Tiếp nối Bạc Liêu truyện (2022), Miền đất mặn (2024), tác phẩm Người gieo chữ (2024) là truyện dài của nhà văn Phùng Quang Thuận, thể hiện ước vọng giữ gìn giá trị văn hóa lịch sử quê hương Bạc Liêu yêu dấu.
Tác phẩm Người gieo chữ chỉ dấu thông điệp khai dân trí khi lưu dân đã an cư trên vùng đất lắm tiền nhiều của, đồng ruộng mênh mông “cò bay thẳng cánh”. Người gieo chữ tuy là truyện dài nhưng vừa như tiểu thuyết gia đình vừa như tiểu thuyết phong tục, qua đó bạn đọc nắm bắt cùng hiểu tiến trình lịch sử của Nam Bộ từ đầu đến nửa sau thế kỷ XX – một giai đoạn đầy biến động, nhiều sóng gió. Thông qua câu chuyện gia đình, phong tục tập quán, nếp sống con người Bạc Liêu xưa được nhà văn Phùng Quang Thuận trình bày thành dòng chảy xuyên suốt với nhiều biểu hiện đặc sắc. Dòng mạch ấy chính là “ôn cố tri trân” tạo thành sự kết nối hồn người hôm nay với hồn người ngày xưa. Hiểu người xưa giúp ta hiểu ta hôm nay!
1. Nhân cách của một người thầy
Văn hóa giáo dục không thể không gắn liền vời văn hóa đạo đức của con người; nhà văn Phùng Quang Thuận xây dựng thành công những hình tượng nhân vật vừa đặc trưng vừa tiêu biểu cho nhân cách văn hóa Bạc Liêu nói riêng, nhân cách văn hóa Nam Bộ nói chung. Hình tượng những người phụ nữ như Cô Sáu Thường giúp người phương xa hiểu thêm tâm hồn và phẩm hạnh người phụ nữ Bạc Liêu cũng như Nam Bộ: “Thái độ của cô Sáu luôn nghiêm trang và chừng mực khiến ông Đốc công Trạch càng quý mến cô hơn”1. Chính nhân cách, phẩm hạnh của người phụ nữ (người bà, người mẹ, người vợ) đã góp phần hun đúc nên tâm hồn con người xứ sở từ trong mái ấm gia đình; từ tiếng hò của bà, tiếng ru con của mẹ, tiếng an ủi động viên của vợ lúc chồng gặp nghịch cảnh giữ đường đời. Nhân cách đạo đức của Cô Sáu Thường đã hun đúc cho đạo đức của con cháu về sau. Chính phẩm hạnh người mẹ như Cô Sáu đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành nhân cách người thầy – ông Đốc Quờn. Bên cạnh câu chuyện gia đình cũng là câu chuyện lịch sử, nhà văn họ Phùng – sinh ra và lớn lên nơi dòng tộc ấy – đã cho thấy những con người chân lấm tay bùn vùng đất Nam Bộ dẫu bình dị, lặng lẽ sống nhưng họ chính là những người sẵn sàng đứng đầu sóng ngọn gió, vì nước quên thân, chống ngoại xâm, cứu quê hương: “Trong gia đình của cô Sáu Thường, còn có nhiều người yêu nước chống Pháp, vì vậy họ vừa phải lẩn tránh triều đình Huế vừa phải lẩn tránh cả giặc Pháp”2. Thế nên, trong Nam Bộ có nhiều trường hợp phải thay tên đổi họ. Tinh thần xả thân đó về sau còn nhìn thấy trong tâm huyết của ông Đốc Qườn hi sinh lợi ích bản thân để thực hiện nguyện vọng mở trường của ông ngoại và cũng là tấm lòng của ông dành cho học trò nghèo đất Bạc Liêu. Người đọc càng đọc càng thấy vai trò truyền thống gia đình rất quan trọng trong việc hình thành nền nếp gia phong cũng như nhận thức đạo đức cho con cháu từ hồi thơ ấu đến suốt cuộc đời. Điều này vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt trong bối cảnh đương thời khi mà hệ giá trị gia đình bị tác động bởi nhiều yếu tố xã hội ngoại lai.
Đạo đức gia đình Cô Sáu Thường không chỉ góp phần hun đúc đạo đức người con Lưu Được mà còn hun đúc nên nhận thức vai trò của người chồng trong gia đình. Bởi cha mất sớm, mẹ (là Cô Sáu) phải tần tảo bán chè nuôi các anh em ăn học, Lưu Được bấy giờ đã cảm nghiệm sâu sắc nỗi vất vả của mẹ cũng như của người phụ nữ nói chung trong gia đình. Vì thế, sau này, khi lập gia thất, ông càng thương quý những người vợ. Người vợ đầu cũng như người thứ hai đều được ông dành tình cảm trân quý, tôn kính. Quý bởi nghĩa tào khang, kính bởi tấm lòng thủy chung và đức hi sinh trọn vẹn cho ước vọng của chồng. Đó là hình tượng người phụ nữ Nam Bộ cao thượng trong tác phẩm của nhà văn Phùng Quang Thuận.
Bản thân ông Đốc Qườn cũng từng trải qua nghèo khó từ tuổi thơ ấu đến lúc trưởng thành, ông càng quý trọng tình nghĩa, thuận vợ chồng cùng nhau vượt qua khốn khó. Cuộc đời ông Đốc Qườn có lẽ chẳng khác gì bao cuộc đời cơ cực của người Việt Nam yếu thế đầu thế kỷ XX. Cuộc đời có những khi ngọt bùi song cũng lắm đắng cay, nhất là nỗi buồn đau mất người thân. Người vợ hiền bị bệnh nên qua đời gieo lại trong lòng ông nỗi buồn vô hạn. Qua gia cảnh và nội tâm ông Đốc Qườn, bạn đọc cảm nhận ít nhiều phần nào bối cảnh văn hóa thời bấy giờ. Có thể nói, chất liệu văn hóa góp phần quan trọng hình thành giá trị của trang viết Phùng Quang Thuận. Bên cạnh mục đích xây dựng nhân vật (tâm lý, bối cảnh gia đình, bối cảnh xã hội), nhà văn họ Phùng thường trình bày nhiều khía cạnh đời sống, qua đó bạn đọc có cơ hội hiểu thêm về đời sống con người khi ấy. Ví dụ như biến cố gia đình đưa ông Đốc Qườn đến với Hội Thông thiên học và Hội Phật học Bạc Liêu: “Ông Đốc Quờn nuốt nước mắt vào lòng để tiếp tục vừa giảng dạy, vừa quản lý và nghiên cứu học thêm những điều liên quan tới công việc giáo dục. Ông đơn độc cố vượt qua nỗi đau của riêng mình … Thời gian còn lại, ông nghiên cứu các hoạt động của Hội Thông thiên học và thỉnh thoảng tới Hội Phật học Bạc Liêu tìm chút bình an cho tâm hồn. Là người theo Tây học, tin vào khoa học, giờ ông hoang mang chợt hiểu ra cuộc đời con người thật mong manh và nhiều giới hạn, không ai có thể vượt qua được bệnh tật và cái chết …”3. Những suy tư của ông Đốc Qườn càng thêm sâu sắc khi ông đã cảm nghiệm nhãn quan nhân sinh từ góc độ Nho giáo, Phật giáo, Thông thiên học. Qua đó, bạn đọc càng thấm ngấm và hiểu thêm cấu trúc hình thái xã hội Bạc Liêu đầu thế kỷ XX với sinh hoạt tâm linh tôn giáo đa dạng.
Văn hóa địa phương trong trang viết Phùng Quang Thuận như cách thức ông phác họa chân dung nhân vật. Với bối cảnh xã hội đầu thế kỷ XX, người đọc nhìn thấy hình tượng ông Đốc Qườn vừa đậm chất truyền thống vừa mang chỉ dấu hiện đại, vừa có tư tưởng phương Đông vừa có suy tư rất phương Tây. Riêng trong nhân cách và đạo đức, bạn đọc thấy một tâm hồn rất Việt Nam; đặc biệt, ông dành niềm thương nhớ vợ, biết ơn vợ, tôn kính đức hi sinh của vợ với bản chất riêng có, thiên chức của người phụ nữ Nam Bộ nói riêng, người phụ nữ Việt Nam nói chung. Minh chứng về điều này, bạn đọc có thể bắt gặp nhiều chi tiết truyện vừa có giá trị văn hóa vừa có giá trị trong việc xây dựng hình tượng nhân vật. Trong gia đình và trong việc thể hiện tình cảm với người vợ hiền, nhà văn Phùng Quang Thuận nhắc chuyện ông Đốc Qườn thương nhớ vợ và thương nhớ những món ăn của vợ. Đó chính là sự chăm sóc yêu thương của người vợ hiền dành cho gia đình mà ông không thể quên lãng. Cùng với nét đẹp văn hóa ẩm thực trong gia đình còn là những ký ức không mờ phai về hình bóng người mẹ, người vợ tần tảo, chắt chiu, khéo giữ tổ ấm gia đình. Người phụ nữ Nam Bộ xưa hiện lên thật đẹp đẽ, hồn hậu, chung thủy: “Mùa nóng bà nấu canh chua, canh khổ qua, canh rau tập tàng để giải nhiệt, có khi còn làm me ngào đường cho mọi người ăn chơi để phòng các loại ung nhọt. Mùa mưa trời lạnh thì nấu các món gà xả ớt, vịt kho gừng, cá trê chiên nước mắm gừng hoặc các loại cá lóc, cá rô kho nhiều tiêu, hành cho ấm tì vị. Các loại rau cải, bà cũng lựa chọn ăn theo mùa để giải nhiệt hoặc chống phát hàn sinh bệnh …”4. Văn hóa ẩm thực không chỉ làm đẹp nhà, làm ấm gia đình mà hơn thế, còn cho thấy mối quan hệ hài hòa giữa con người và môi trường sống. Nhiều đêm ông một mình trong căn nhà trống vắng lòng bồi hồi thương nhớ vợ không nguôi, nhất là những đêm mưa đồng bằng, từng hạt mưa rơi ngoài hiên nhà cắt cứa tâm can người chồng cô quạnh. Càng thương vợ, ông càng thấy số phận nghiệt ngã; người phụ nữ đoan chính, trung hậu nhưng số phận lại mỏng manh ngắn ngủi. Càng nghĩ, nước mắt ông giàn giụa trên khuôn mặt khắc khổ không thể bật thành tiếng khóc!
Gà trống nuôi con, Đốc Qườn mỗi ngày thấm thía và cảm nhận sâu sắc vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Không có bàn tay người vợ thì tổ ấm gia đình lần hồi hoang phế, cuộc sống của các con lần hồi cơ cực vì mất mẹ – mất mẹ đồng nghĩa mất quê hương, bởi mẹ là biểu tượng quê hương và mỗi người duy chỉ có một quê hương cội nguồn, có một mẹ sinh thành, cũng như lúc Đốc Qườn sắp lập gia đình, mẹ của ông dặn đi dặn lại rằng: “Vợ đích thực là người mẹ thứ hai, con à!”.
Đêm Bạc Liêu càng về khuya, mưa trái mùa càng nặng hạt và bầu trời sét chớp giật, sấm nổ liên hồi đã cắt dòng suy nghĩ miên man của Đốc Qườn, đồng thời kéo ông trở về với thực tại – việc xây trường mở lớp học đầu tiên trên đất Bạc Liêu nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp trẻ em nghèo có nơi học tập. Nhà văn Phùng Quang Thuận đã khắc họa những day dứt trong nội tâm nhân vật: giữa lợi ích gia đình và tâm nguyện mở trường phát triển dân trí quê nhà. Cuối cùng, với sự đồng thuận, động viên, ủng hộ của hai bà vợ đầu, ông quyết tâm vượt qua khó khăn nghịch cảnh để mở trường. Nhìn di ảnh hai bà vợ, ông càng thêm vững vàng ý chí. Từ đó, trong hình tượng người chồng, người cha, người ông, cũng như học trò thời đó, nhận ra nhân cách một người thầy. Bức chân dung “người gieo chữ” khiến bạn đọc hôm nay sẽ đồng cảm và xúc động. Bằng trang viết chân thật của nhà văn họ Phùng, bạn đọc sẽ không thể nào không suy ngẫm và liên tưởng về hình tượng con người nặng tình, mô phạm, mẫu mực và cũng thâm trầm lặng lẽ giữa thời cuộc đảo điên lúc bấy giờ, chiến trường mưa bom lửa đạn. Nhà văn Phùng Quang Thuận dường như vừa đứng gần nhưng cũng đứng từ xa để nhìn tầm vóc con người ấy. Có khi là những cử chỉ nhỏ với thằng nhỏ “xách cơm”, từ cự ly gần, nhà văn cho thấy trái tim ấm áp của ông Đốc Quờn dành cho con cháu: “Đứa nhỏ thường ngạc nhiên khi ông ngoại nhắc như vậy, vì có cuốn nào dính bụi đâu. Trong phòng đọc sách của ông, sách văn học và sách triết tiếng Việt đâu có nhiều, đa số là sách tiếng Pháp và các báo hay tạp chí do ông đặt mua định kỳ. Sau này đứa cháu nhỏ mới hiểu là ông ngoại muốn nó làm quen, đọc thử mấy loại sách đó”5. Tâm ý của Đốc Qườn những muốn đứa cháu ngoại mà ông thương quý tiếp cận sách vở, lần hồi thành thói quen tìm đọc và ham thích tri thức. Do đó, chuyện lau bụi cũng chỉ là cớ để ông tạo điều kiện giúp cháu ngoại đam mê tình yêu sách; bởi với ông, kiến thức loài người không hẳn tồn tại ngày bữa trong từng trang sách mà kiến thức ấy lắm khi đã tồn tại từ bao thế kỷ đã qua. Việc này gợi bạn đọc nhiều suy ngẫm về văn hóa đọc sách hiện nay: nhiều gia đình “lắm tiền nhiều của” thường sử dụng nơi trang trọng nhất trưng bày nghiêm cẩn tủ rượu rất đắt tiền, sang chảnh mà đó không phải là tủ sách!
Hình tượng người thầy đời xưa (Đức Khổng Tử, Chu Văn An)6, ông Đốc Qườn nhắc nhở đứa cháu ngoại nhỏ nhưng đồng thời cũng là nhắc nhở chung người đứng trên bục giảng gắng trau dồi đức độ trong việc giảng dạy cũng như cuộc sống cá nhân hằng như họ: “Còn một vị thầy đáng kính nữa ở Gia Định là thầy Võ Trường Toản. Ông là người có học vấn uyên thâm, tính tình cao nhã, xem nhẹ danh lợi. Thầy ở ẩn mở trường dạy học, học sinh theo học rất đông, thầy đào tạo được rất nhiều nhân tài cho đất nước. Đây là vị thầy thứ hai mà đời đời những người làm giáo dục phải tôn kính và noi gương. Con phải noi gương học hành an bần lạc đạo và hi sinh cống hiến cho đời như hai danh nhân văn hóa này” (tức Chu Văn An và Võ Trường Toản – TBT chú)7. Bằng chính hành động cụ thể, ông Đốc Qườn trở thành tấm gương cho những thầy cô giáo yêu nghề dạy học ở Bạc Liêu, được người dân trong vùng trọng vọng, học trò tôn kính. Ông hi vọng, tin tưởng cũng như mong mỏi đứa cháu ngoại nhận thức và giữ gìn phẩm giá, nhân cách sư phạm trước khi cháu ngoại xa quê lên đường đến chốn phồn hoa đô hội – Chợ Lớn, tiếp tục nâng cao sự học, bởi ông rút kết từ cuộc đời giáo dục của mình: “Kiến thức, đức độ, nhân cách của người thầy sẽ gây được lòng tin của xã hội, của phụ huynh, họ sẽ gởi nhiều học sinh tới học, và học với thầy giỏi thì học sinh sẽ giỏi và có đạo đức tốt, họ là cột trụ của gia đình, làng xóm và nước nhà”8 . Người thầy không chỉ dạy học trò bằng lời nói mà còn dạy học trò bằng chính cách sống của mình. Không chỉ là ngôn giáo chính là thân giáo! Với Đốc Qườn, ông cho rằng: “Người thầy giỏi, là người thầy truyền được cảm hứng đến học trò”. Người thầy - tấm gương cho học trò noi theo. Bất luận giáo dục xưa hay nay, điều đó vốn luôn cần được ý thức sâu sắc và thực hiện. Việc học là trọng tâm, việc dạy là trọng điểm, nhân cách và tác phong sư phạm là trọng yếu giúp việc dạy và học được tiến hành thuận lợi tốt đẹp. Tác phong sư phạm của thầy, tác phong học tập của trò tạo nên sự yêu thương mái trường và xem mái trường như “Bà Mẹ hiền”!
2. Tâm huyết của người thầy
Tâm huyết của người thầy xuất phát từ tâm nguyện của ông ngoại, của mẹ và sau nữa là kết quả lòng biết ơn. Hiếu thảo, ân nghĩa tạo nền tảng cho tâm huyết của người thầy Lưu Được suốt đời người. Qua quá trình học vấn của ông Đốc Qườn, bạn đọc hẳn sẽ nhận ra nền học ở Nam Bộ chuộng cái học thiết thực và trên hết, học làm Người, học để giúp đời (“Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời”), không hẳn học để làm quan, như lời kể của nhà văn Phùng Quang Thuận trong tác phẩm Người gieo chữ, những người Nam Bộ xưa cũng rất hiếu học. Hiếu học ở đây là thích hiểu biết, tình yêu với kiến thức; ham ở đây là ham trí tuệ được mở mang để biết tỏ tường thế giới xung quanh. Cốt yếu sự học chính từ chỗ chưa biết thành biết và có chữ buộc có nghĩa, người có chữ sống phải có nghĩa. Đó là yếu chỉ ham thích học ở Nam Bộ. Hình ảnh chú nhỏ Năm Qườn lẽo đẽo theo mẹ bán chè, dùng đèn khí để đọc sách vở, hai anh lớn học trước để lại sách vở cho em khiến bạn đọc bùi ngùi xúc động: “Chú nhỏ Năm Hườn (giọng miền Nam đọc là Năm Quờn) rất ham học, sách vở của các anh học xong bỏ lại, chú cất xếp cẩn thận và lần lượt lấy ra tự học. Cô Sáu thấy con ham học như vậy rất mừng nhưng cũng chạnh lòng vì cảnh nhà ngày càng sa sút, chồng mất nên các tiêu chuẩn cũng mất hết, các con còn đang đi học, chưa đứa nào đi làm. Nhà túng thiếu, tệ hơn nữa là thằng Năm chưa có khai sanh để xin đi học. Đôi lúc vất vả quá, cô cũng muốn buông xuôi cho Năm Quờn ở nhà, không đi học. Tuy nhiên bên tai cô luôn vang lên lời căn dặn của cha mình: “Sau này dù hoàn cảnh thế nào, con cũng ráng cho mấy đứa nhỏ đi học tới nơi tới chốn””9. Biết hoàn cảnh đó và rất cảm động nên một buổi tối gần chợ Bạc Liệu, có hai vợ chồng người Triều Châu ngỏ ý giúp chú nhỏ Năm Qườn được đi học. Hỏi gia cảnh cô Sáu Thường và chú nhỏ Năm Qườn hiếu học song không có giấy tờ đi học, hai vợ chồng người Triều Châu càng cảm thương. Họ quyết định lấy tờ khai sanh của đứa con vắn số cho cô Sáu để cô có giấy khai sanh cho Năm Qườn đi học. Hai vợ chồng người Triều Châu giúp đỡ với tấm lòng “thấy người khốn khó thì thương”, dạ trong sáng “thi ân bất cầu báo” và từng con chữ khắc ghi vào tâm trí của cậu nhỏ Năm Qườn chính là tạo quả của ân nghĩa ấy. Con chữ đó là kết quả lòng biết ơn và rồi mai sau cậu nhỏ trưởng thành tiếp tục gieo trồng con chữ trên mảnh đất Bạc Liêu yêu dấu trong nhân nghĩa giàu tình người.
Có thể nói, hành trình mở trường của ông Đốc Qườn là hành trình của cả kiếp người. Có lẽ đây cũng là tâm nguyện lớn nhất trong cuộc đời ông, đó cũng là hành trình gian nan, không hề dễ dàng. Đặt trong hoàn cảnh thiếu thốn tài chính, nơi chốn, việc thay đổi chính thể và những biến động thời đại… như thế cho thấy nỗ lực của ông Đốc Quờn là một nỗ lực thế kỷ. Hơn thế, đó còn là nỗ lực xuyên thế hệ. Từ ông ngoại và mẹ của ông đến tình cảnh của ông Đốc Qườn và cô con gái thứ sáu khiến ông nghĩ phải chăng vòng lặp lại của số phận. Nhưng vượt lên trên khó khăn, ông đã hoàn thành được tâm nguyện của ông ngoại, của mẹ và thực hiện thành công tâm huyết cả đời mình. Vì vậy, ông Đốc Qườn là tấm gương cho tinh thần nuôi ý chí, dưỡng nghị lực để đạt thành hoài vọng cuộc đời.
Ngoài ra, tâm huyết của người thầy còn biểu hiện qua những trăn trở cả đời ông Đốc Qườn về triết lý giáo dục. Sống trong thời Pháp thuộc cho tới lúc đất nước chia đôi, ông nhận thức sự biến đổi của triết lý giáo dục theo từng thời đại và bối cảnh xã hội khác nhau. Đến tuổi về chiều xế bóng, ông vẫn day dứt băn khoăn và sau đó căn dặn đứa cháu ngoại họ Phùng tiếp tục suy nghĩ. Lẽ băn khoăn của ông Đốc Qườn hoàn toàn hữu lý bởi mỗi nền giáo dục có định hướng khác nhau nên dựa trên triết lý khác nhau, giáo dục phương Đông khác phương Tây, hiện đại hẳn nhiên khác trung đại. Ngay như ở giáo dục phương Tây, theo như ông Đốc Quờn tìm hiểu, cũng có nhiều chủ thuyết khác nhau: chủ thuyết trường tồn, chủ thuyết thiết yếu, chủ thuyết tiến bộ, chủ thuyết hiện sinh, chủ thuyết kiến tạo xã hội10. Ông nhận thấy mỗi chủ thuyết đều có ưu, nhược điểm riêng. Nhưng điều khiến ông lo nghĩ là chủ thuyết nào phù hợp và bền vững cho nền giáo dục Việt Nam, bởi đó là vấn đề hệ trọng, to lớn, vượt ngoài khả năng của ông. Song, không phải vì vậy mà ông buông xuôi. Ông nhiệt thành nhắn nhủ, gửi gắm tâm can – điều ông chưa làm được – đến các thế hệ tiếp theo, rằng ở châu thổ miền Tây Nam Bộ, điều mà đồng bào Việt - Khmer... thao thức lo sợ là đa phần thiếu chữ do thiếu trường học, thiếu cô thầy dạy, dù họ sống thừa nhân Có thể nói, hành trình mở trường của ông Đốc Qườn là hành trình của nghĩa; vì sự tồn vong của đất nước, hãy tặng họ con chữ - món quà “khai dân trí” vô giá với triết lý giáo dục tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ông Đốc Qườn thầm nghĩ: Một nền giáo dục xuống cấp nghiêm trọng, sớm muộn gì dân tộc ấy cũng sẽ suy tàn.
3. Tầm nhìn của người thầy
Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và sau đó Nam Kỳ lục tỉnh biến thành thuộc địa của thực dân Phân; chúng gấp rút tiến hành bình định, đồng thời khẩn trương thực hiện giai đoạn khai thác tài nguyên thuộc địa, sử dụng danh nghĩa khai hóa cho dân Annam mông muội bằng chiêu bài chủ nghĩa nhân văn khai phóng; thế nhưng thực chất nền giáo dục do thực dân Pháp xây dựng trên đất Nam Kỳ thuộc địa đầu thế kỷ XX chỉ nhằm mục đích phục vụ cho bộ máy cai trị của bọn xâm lược. Hơn nữa, đó là chính sách đồng hóa của thực dân Pháp, muốn dùng nền giáo dục Pháp để làm suy giảm nền học cũng như từng bước chuyển hóa dân Nam Kỳ thuộc địa lãng quên nguồn cội. Ông Đốc Quờn nhận thức sâu sắc về dã tâm xâm lược và thuộc địa hóa của thực dân Pháp nên ông âm thầm lập kế hoạch mở trường tư thục: “Vì chính phủ Pháp chỉ đề ra chính sách và cấp ngân sách cho học sinh bản địa đi học để cung cấp nguồn nhân lực biết chữ quốc ngữ, biết tiếng Pháp phục vụ cho hệ thống cai trị của họ, chớ không phải để khai mở dân trí cho người Việt. Học cao quá, hiểu biết nhiều có khi còn khó cai trị nữa”11. Ông Đốc Quờn nhận thức sâu sắc về dã tâm xâm lược và thuộc địa hóa của thực dân Pháp bằng giáo dục: thực dân muốn tâm hồn con người Việt Nam là nô lệ của văn hóa Pháp. Tuy nhiên, những người Việt chân chính và yêu quê hương đều biết rất rõ ràng điều đó là không thể bởi nền tảng văn hóa dân tộc in hằn sâu đậm trong mỗi tâm hồn. Người Việt tiếp thu những khía cạnh tiến bộ của nền văn hóa và khoa học phương Tây, song chắt lọc và cân nhắc trước những khẩu hiệu “khai hóa” của thực dân, luôn giữ gìn đạo nhà, thờ cúng gia tiên, kết nối liên thế hệ, khiến cho mạch sống và tâm hồn giống nòi mãi mãi lưu truyền.
Nỗi lòng vì sự nghiệp phát triển giáo dục, vì mong mỏi mang con chữ đến cho con nhà nghèo mà Đốc Quờn vững tâm bền chí vượt khó, vượt qua đau thương của việc mất người thân, càng gượng dậy để theo đuổi con đường giáo dục: “Ông Đốc Quờn nghĩ lại con đường cầu học mình đã đi qua, sự học của các con và học trò mình ở trường làng Hòa Bình thật khó khăn, giờ mấy người đã có bằng Thành Chung? Mấy người vô được cao đẳng, đại học? Càng nghĩ, ông càng buồn. Con nhà khá giả, có điền sản, đi học xa nhà khi còn nhỏ tuổi, không có ai giúp đỡ kèm cặp thì xác suất thành công rất thấp và thường mất căn bản do việc giảng dạy bằng tiếng Pháp, lại thiếu sách vở và tài liệu học tập. Còn con nhà nghèo, con mồ côi, con tá điền, chài lưới hay làm mướn làm thuê thì giấy khai sanh còn không có, lấy gì đi học”12. Trong quan niệm của Lưu Được (tự Qườn), giáo dục là quyền tất nhiên của con người; dù giàu hay nghèo đều có quyền đến trường, học tập bình đẳng, phát triển toàn diện và có cơ hội như nhau trên bước đường đời. Muốn vậy, tất cả trẻ em đến tuổi đi học phải được tiếp cận giáo dục và tạo điều kiện để các em thuận lợi học tập. Nghĩ lại cuộc đời mình, ông càng biết ơn ông bà Lưu Nhâm – cha mẹ trên giấy tờ năm xưa đã cho ông mượn giấy khai sinh người con đã mất để được đăng ký đi học. Vì vậy, ông càng quyết tâm theo đuổi sự nghiệp phát triển giáo dục, giúp cho những đứa con nhà nghèo giống như ông năm xưa: “Mình còn như vậy thì con nhà nghèo làm sao có cơ hội tới trường. Ông Đốc Quờn thở dài khi nghĩ tới điều đó. Càng nghĩ ông càng buồn, càng buồn ông càng quyết tâm xin mở trường tư để học sinh nghèo có chỗ học tại tỉnh nhà, khỏi phải đi Sóc Trăng, Cần Thơ, Mỹ Tho hay Sài Gòn nhiều tốn kém và khó khăn”13. Tựu trung, bạn đọc có thể nhận thấy tầm nhìn giáo dục của ông Đốc Quờn vừa xuất phát từ chính hoàn cảnh bản thân vừa xuất phát từ nhận thức thực tiễn đời sống xã hội của con người thời bấy giờ cũng như chính sách thực dân Pháp dành cho việc giáo dục ở Bạc Liêu – trường lớp chỉ vỏn vẹn bậc tiểu học, muốn học bậc trung học thì học sinh phải đành lòng xa nhà xa xứ. Dù biết rằng thực tại còn bao điều gian khó, từ tiền bạc đến thủ tục hành chánh, song càng khó, ông Đốc Qườn càng quyết tâm, bởi chỉ có giáo dục mới thực sự khiến cho tâm hồn con người vượt ra khỏi vòng nô lệ. Với ông, kẻ sĩ đất Bạc Liêu nói riêng và nói chung là kẻ sĩ phương Nam đều nhận thức sâu sắc rằng phẩm chất đạo đức con người chính là cốt lõi vững chắc phát triển đất nước.
Thụ hưởng nền giáo dục phương Tây nhưng ông Đốc Quờn vẫn đề cao nền học vấn Nho giáo. Về quan niệm giáo dục của ông, bạn đọc sẽ phát hiện sự chắt lọc và kết hợp hài hòa nền học vấn Đông - Tây. Ông có tư duy và phương pháp khoa học của phương Tây song cũng cho thấy phong thái lẫn cốt cách của nhà nho xưa. Từ những cuốn sách lưu trữ trong tủ sách tới những câu hỏi của ông Đốc Quờn với đứa cháu ngoại về Tứ thư, Ngũ kinh14, tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo15 đều cho thấy sự giao hòa Đông - Tây. Mục đích giáo dục “để nâng cao dân trí, để phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài… Cốt lõi của giáo dục là chữ “nhân”, là con người, nói cho đủ chữ nghĩa là: nhân dân, dân tộc, khoa học và trách nhiệm toàn cầu”16. Qua những lời nhắn nhủ, dạy dỗ, dặn dò, ông Đốc Quờn đã trao truyền quan niệm giáo dục cho đứa cháu nhỏ. Đó là tâm huyết cùng sự nỗ lực mang chỉ dấu tâm niệm xuyên suốt sự nghiệp giáo dục của đời ông. Tinh thần gieo chữ của ông Đốc Quờn còn cho thấy tinh thần và giá trị thời đại. Sở dĩ nói vậy bởi giáo dục chính là nguồn cơn đầu tiên kiến tạo con người mới, cuộc đời mới, gắn kết xã hội mới. Hơn thế, trong bối cảnh đất nước nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chỉ có giáo dục, tức khai dân trí đủ điều kiện ắt có và đủ giúp ích cho sự phát triển con người, phát triển xã hội và như thế nhằm chuẩn bị về mặt con người cho công cuộc đấu tranh thoát vòng lệ thuộc.
Tinh thần thời đại của ông Đốc Quờn trong giáo dục có thể nói đã chịu ảnh hưởng từ nhiều chí sĩ yêu nước thời bấy giờ. Phan Bội Châu trong bài diễn thuyết tại Trường Quốc học Huế (1926) có cách trình bày khéo léo (vừa để các quan Tây mát dạ) nhưng cũng tài tình nói ra được thâm ý của việc Chính phủ bảo hộ mở mang nền học: đó là để cắt đứt dòng mạch giáo dục dân tộc vốn có, tạo ra những “nô lệ ưu đẳng” và những công dân “hiệp tác với Chánh phủ mà thôi”17; ta cũng hiểu ra “Pháp Việt đề huề” trong thâm ý của cụ Sào Nam tiên sinh không phải cộng tác, không phải hòa hoãn, không phải chấp nhận sự bảo hộ của Pháp; ngược lại, ý tiên sinh muốn khai mở nhận thức quốc dân cho tiến kịp với các nước trên thế giới; có vậy mới sánh vai với các dân tộc khác trên thế giới. Lời văn cho thấy chất giọng mỉa mai quan Tây, nền học Tây và chế độ bảo hộ Tây; nhưng trong chất giọng đó của cụ Sào Nam tiên sinh, ta cũng còn nhận ra nỗi niềm ngậm ngùi trước tình trạng nền giáo dục ở nước ta bấy giờ. Bởi lối học khoa cử trước đó, theo tiên sinh, dù so với Âu Tây hẳn có những nhược điểm nhất định nhưng so về đạo đức vẫn còn nhiều giá trị. Nguy rằng vì mục đích cầu học bấy giờ đều cốt ở “vinh thê ấm tử, ấm áo no cơm” cho nên “nhà không ra nhà, nước không ra nước”18. Vì cái lợi nhỏ của cá nhân mà cầu học thì nền học ấy là nền học vô dụng, chẳng ích gì cho nhân quần xã hội – một nền học nông cạn, thiếu chiều sâu và nói đúng hơn là thiếu gốc nhân bản, thiếu chí hướng của kẻ sĩ đủ tâm, đủ tầm. Người học của nền giáo dục đó chỉ là thứ cỏ cây mọc lan trên mặt đất, cam chịu núp bóng, hút lấy phần dưỡng chất cạn cợt trên mặt, không có chí đào sâu vào nền tảng đất đai sâu dày của quê hương. Hệ lụy của việc vội bỏ nền học cũ trong khi nền học mới chỉ là vay mượn chính là “vượn học tiếng người; đạo đức cũ đã sạch sành sanh mà văn hóa mới lại không một tí gì vướng vấp”19; thế nên mất gốc học cũ, nông sơ nền học mới, khiến cho xã hội tràn lan những công dân chỉ biết chuộng nhảy đầm, uống rượu Tây, ăn cơm Tây, mặc quần áo Tây, lái xe của Tây, giữ túi tiền Tây, ngồi ghế quan Tây, ở trong nhà Tây và rồi phảng phất hơi hướng cái vỏ ngoài của nền văn minh tây trong xã hội ta thành ra lai căng dị hợm. Như vậy, so ra bản chất cầu học của nền học khoa bảng lẫn nền học trường Tây của Chính phủ bảo hộ rốt cuộc cũng chỉ vì vinh thân phì da. Rõ là cái học ấy lãng phí một đời người, uổng công “Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy”(Ca dao). Tiên sinh Sào Nam cho rằng cái mục đích cầu học như vậy là đầu mối của thảm họa tối tăm xã hội. Bởi vậy, tiên sinh gửi gắm đến những người trẻ đang theo đuổi về đường học vấn gồm cả đức dục, trí dục và thể dục: “Các anh em thanh niên học sanh ôi! Nếu các anh em chắc phải cải lương cái mục đích nhập học lại chăm chỉ về một sự làm nên người quốc dân rất tốt, thời trước hết phải bồi dưỡng cái giáo dục thuần khiết; như lòng ái quốc, như lòng hiệp quần, như lòng công ích, tất cả cầu cho thật thà hết sức, không một thứ gì dối trá để cho người ta nghi ngờ, thế thời cái cội gốc làm quốc dân rất tốt đã kiên cố rồi; lại thứ nữa, là phải chăm chỉ cầu cho được trí thức mở mang, như thế nào mà rộng đường kinh tế, mà lợi ích cho nhơn quần, tất phải mỗi việc mỗi theo trên đường khoa học mà cầu cho trí thức mới mỗi ngày mỗi phát đạt để cho vừa cung cấp sự yêu cầu trong xã hội”20. Trong đó, cụ Phan Bội Châu đề cao vai trò và giá trị văn chương trong việc hun đúc ý hướng thiện và hướng thượng cho tâm hồn con người có được chí lập ngôn, lập công, lập đức21. Quan niệm của Đốc Quờn về giáo dục cũng cho thấy điểm tương đồng và hướng đến toàn diện. Về điều này, thể hiện qua cuộc trò chuyện giữa ông và đứa cháu ngoại, rằng ông hỏi cháu về quan niệm giáo dục và sau đó cắt nghĩa cho cháu về việc này: “Con nói đúng nhưng chưa rõ nghĩa. Con phải giải thích hai chữ “giáo dục” là từ ghép của hai chữ “giáo” và chữ “dục”. “Giáo” có nghĩa là dạy cho biết, “dục” là nuôi nấng. Hai chữ “giáo dục” ghép lại có nghĩa là nuôi nấng và dạy cho biết đủ cả trí dục, đức dục và thể dục”22. Không chỉ vậy, ông Đốc Quờn còn liên hệ quan niệm giáo dục phương Tây và giúp bạn đọc ngày nay nhận ra quan niệm Đông - Tây gặp nhau ở điều nuôi dưỡng, đào tạo nên con người hiểu biết và có giá trị phục vụ cho xã hội. Chính những lời dạy giản dị nhưng hàm chứa ý nghĩa thâm sâu của ông ngoại Lưu Được (Đốc Quờn) đã gieo vào lòng đứa cháu ngoại nhập tâm, nhiều suy ngẫm cho đến hôm nay. Bằng cách đó, ông Đốc Quờn đã trao truyền ý nghĩa của việc giáo dục đào tạo con người cho xã hội, cho đất nước.
Tóm lại, ông Đốc Quờn xây dựng Trung học Tư thục Nguyễn Du – trường Trung học Đệ 1 cấp (tương ứng Trung học cơ sở ngày nay) đầu tiên ở Bạc Liêu được thành lập khoảng cuối thập niên 1940; riêng Trung học Công lập Đệ 1 cấp khai giảng niên khóa đầu tiên 1956 với 3 lớp Đệ thất: A (nam), B (nữ), C (nam, nữ), và tạm mượn phòng học của trường Tiểu học Nam Nữ tỉnh lỵ Bạc Liêu để sử dụng. Với Đốc Qườn, ông sẵn lòng mở rộng tâm hồn “người Việt cao quý”, dùng đồng tiền chắt chiu dành dụm từ mồ hôi mà có thực hiện ước vọng duy nhất: khai dân trí, xây dân đức, giữ hồn luân lý truyền thống của dân tộc. Theo ông, vấn đề đạo đức luân lý can hệ rất nhiều đến sự phát triển xã hội, đạo đức cũng là thước đo cho thấy sự tiến bộ của xã hội, cho thấy trình độ phát triển cao của nền văn minh (dù là giống nòi nào, dù là quốc gia nào). Cũng như vậy, ông Đốc Qườn trong tác phẩm Người gieo chữ của nhà văn Phùng Quang Thuận cũng đề cao đức dục. Việc giáo dục luân lý khiến tạo nền tảng bền chắc cho tâm hồn con người là kim chỉ nam định hướng việc trau dồi kiến thức, phát triển năng lực.
Hồi đầu thế kỷ XX, cụ Tây Hồ Phan Châu Trinh coi trọng vấn đề đạo đức đối với sự phát triển của quốc dân. Tây Hồ tiên sinh thấy tình cảnh đạo đức truyền thống tiêu mòn, đạo đức ngoại lai từ Tây phương cũng chưa thành hình, tạo nên tình cảnh đạo đức mục nát. Đó là nguồn cơn khiến cho dân trí, dân sinh yếu nhược. Tiên sinh nhấn mạnh đạo đức đích thực thì không phân biệt Đông - Tây, cũ - mới. Đạo đức theo quan niệm của tiên sinh là nền tảng cho sự tồn tại của con người trong cõi thế gian – đạo đức khiến cho người thành con người đúng nghĩa trọn vẹn chân chính. Đạo đức nhất thiết, luân lý tùy thời: “Phải có quốc gia luân lý in sâu vào óc thì sự ước ao tự do độc lập của dân tộc ta sau nầy mới thành tựu được”23. Giá trị thời đại của quan niệm giáo dục này càng được khẳng định trong bối cảnh hiện nay khi mà cách mạng kỹ nghệ và thời toàn cầu hóa mạnh mẽ. Từ “quốc gia luân lý” chúng ta có thể nghĩ và bàn luận rộng hơn về hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam; trong đó, hệ giá trị đạo đức như bộ phận quan trọng hợp thành nền tảng hệ giá trị quốc gia: “Hệ giá trị con người là một cấu thành đặc biệt quan trọng trong hệ thống nhiều hệ giá trị khác nhau của Việt Nam cùng tồn tại trong giai đoạn lịch sử hiện nay của đất nước. Trong quá trình hình thành, phát triển, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, đến nay, dân tộc Việt Nam đã tạo nên một hệ thống nhiều hệ giá trị khác nhau như: hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị xã hội, hệ giá trị gia đình, hệ giá trị cộng đồng, hệ giá trị tộc người, hệ giá trị đạo đức, hệ giá trị chính trị,… Tùy thuộc vào lĩnh vực, đối tượng, chủ thể, góc độ xem xét mà mỗi hệ giá trị đó lại bao hàm những giá trị khác nhau và có những cơ cấu, trình tự thứ bậc khác nhau. Nhưng trong hệ thống các hệ giá trị đó thì hệ giá trị con người bao giờ cũng là hệ giá trị trung tâm”24.
Đầu thế kỷ XX, hình tượng ông Đốc Qườn khiến bạn đọc hoài nhớ nỗi lòng “Khai dân trí - Chấn dân khí - Hậu dân sinh” của phong trào Duy Tân ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, phong trào Minh Tân ở Nam Kỳ với những nhân vật như Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Háo Văn và Hội Khuyến học Cần Thơ. Khai mở con đường cho đất nước, quan trọng hơn cả là khai mở dân trí. Những nhà chí sĩ yêu nước đã truyền cảm hứng khai dân trí cho Đốc Qườn, và như thế cũng là cách Đốc Qườn trả ơn cho quê hương, thực hiện di nguyện của ông ngoại và mẹ – như thế là hiếu thuận: “Cậu chợt nhớ lại lời mẹ dạy: ông ngoại năm xưa chọn làm hương sư trong làng là để tránh cảnh làm quan luồn cúi, chịu áp lực sai khiến của cấp trên gây tổn thương tới dân đen phía dưới. Con sinh ra trong thời Pháp thuộc, dù có tinh thần bất khuất cũng không có được vũ khí tối tân, bao nhiêu người đã hi sinh nhưng không thay đổi được. Ông ngoại con dặn mẹ phải cố gắng cho con cái theo ngành sư phạm, sau này mở trường truyền bá trí thức cho học sinh nghèo được đi học để thay đổi số phận của mình và số phận của quê hương”25. Ý hướng khai dân trí xuất phát từ cảm nhận thực tiễn tình hình đất nước. Trong thời gian học trường sư phạm, thời gian nghỉ, Lưu Được đi thăm thú những vùng quanh Sài Gòn và nhận ra nỗi cơ cực của dân nghèo và sự thống trị “Bàn tay thép bọc nhung” của nhà cầm quyền thực dân Pháp đối với người dân bản địa. Khu vực Chợ Lớn buôn bán sầm uất nhưng Hoa kiều nắm hết các hoạt động kinh tế, người Pháp nắm quyền lực chính trị. Giữa tình cảnh đó, Lưu Được băn khoăn về việc chống Pháp hay cộng tác với Pháp26. Điều này cho thấy tâm hồn và hoài bão của một thanh niên với quê hương. Sở dĩ có lòng với quê hương vì có hiếu thuận trong gia đình. Chúng ta thấy giáo dục gia đình thực sự rất quan trọng, bởi chính lời dạy của mẹ, của ông ngoại đã hun đúc nên cốt cách con người Lưu Được27. Nhớ mãi cái tên Qườn khi đã nhận cái tên Lưu Được đầy ân nghĩa cũng cho thấy ý thức nguồn cội của Lưu Được. Do đó, việc Lưu Được đến với giáo dục (học sư phạm, mở trường học) phần báo hiếu cho gia tiên, phần để báo hiếu cho quê hương đất nước. Trong bối cảnh thời đại ngả nghiêng, vận mệnh đất nước thịnh suy tùy thuộc ở những người trẻ – người trẻ có học, có chính khí, là rường cột nước nhà.
4. Kết luận
Vừa là tiểu thuyết phong tục vừa là tiểu thuyết gia đình, Người gieo chữ (2024) kể lại cuộc đời ông Lưu Được (tự Qườn) từ ấu thơ đến tuổi xế chiều, mạch truyện nổi bật với hành trình gieo trồng con chữ trên đất Bạc Liêu xưa. Trường Trung học Tư thục Nguyễn Du không chỉ là mái trường cho học trò nghèo nuôi ước vọng học đường mà còn là hoài bão và tâm huyết cả đời của ông Đốc Quờn. Thế nên, vượt lên trên câu chuyện gia đình, tác phẩm này thể hiện quá trình mở mang, khai dân trí, phát triển dân sinh nơi vùng đất “công tử Bạc Liêu” nổi tiếng ăn chơi sấm dậy vang trời của một thời, xứ những kẻ lắm tiền nhiều của giàu nứt vách...
Người gieo chữ (2024) của nhà văn Phùng Quang Thuận không chỉ là hoài vọng của một người, một đời mà còn khát vọng khai dân trí của quê hương xứ sở nói chung. Tác phẩm vừa mang giá trị văn hóa lịch sử vừa thành công trong nghệ thuật xây dựng nổi bật hình tượng nhân vật thầy Đốc Quờn – biểu tượng của con người có ý chí nuôi dưỡng hoài bão và nỗ lực cả đời thực hiện hoài bão ấy đạt thành. Hơn thế, đó còn là biểu tượng đạo đức nhân cách một người thầy, một người con Bạc Liêu biết cúi xuống và dùng con chữ nâng người mù chữ, yếu thế trong xã hội nhiễu nhương, điên đảo của thời Nam Kỳ thuộc địa.
Đọc Người gieo chữ, bạn đọc sẽ tiếp nhận nguồn cảm hứng nhân văn và đồng thời nguồn cảm hứng nhân văn ấy được truyền đến những người thầy - những người mang sứ mệnh kiến tạo nền giáo giáo dục làm nền tảng vững chắc xây dựng tương lai đất nước. Đăc biệt, thế hệ trẻ cần lắm sự ý thức trách nhiệm sâu sắc rằng, thế hệ là rường cột nước nhà. Qua tác phẩm Người gieo chữ, nhà văn Phùng Quang Thuận đã tái tạo câu chuyện của người trí thức xưa, giúp người ngày nay hiểu và suy ngẫm về thái độ, hành động đối với nền học vấn; đồng thời làm phong phú thêm sinh cảnh văn chương Nam Bộ đương thời.
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 22, 25, 26, 27 Phùng Quang Thuận (2024), Người gieo chữ (truyện dài), NXB. Tổng hợp, tr. 9, 9, 25, 26, 76, 110-111, 111-112, 109, 12, 106-107, 32, 30-31, 31-32, 94, 95, 97, 92, 18, 20-21, 23.
17, 18, 19, 20 Phan Bội Châu (1926), Bài diễn thuyết của cụ Phan Bội Châu tại Trường Quốc học ở Huế và tại Trường Đồng Khánh, Nhà in Xưa-Nay, tr. 2-3, 3, 3, 4-5.
21 Phan Bội Châu (1932), Vấn đề giáo dục: Công dụng và Giá trị… văn chương, Phổ thông văn xã, tr. 12-14.
23 Phan Châu Trinh (1926), Bài diễn thuyết về Đạo đức, Luân lý Đông Tây (tại Hội Việt Nam đêm 19 tháng 11 năm 1925), Nhà in Xưa-Nay, tr. 21.
24 Lương Đình Hải (2022): “Xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia Hệ giá trị quốc gia, Hệ giá trị văn hóa, Hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 19 (17-28).