunari Kawabata (1899-1972) là một tài năng trác việt, góp phần đưa văn học Nhật Bản hòa vào dòng chảy của văn học thế giới trong thời hiện đại. Giải Nobel Văn học (1968) trao cho Y. Kawabata với bộ ba tiểu thuyết Xứ tuyết, Cố đô, Ngàn cánh hạc là sự thừa nhận mang tính toàn cầu tư tưởng, tài năng nghệ thuật của ông. Y. Kawabata đã đi con đường riêng để hiện đại hóa văn học Nhật Bản, trước hết là văn xuôi. Ông đến hiện đại từ truyền thống. Trong đó, duy mĩ, duy tình là đặc điểm xuyên suốt, bao trùm trong tác phẩm của Y. Kawabata. Niềm bi cảm “Đẹp và buồn”2 (aware) thấm đẫm trong từng trang viết. Tại lễ trao giải Nobel Văn học, ông được mệnh danh là “Kẻ tôn thờ cái đẹp mong manh và ngôn ngữ hình ảnh u buồn của hiện hữu trong cuộc sống thiên nhiên và thân phận con người”3. Trong sáng tác của Y. Kawabata, cái đẹp mất đi trong khoảnh khắc và cũng tái sinh, hiện hình trong khoảnh khắc. Đó là cái đẹp có thực mà mong manh đến hư ảo, chỉ có thể cảm nhận trong sự lặng im, bất lực của ngôn từ. Mỗi sáng tác của Y. Kawabata là bản giao hưởng ngân vang một nỗi u buồn, da diết. Người đẹp say ngủ – tiểu thuyết cuối cùng của ông là một tác phẩm như vậy.

   Tiểu thuyết Người đẹp say ngủ được Y. Kawabata viết trong thập niên 60 của thế kỷ XX, xuất bản lần đầu vào năm 1969. Cũng như Xứ tuyết, Cố đô, Ngàn cánh hạc, Người đẹp say ngủ không có cốt truyện, hay đúng hơn là một cốt truyện tối giản, ít nhân vật, không nhiều chi tiết. Sức hấp dẫn của tác phẩm là ở chất trữ tình, sức khơi gợi, tính đa nghĩa của hình ảnh, biểu tượng. Nhân vật chính của tác phẩm là Eguchi, 67 tuổi, đang sống trong nỗi ám ảnh về sự cô đơn, bất lực của tuổi già. Qua một người bạn, Eguchi được biết ở một vùng núi cách xa thành phố có một lữ điếm dành riêng cho những người đàn ông lớn tuổi. Ở đó có nhiều cô gái trẻ, đẹp, phục vụ khách theo một cách thức hết sức đặc biệt. Khi đêm đến, các cô gái tự nguyện uống thuốc ngủ, ngủ say trong trạng thái khỏa thân để khách thỏa thích ngắm nhìn, mơn man vẻ đẹp trinh nguyên, căng tràn sức sống của người con gái tuổi đôi mươi. Thoạt đầu, Eguchi đến lữ điếm như một sự hiếu kỳ. Nhưng về sau, ông đến với sự háo hức, thôi thúc mãnh liệt mà chính ông không hiểu vì sao. Trong một năm, Eguchi đã đến lữ điếm năm lần, được ngắm nhìn vẻ đẹp khác nhau của sáu người con gái, tuyệt nhiên không một lần chung đụng thân xác. Dưới ánh sáng mờ ảo, trong căn phòng tĩnh mịch, u buồn, mỗi lần ngắm nhìn núm vú hồng, bờ vai cong, vẻ đẹp trinh nguyên, quyến rũ của người con gái, miền ký ức của Eguchi được đánh thức. Khoảnh khắc đó, ông sống với những cảm giác pha lẫn buồn, vui về thân phận con người, đặc biệt là những người phụ nữ mà ông đã từng gắn bó, gần gũi. Sử dụng thủ pháp dòng ý thức (Stream of consciousness) và độc thoại nội tâm, Y. Kawabata đã diễn tả một cách tinh tế những bí ẩn, phức tạp trong con người bản nguyên của nhân vật. Ở đó, ý thức và vô thức; lý trí và cảm xúc; lương tri và dục vọng... đều hiện lên sống động, tự nhiên. Với lối viết ấy, ngay khi mới ra đời, Người đẹp say ngủ đã hứng chịu không ít sự chỉ trích của giới phê bình văn học Nhật Bản. Tác phẩm bị xem là “dâm thư”, trái với thuần phong mĩ tục truyền thống. Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau, Người đẹp say ngủ đã được xem là một kiệt tác văn chương, thể hiện sự kết hợp nhuần nhị giữa truyền thống thẩm mĩ phương Đông và kỹ thuật tự sự của văn học phương Tây hiện đại, được dịch, giới thiệu ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Đọc Người đẹp say ngủ, Gabriel Garcia Marquez (Giải Nobel Văn học 1982) đã không tiếc lời ca ngợi tài năng sáng tạo của Y. Kawabata. Trong một bài viết, ông đánh giá Người đẹp say ngủ là một kiệt tác của văn học thế giới và thừa nhận đã học tập được rất nhiều kỹ thuật tự sự của Y. Kawabata. Theo G. Marquez, chỉ sau khi đọc Người đẹp say ngủ, ông mới thực sự quan tâm văn học Nhật Bản. Truyện ngắn Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (2004) của ông là một sáng tạo nghệ thuật dựa trên những kế thừa, cách tân Người đẹp say ngủ của Y. Kawabata.

   Đọc Người đẹp say ngủ của Y. Kawabata, ta nhận thấy nhiều gặp gỡ, tương đồng với Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương, rõ nhất là ở motif “người đẹp ngủ say”. Ở bài thơ Thiếu nữ ngủ ngày, “người đẹp ngủ say” là cấu tứ của bài thơ. Trong khi đó, ở tiểu thuyết Người đẹp say ngủ, “người đẹp ngủ say” là tâm điểm của cấu trúc tự sự. Phương thức tự sự - trữ tình của Hồ Xuân Hương trong Thiếu nữ ngủ ngày phảng phất lối kể chuyện của Y. Kawabata trong Người đẹp say ngủ. Trên phông nền của câu chuyện kể, trước mắt người đọc dường như chỉ hiện diện ba nhân vật: Eguchi, cô gái ngủ say và người kể chuyện giấu mình. Cũng như thế, trong Thiếu nữ ngủ ngày, qua dòng chảy cảm xúc trữ tình, hiện lên ba nhân vật: thiếu nữ ngủ say, chàng quân tử và nhân vật trữ tình – một nhân vật không đường nét, hình hài nhưng rất rõ cảm xúc. Đó là những điều hiện lộ trên bề mặt ngôn từ. Tuy nhiên, sức hấp dẫn, sự cuốn hút của Người đẹp say ngủThiếu nữ ngủ ngày là ở những khuất chìm, ẩn kín giữa lớp thảm ngôn từ.

   Người đẹp say ngủ là một tiểu thuyết mang đậm chất thơ. Chất thơ toát lên từ vẻ đẹp cơ thể của cô gái ngủ say và những diễn biến tế vi trong thế giới nội tâm của nhân vật Eguchi. Y. Kawabata sử dụng lối viết gợi nhiều hơn tả, với một ngôn ngữ thấm đẫm cảm xúc. Cảnh sắc, con người được khúc xạ qua cái nhìn của nhân vật Eguchi. Do vậy, hiện tại và quá khứ, tự sự và trữ tình, thiên nhiên và con người, kể và tả... xuyên thấm, hòa trộn, khó tách bạch rạch ròi. Đây là một ví dụ: “Vai cô tròn trĩnh như vai trẻ con che mất mắt ông già Eguchi. Ông bỗng nghĩ cái vai tròn trần đó vừa khít vào lòng bàn tay để khum của ông và ông thèm úp bàn tay lên cái vai mịn màng ấy nhưng rồi lại thôi. Cô gái vẫn đang ngủ say. Eguchi nhận ra cả dóng xương quai xanh mặc dù lớp thịt phủ lên hơi khó nhận thấy. Ông thèm được vuốt ve dọc theo cái xương nhô lên ấy nhưng cũng lại không thực hiện… ánh sáng dịu dịu từ trên trần tỏa xuống và hắt ra từ tấm rèm nhung đỏ làm nhẹ đi những đường nét trên khuôn mặt cô gái…”4. Với Eguchi, đó là vẻ đẹp của thiên tính nữ, vừa gần gũi, giản dị vừa tinh khiết, thiêng liêng: “Một ý thức lạ đến với ông: tại sao bộ ngực của loài người giống cái, sau cả một chuỗi thời gian phát triển dài… lại có được hình dạng mĩ lệ đến như thế? Vẻ đẹp tuyệt vời của cặp vú người đàn bà phải chăng là niềm tự hào cao siêu nhất của lịch sử phát triển nhân loại?”5. Trước vẻ đẹp ấy, mọi tội lỗi, đớn đau, toan tính... của Eguchi như được thanh lọc. Ông có cảm giác được cứu rỗi, hạnh phúc “thả hồn vào kỉ niệm về những bạn tình của một thời đã trôi qua vĩnh viễn, trong lúc ôm ấp một cô gái đẹp say ngủ mà không thể thức dậy được”6. Khoảnh khắc ấy, Eguchi được sống là mình với sự hồi sinh mãnh liệt của những khát khao bản năng, trần thế: “Như để hưởng dần niềm khoái lạc, ông nhắm mắt lại, đứng yên không nhúc nhích. Nguyên bằng cách đó đã khiến cho từ trong đáy lòng bùng lên một cơn thèm khát dục tình cháy bỏng”7. Dưới ngòi bút Y. Kawabata, vẻ đẹp của những cô gái ngủ say biểu tượng cho sức mạnh, quyền năng của người phụ nữ. Nó được khơi nguồn từ thời mẫu hệ chảy qua dòng văn học nữ lưu thời Heijan (thế kỷ IX-XII) và trỗi dậy mạnh mẽ trong thế kỷ XX, khi phong trào nữ quyền từ châu Âu lan rộng đến nhiều quốc gia châu Á. Ở mỗi giai đoạn, cách biểu hiện có khác nhau, song vẻ đẹp ấy đều chứa đựng ba sắc thái thẩm mĩ: “Xabi” (cái tự nhiên), “Wabi” (sự giản dị), “Karumi” (sự kết hợp hài hòa cái giản dị và cái tự nhiên). Nếu “Xabi” thể hiện quan hệ giữa nghệ thuật và tự nhiên, nghệ thuật với thời gian thì “Wabi” là nhịp cầu giữa nghệ thuật và cuộc sống, loại bỏ mọi cầu kỳ, sặc sỡ, sắp đặt. Theo đó, “Wabi đó là vẻ đẹp thường ngày, là sự chừng mực thông minh, là cái đẹp của sự giản dị”8. Những khái niệm đó đều bắt nguồn từ Shinto giáo – tôn giáo bản địa của Nhật Bản, ăn sâu vào tư duy thẩm mĩ của người Nhật, trở thành lẽ sinh tồn của nghệ thuật Nhật Bản truyền thống. Cốt lõi của nó là gắn cái đẹp với cái tự nhiên. Vẻ đẹp của những cô gái trong Người đẹp say ngủ là sự nghệ thuật hóa quan điểm mĩ học đó.

   Từ góc nhìn này, có thể thấy hình ảnh thiếu nữ đang ngủ say trong Người đẹp say ngủ của Y. Kawabata và trong Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương là biểu tượng cái đẹp tự nhiên, thiên phú: “Lược trúc biếng cài trên mái tóc/ Yếm đào trễ xuống dưới nương long”. Đó là vẻ đẹp trinh nguyên, thanh khiết. Giữa đất trời cao rộng, vẻ đẹp ấy là một tuyệt tác, một sáng tạo hoàn mĩ của hóa công: “Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm/ Một lạch đào nguyên, suối chửa thông”. Với lối đặc tả như vậy, rất khó để phân biệt rạch ròi đó là cái nhìn của nhân vật trữ tình hay của chàng “quân tử” – nhân vật trong thơ. Nếu quyền năng thiên phú của người phụ nữ là vẻ đẹp cơ thể thì đây là một biểu tượng của quyền năng đó. Ngôn ngữ thân thể được Hồ Xuân Hương sử dụng tinh tế, đắc địa, tạo ấn tượng mạnh mẽ về sự trỗi dậy của ý thức nữ quyền, trở thành dấu ấn một phong cách thơ. Trong thơ Hồ Xuân Hương, sự kết hợp giữa đặc tả và ẩn dụ đã tạo nên những hình ảnh thơ giàu sức gợi, kín mà hở, hở mà kín: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” (Bánh trôi nước), “Thớt dưới sương pha đượm má hồng” (Đá Ông Chồng Bà Chồng), “Giếng ấy thanh tân ai đã biết” (Cái giếng), “Vỏ nó xù xì múi nó dày” (Quả mít)... Theo cách nói của N. I. Niculin, trong thơ Hồ Xuân Hương, thân thể người phụ nữ đã trở thành một nhân vật. So với những bài thơ Hồ Xuân Hương viết về thân phận người phụ nữ, như: Bánh trôi nước, Không chồng mà chửa, Thương ôi phận gái, Cái nợ chồng con, Tự tình 1, Tự tình 2... ý thức nữ quyền trong Thiếu nữ ngủ ngày được thể hiện theo một cách riêng. Ở đó không có tiếng nói than thân, trách phận, đả phá chế độ nam quyền. Thay vào đó là ý thức về vẻ đẹp thân thể của thiếu nữ – một vẻ đẹp trinh nguyên, mơn mởn, gợi cảm. Ngôn ngữ, hình ảnh thơ đạt đến độ mẫu mực của nghệ thuật ngôn từ, mong manh trên lằn ranh hư và thực, có sức lan tỏa, khơi gợi mạnh mẽ cảm xúc thẩm mĩ ở người đọc. Trong thơ ca trung đại Việt Nam, một vẻ đẹp như thế dường như chỉ tìm thấy ở nàng Kiều của Nguyễn Du: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” (Truyện Kiều).

   Cũng như ở Người đẹp say ngủ, vẻ đẹp của thiếu nữ ngủ ngày trong thơ Hồ Xuân Hương hiện lên một cách tự nhiên, sinh động với những đường nét thanh tân, gợi cảm. Cái khác biệt là ở chỗ vẻ đẹp của thiếu nữ ngủ ngày được cảm nhận trong một thiên nhiên ấm áp, gợi tình. Cảnh và người, tình và sự hài hòa, đan bện vào nhau. Không có “mùa hè hây hẩy gió nồm đông” sẽ không có cảnh “thiếu nữ nằm say quá giấc nồng” để vô tình lồ lộ cơ thể ngọc ngà, trinh nguyên giữa không gian khoáng đạt. Đó là cái đẹp tự nhiên, vô thức, được biểu đạt bằng một giọng thuật sự của chủ thể trữ tình. Trong khi đó, ở Người đẹp say ngủ, vẻ đẹp của người con gái ngủ say hiện lên trong căn phòng mờ ảo, tĩnh mịch, u buồn, gợi lên sự xót xa thương cảm cho thân phận người phụ nữ. Đẹp và buồn là hai sắc thái thẩm mĩ chủ đạo toát lên từ hình ảnh những người đẹp ngủ say. Với sự dâng hiến thầm lặng, họ là những thực thể thẩm mĩ sinh động, vô cùng toàn vẹn. Với Eguchi, vẻ đẹp ấy là chiếc gương soi giúp ông nhận ra con người bên trong của mình. Bởi lẽ “chính thân thể người đàn bà là nguyên nhân lôi cuốn người đàn ông vào thế giới tội lỗi”9. Trước vẻ đẹp trinh nguyên, vô thức của những cô gái đang ngủ say, Eguchi cảm thấy mình có lỗi. Lòng trắc ẩn, sự cảm thông, tình yêu thương trong ông được đánh thức. Ông tự vấn lòng mình: “nhưng hoàn cảnh éo le thế nào lại khiến một cô gái xinh đẹp và hấp dẫn ngần kia phải nhận làm công việc này? Trong lòng ông già Eguchi nổi lên một thứ tình cảm xót xa gần như của người cha đối với người con”10. Những biến thái tế vi, phức tạp trong đời sống nội tâm của nhân vật hiện lên tự nhiên, sinh động qua lối kể với nhịp điệu, tiết tấu chậm, kết hợp hài hòa giữa kể, tả xen lẫn lời bình. Trong tác phẩm, có đến 23 lần Eguchi độc thoại nội tâm trực tiếp. Đó là những khoảnh khắc ông trải qua sự giằng xé, xung đột và nỗi cô đơn, bất lực của tuổi già. Ngắm nhìn vẻ đẹp căng tràn nhựa sống của cô gái đang ngủ say trong căn phòng tĩnh lặng, Eguchi như nghe được tiếng lòng mình thổn thức. Những rung cảm tinh tế trước cái đẹp, nỗi xót xa thương cảm phận người, sự thèm khát bản năng, những dằn vặt, đắn đo... là những cảm xúc tự nhiên, chân thực ở Eguchi. Với Y. Kawabata, đó là hiện thân của cái đẹp – cái đẹp là cái tự nhiên.

   So với Eguchi, nhân vật quân tử trong Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương không có đường nét, diện mạo nhưng không kém phần chân thực, cụ thể. Đó là sự chân thực, cụ thể trong tâm lý, tâm trạng. Cái “dùng dằng đi chẳng dứt” khi bất giác bắt gặp “Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm/ Một lạch đào nguyên suối chửa thông” của thiếu nữ đang “say giấc nồng” đã hé mở cả một “hiện thực tinh thần” (R. Tagore) ở người quân tử. Những biến thái tế vi giăng mắc trong nội tâm nhân vật ẩn kín trong cái sự “dùng dằng” giữa đi và ở. Trong tiếng Việt, “dùng dằng” là từ láy chỉ sự lưỡng lự, phân vân trong tâm trạng, hành động của con người khi bị đặt vào tình thế phải lựa chọn. Trong ngữ cảnh của bài thơ, người quân tử đã rơi vào tình huống khó xử: “Đi thì cũng dở, ở không xong”. Cái sự “dở”, “không xong” đều có nguồn cơn ở cảm xúc, ham muốn tự nhiên và sự trói buộc của danh phận “quân tử”. Hai câu kết đã nén chặt, cô đọng ý tứ bài thơ. Hai dòng thơ, 14 âm tiết, trong đó chỉ có một từ Hán Việt (quân tử) nhưng sự và việc, cảnh và tình, bên ngoài và bên trong... đều được khơi gợi. Đó là lối kết - mở nhiều dư ba. Từ quan niệm đạo đức nho gia, “chữ dùng dằng đã xích chân người quân tử quanh kiệt tác của tạo hóa ấy mấy thế kỷ rồi”11. Đó là cách hiểu có cơ sở nhưng không phải là duy nhất. Quân tử, theo quan niệm của Nho giáo, là người “tài đức xuất chúng, phẩm hạnh ngay thẳng, có nhân cách hoàn hảo”12.. Vậy sự “dùng dằng” giữa đi và ở trước vẻ đẹp trinh nguyên của thiếu nữ đang ngủ say có thể hiện “phẩm hạnh ngay thẳng” của người quân tử? Cũng như Eguchi trong Người đẹp say ngủ, người quân tử trong thơ Hồ Xuân Hương đã cho thấy một sự thành thực trong cảm xúc, hành xử. Thành thực với người, thành thực với mình. Không thành thực với mình, không có cái “dùng dằng” giữa đi và ở. Trong Người đẹp say ngủ của Y. Kawabata, sự thành thực ở Eguchi hiện rõ ở hành động. Vượt qua mặc cảm tuổi già và những đàm tiếu thị phi, ông đến lữ điếm để được ngắm nhìn cơ thể trẻ trung, xinh đẹp của những người con gái đang ngủ say. Ngắm nhìn vẻ đẹp tự nhiên, vô thức ở những người con gái ngủ say, trong ông có sự thèm khát dục tình trỗi dậy. Đó là cái tự nhiên của bản tính con người. Nó đã được Y. Kawabata nhận thức và thể hiện một cách tinh tế, chân thực. Vượt lên sự xa cách thời gian, khác biệt không gian, người quân tử trong Thiếu nữ ngủ ngày và Eguchi đã gặp nhau ở bản tính tự nhiên. Đó là tình yêu, niềm say cái đẹp. Bản tính ấy hiện hình không chỉ ở ý thức mà cả trong vô thức, tiềm thức. Cái đẹp khiến con người không thể dửng dưng, vô cảm. Trước cái đẹp, mọi rào cản, ngăn cách hay sự khác biệt về tuổi tác, địa vị... đã không còn. Đó là quyền năng của cái đẹp.

   Như đã nêu ở trên, tự sự - trữ tình là đặc điểm nghệ thuật nổi bật của bài thơ Thiếu nữ ngủ ngày. Nó được thể hiện ở câu chuyện/ yếu tố chuyện, đặc biệt là giọng điệu thơ. Giọng điệu chủ âm của bài thơ là kể, tả. Ba yếu tố quan trọng bậc nhất của nghệ thuật làm thơ, theo quan niệm của Lê Quý Đôn, là “tình”, “cảnh”, “sự”, đều hiện hữu, đan cài, xuyên thấm vào nhau. Trong “tình” có “cảnh”; trong “cảnh” có “sự”; trong “sự” có “tình”. Âm điệu trữ tình buông lơi, thanh thoát, lan tỏa, thấm đẫm trong từng câu, từng ý. Tuyệt nhiên không có sắc thái giễu nhại, mỉa mai như ở các bài thơ Mắng học trò dốt, Đề đền Sầm Nghi Đống, Kiếp tu hành, Sư bị ong châm...; trong Thiếu nữ ngủ ngày, âm sắc tiếng cười, nếu có, chỉ phảng phất ở hai câu kết với sắc điệu trữ tình dí dỏm, tươi vui. Khẳng định, đề cao con người tự nhiên, bản năng là một cảm hứng chủ đạo trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Với bà, con người khác nhau chỉ ở cái vẻ bên ngoài. Từ người bình dân đến bậc thức giả, từ kẻ nông phu chân lấm tay bùn đến kẻ quyền quý, giàu sang đều có trong mình những ham muốn bản năng: “Hồng hồng má phấn duyên vì vậy/ Chúa dấu vua yêu một cái này” (Cái quạt) và “Hiền nhân quân tử ai là chẳng/ Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo” (Đèo Ba Dội)... Cái sự “dùng dằng đi chẳng dứt” của người quân tử trong Thiếu nữ ngủ ngày nằm trong quan niệm đạo đức - thẩm mĩ đó. Bộc lộ tình cảm tự nhiên một cách thành thực qua sự “dùng dằng” giữa đi và ở trước vẻ đẹp thanh tân của thiếu nữ, người quân tử trong Thiếu nữ ngủ ngày ít nhiều đã có sự lệch chuẩn với lối sống “khắc kỷ phục lễ” của đạo đức Nho gia. Tuy nhiên, trong bối cảnh văn hóa - xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII, đây không phải là hiện tượng hiếm gặp. Ở thời kỳ đó, ý thức con người cá nhân đã thức tỉnh và ngày càng biểu hiện rõ nét trong đời sống xã hội, nhất là ở những trí thức trẻ. Trong văn học, kiểu nhân vật nhà Nho đi chệch đường ray định phận không còn xa lạ. Nhân vật Kim Trọng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là kiểu trí thức như thế. Sau những tháng ngày biệt ly, nghe tin Kiều đang nương nhờ chốn cửa thiền, Kim Trọng đã “treo ấn, từ quan”, buông bỏ công danh, chấp nhận “vào sinh ra tử” với ý chí “mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua” để được sống trong tình yêu. Trong bối cảnh đó, cái sự “dùng dằng” giữa “đi” và “ở” của người quân tử trong Thiếu nữ ngủ ngày chỉ là một cách ứng xử của nhà Nho trong tình thế phải lựa chọn giữa danh phận và nhu cầu tự nhiên của con người. Sức mê hoặc, ám ảnh của văn chương xưa nay là ở sự ỡm ờ, mờ tỏ, xen lẫn thực hư trong lối cảm, cách viết, kiến tạo những khoảng trống, khoảng trắng trên bề mặt văn bản ngôn từ. Cái sự “dùng dằng” của người quân tử trong Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương đã hội tụ sự bí ẩn, mê hoặc của ngôn ngữ thi ca, mở ra nhiều nẻo lối tiếp nhận. Phê phán hay ngợi ca, tùy thuộc vào quan điểm, góc nhìn của người đọc.

   Say đắm cái đẹp, nhất là cái đẹp ở nữ giới và ham muốn nhục cảm là bản tính tự nhiên của con người. Dửng dưng, vô cảm hay ngụy tạo cảm xúc, hành xử thô bạo trước cái đẹp là trái tự nhiên, phản nhân văn, phi nhân tính. Với cách nhìn ấy, cũng như Người đẹp say ngủ của Y. Kawabata, Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương là bản giao hưởng về cái đẹp – cái đẹp của thiên tính nữ, cái đẹp ở sự thành thực trong cảm xúc, tâm trạng khi đứng trước cái đẹp. Đó là cái đẹp tự nhiên, mang tính nhân loại. Nhìn từ mĩ học tiếp nhận, mỗi tác phẩm văn học là một khách thể tinh thần, có số phận thăng trầm theo thời gian, thị hiếu, tầm đón đợi của người đọc. Với một tác phẩm giàu sức gợi như Thiếu nữ ngủ ngày, thay đổi hướng tiếp cận là cách để người đọc phát hiện, bổ sung những vẻ đẹp tiềm ẩn, chìm lấp trong nghệ thuật ngôn từ. Đọc Thiếu nữ ngủ ngày trong tương quan với Người đẹp say ngủ là một hướng tiếp cận như thế. Những phân tích, diễn giải trên đây phần nào cho thấy Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương đã hòa vào dòng chảy văn chương nhân loại, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên tính nữ và những tình cảm tự nhiên của con người trước cái đẹp. Đó là giá trị nhân văn cốt lõi của bài thơ.

 

 

 

Chú thích:
1, 11 Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Nghệ An (2022), Nữ sĩ Hồ Xuân Hương – Danh nhân văn hóa (tái bản lần thứ nhất), NXB. Nghệ An, tr. 105, 333.
2, 3 Yasunari Kawabata Tuyển tập tác phẩm, NXB. Lao động - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2004, tr. 810, 958.
4, 5, 6, 7, 9, 10 Yasunari Kawabata (1991), Người đẹp say ngủ (Vũ Đình Phòng dịch và giới thiệu), NXB. Văn học, Hà Nội, tr. 72, 28, 87, 107, 89, 49.
8 V. V. Ôtrinnicốp (1991): “Những quan niệm thẩm mỹ độc đáo của người Nhật” (Vũ Đình Phòng dịch), Tạp chí Văn học, số 5, tr. 45.
12 Đào Duy Anh (2010), Hán Việt từ điển, NXB. Văn hóa thông tin, tr. 609.

Bình luận

    Chưa có bình luận