THƠ NGUYỄN ĐÌNH THI TỪ GÓC NHÌN CỔ MẪU

Bài viết khảo sát sáu tập thơ của Nguyễn Đình Thi, nhận diện các biểu tượng nước, lửa, đất, trời và người anh hùng như những mã văn hóa – biểu tượng thể hiện chiều sâu tâm linh, tinh thần dân tộc và khát vọng tự do. Từ đó góp phần lý giải chiều sâu văn hóa, tâm linh trong thế giới nghệ thuật của ông, đồng thời khẳng định đóng góp của nhà thơ trong việc kế thừa và tái hiện các hình tượng mang tính phổ quát của nhân loại, thấm đẫm tinh thần thời đại Việt Nam.

   Nguyễn Đình Thi (1924-2003) là một nghệ sĩ đa tài của nền văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Ông vừa sáng tác nhạc, viết kịch, tiểu thuyết, tiểu luận phê bình, vừa là một nhà thơ có phong cách riêng biệt, góp phần định hình diện mạo thơ ca cách mạng Việt Nam từ những năm kháng chiến chống Pháp đến thời kỳ đổi mới. Thơ Nguyễn Đình Thi chứa đựng những suy tư sâu sắc về Tổ quốc, con người, lịch sử và thiên nhiên, được thể hiện qua giọng điệu trữ tình - triết lý và một hệ thống hình tượng giàu sức gợi. Đằng sau vẻ đẹp giản dị, hồn nhiên của lời thơ là một thế giới biểu tượng đa tầng, nơi con người hòa vào nhịp sống của đất trời, vũ trụ. Từ góc nhìn ấy, thơ Nguyễn Đình Thi là không gian gặp gỡ giữa tâm hồn cá nhân và tâm thức cộng đồng, giữa trải nghiệm thực tại và chiều sâu văn hóa dân tộc.

   Trong hơn nửa thế kỷ qua, thơ Nguyễn Đình Thi đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu và phê bình. Thơ Nguyễn Đình Thi đã được nhiều công trình và bài viết đề cập ở các bình diện khác nhau. Hà Minh Đức (2011) trong Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi khẳng định Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài, có phong cách thơ giàu cảm xúc và triết lý. Lê Thị Chính (2005) với luận án Nguyễn Đình Thi với thơ và kịch phân tích mối liên hệ giữa tư tưởng nhân văn và sự tìm tòi đổi mới nghệ thuật của nhà thơ. Nguyễn Thị Trọng Tín (2011) trong Thơ Nguyễn Đình Thi trong hành trình thơ hiện đại Việt Nam xem thơ Nguyễn Đình Thi như một biểu hiện tiêu biểu của quá trình hiện đại hóa thi ca. Các bài viết của Thiên Sơn (2024), Nguyễn Thành (2024) và Bùi Thế Đức (2024) tiếp tục khẳng định vẻ đẹp trí tuệ, cảm xúc và nỗ lực sáng tạo hình thức trong thơ Nguyễn Đình Thi. Tuy nhiên, cho đến nay, việc tiếp cận thơ Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn cổ mẫu vẫn còn là khoảng trống. Bài viết này nhằm góp phần lý giải chiều sâu văn hóa, tâm linh trong thơ Nguyễn Đình Thi qua việc phân tích các cổ mẫu tiêu biểu như nước, lửa, đất, trời và người anh hùng.

   Nhà tâm lý học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung (1875-1961) đã xác lập khái niệm Archetype vào năm 1912. Thuật ngữ Archetype hay còn gọi là cổ mẫu, vết tích bản cổ, hình ảnh nguyên thủy, siêu tượng, mẫu gốc… Theo Jung, đó là “những yếu tố tâm thần không thể cắt nghĩa được bằng một sự việc xảy ra trong đời sống cá nhân, nó hình như bẩm sinh đã có, có từ nguyên thủy, nó là một thành phần trong gia tài tinh thần của nhân loại”1. Tiếp nối Carl Gustav Jung, các học giả như Northrop Frye, Gilbert Durand, Joseph Campbell… đã mở rộng lý thuyết cổ mẫu sang lĩnh vực phê bình văn học và nghiên cứu văn hóa, cho thấy mối liên hệ giữa biểu tượng thi ca và kinh nghiệm tập thể của nhân loại. Cổ mẫu là sự hiện hữu cụ thể của kinh nghiệm tâm linh nhân loại. Cho đến ngày nay, cổ mẫu vẫn có sức sống mạnh mẽ trong văn học. Việc tìm hiểu cổ mẫu trong tác phẩm văn học sẽ cho thấy hình thái, chức năng gốc của cổ mẫu trong tư duy huyền thoại và sự chuyển hóa của nó trong tác phẩm văn học để phù hợp với từng thời đại. Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn cổ mẫu, giá trị của tác phẩm không chỉ được khám phá về mặt nội dung và nghệ thuật mà còn ở chiều sâu văn hóa nhân loại.

   Vận dụng lý thuyết cổ mẫu vào nghiên cứu thơ Việt Nam giúp nhìn nhận sâu hơn bản chất văn hóa - tâm linh của hình tượng thơ. Trong thơ của Nguyễn Đình Thi, các hình tượng như nước, lửa, đất, trời, người anh hùng không chỉ là yếu tố miêu tả thiên nhiên hay hiện thực chiến đấu mà còn là những “mã văn hóa” phản ánh tâm thức dân tộc trong giai đoạn lịch sử đặc biệt. Nước tượng trưng cho sự sống, cho dòng chảy của lịch sử và nỗi niềm thương nhớ quê hương; lửa mang hai chiều nghĩa: hủy diệt và tái sinh; đất là cội nguồn, là sức mạnh bền bỉ của nhân dân; trời mở ra khát vọng tự do, ánh sáng và niềm tin; người anh hùng là hình ảnh kết tinh của tinh thần dân tộc – biểu tượng của sự hi sinh và tái sinh của cộng đồng. Nhìn từ cổ mẫu, thơ Nguyễn Đình Thi không chỉ kể lại hiện thực chiến tranh và hòa bình mà còn tái hiện hành trình tâm linh của con người Việt Nam trong thế kỷ XX – hành trình đi qua đau thương để tìm đến độc lập, tự do.

   Bài viết vận dụng lý thuyết cổ mẫu của Carl Gustav Jung và một số quan điểm của các nhà nghiên cứu như Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Eleazar Mikhailovich Meletinsky để khảo sát sáu tập thơ tiêu biểu của Nguyễn Đình Thi: Dòng sông trong xanh (1947), Người chiến sĩ (1956), Bài thơ Hắc Hải (1959), Tia nắng (1988), Trong cát bụi (1992), Sóng reo (2001). Trong đó, một số bài thơ được tuyển in lại nhiều lần trong các tập khác nhau. Vì vậy, tổng số bài thơ được khảo sát là 121 bài thơ. Toàn bộ các tác phẩm được khảo sát và các dẫn chứng thơ trong bài viết này được trích từ Nguyễn Đình Thi toàn tập, tập 2, do Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2019. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích, tổng hợp, kết hợp thống kê, so sánh và đối chiếu các biểu tượng thơ nhằm nhận diện các dạng thức cổ mẫu nổi bật và ý nghĩa của chúng, tập trung vào năm cổ mẫu tiêu biểu: nước, lửa, đất, trời, người anh hùng – những cổ mẫu có tần suất xuất hiện cao và mang giá trị biểu tượng sâu sắc trong thơ của Nguyễn Đình Thi. Mục đích của bài viết là làm rõ cách Nguyễn Đình Thi tiếp biến các cổ mẫu văn hóa dân tộc và nhân loại để tạo nên thế giới nghệ thuật mang dấu ấn riêng, qua đó khẳng định đóng góp của ông đối với thơ ca Việt Nam hiện đại. Việc tiếp cận thơ Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn cổ mẫu không chỉ giúp lý giải sức sống của hình tượng nghệ thuật trong thơ ông mà còn góp phần soi sáng mối liên hệ giữa văn học, văn hóa và tâm thức dân tộc – yếu tố làm nên chiều sâu bền vững của văn học.

   Nguyễn Đình Thi đã thể hiện các cổ mẫu tiêu biểu là nước, lửa, đất, trời, người anh hùng trong thơ. Các cổ mẫu – biểu tượng cổ xưa này đã giúp tác phẩm của ông thể hiện được không gian và thời gian rộng lớn, tinh thần thời đại lớn lao, gắn kết lịch sử qua các chiều đồng đại và lịch đại, tạo nên sự đồng cảm của người đọc nhiều thế hệ.

   1. Cổ mẫu nước

   Theo “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới: huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số”, cổ mẫu nước mang nhiều ý nghĩa, “những ý nghĩa tượng trưng của nước có thể quy về ba chủ đề chiếm ưu thế: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh. Ba chủ đề này thường gặp trong những truyền thuyết cổ xưa nhất và hình thành những tổ hợp hình tượng đa dạng nhất và đồng thời cũng chặt chẽ nhất”2. Thật vậy, nước có thể mang lại sự sống, sự sinh sôi nảy nở. Nước chảy từ nguồn, nước của sự sống được coi là một biểu tượng về nguồn gốc vũ trụ. Hơn nữa, nước với bản chất thanh khiết có thể thanh lọc vạn vật và năng lực cứu sinh.

   Kết quả khảo sát thơ của Nguyễn Đình Thi cho thấy cổ mẫu nước ở đây là biển, sông, suối, rạch, mưa, giếng, tuyết, nước mắt, máu… Trong đó, xuất hiện nhiều nhất là sông. Nhiều dòng sông được nhắc tới như sông Lô, sông Đà, sông Thao, sông Kỳ Cùng, sông Chảy, sông Mã, sông Hồng, sông Cấm, sông Hiền Lương, sông Sài Gòn.

   Trong thơ Nguyễn Đình Thi, đối với cổ mẫu nước, nét nghĩa sự thanh lọc tâm hồn được thể hiện mạnh mẽ nhất. Nước trôi chảy như đời người luôn chảy trôi, biến động. Khi con người vượt qua bao thăng trầm của cuộc sống để trở về, dòng nước vẫn đứng đó như chờ đợi bước chân người về. Đứng trước dòng nước, con người cảm thấy được trở về cùng những năm tháng đã qua, xua tan đi biết bao nỗi nhọc nhằn, chỉ còn lại sự bình yên:

   “Hà Nội chiều nay mưa tầm tã
   Ta lại về đây giữa phố xưa
   Nước hồ Gươm sao xanh dịu quá
   Tháp Rùa e lệ cười trong mưa”.
                                           (Ngày về)

   Cổ mẫu nước trong thơ Nguyễn Đình Thi cũng mang sức gợi mạnh mẽ về cội nguồn và sự sống. Nước là biểu tượng của dòng chảy thời gian, của ký ức tập thể và sự hồi sinh bất tận. Trong thơ ông, dòng nước – đặc biệt là những dòng sông – trở thành chứng nhân của lịch sử, nơi phản chiếu những bước chân ra đi và trở về của người lính, nơi ghi dấu những chiến công và mất mát của dân tộc:

   “Ta yêu những dòng sông Việt Bắc
   Đã bao lần tiễn bước quân đi”.
                                              (Quê hương Việt Bắc)

   Dòng nước trong thơ Nguyễn Đình Thi không chỉ là không gian thiên nhiên mà còn là dòng chảy tâm linh của Tổ quốc, nối kết giữa con người và đất nước, giữa quá khứ và hiện tại. Nước vừa mang tính nữ (mềm mại, bao dung, nâng đỡ sự sống) vừa mang tính anh hùng (kiên cường, bền bỉ, chứng kiến những cuộc chiến đấu của dân tộc). Nước hiện lên như linh hồn của thiên nhiên Việt Bắc – hiền hòa mà tràn đầy sinh khí. Dòng suối “lượn ven đồi thoai thoải” không chỉ là nét vẽ của cảnh vật mà còn là nhịp thở của quê hương, đồng hành cùng người lính trong hành trình bảo vệ Tổ quốc:

   “Núi tiếp núi quen thân
   Đang vẫy người bộ đội
   Dòng suối nước mát trong
   Lượn ven đồi thoai thoải”.
                                              (Gặp đơn vị cũ lên đường)

   Không chỉ là chứng nhân thầm lặng của lịch sử, dòng nước trong thơ Nguyễn Đình Thi còn mang tâm trạng và tính cách riêng. Dường như trong cảm thức của nhà thơ, thiên nhiên không tách rời con người mà cùng chia sẻ nhịp đập cảm xúc với những biến động của dân tộc. Nước biết reo vui khi quân ta chiến thắng, cũng biết đau thương khi người chiến sĩ ngã xuống. Ở đây, sông Đà không chỉ là một dòng nước cụ thể mà đã trở thành một thực thể sống động của ký ức dân tộc, mang trong mình linh hồn của người tử sĩ. Tiếng “gầm mãi không thôi” của sông là tiếng vọng bất tận của nỗi đau và niềm thương nhớ:

   “Vì Tổ quốc anh hi sinh lặng lẽ
   Trên môi lưu luyến nụ cười
   Tây Bắc rung mình nhớ người lính trẻ
   Sông Đà gầm mãi không thôi”.
                                                 (Người tử sĩ)

   Bên cạnh nét nghĩa là sự thanh lọc và chứng nhân của lịch sử, hình tượng dòng sông trong thơ Nguyễn Đình Thi còn mang ý nghĩa của nguồn sống. Nước là nơi khởi đầu, nuôi dưỡng và duy trì sự sống; vì thế, nó luôn gắn liền với cảm thức hồi sinh và sinh trưởng của con người cũng như của đất nước. Hình ảnh “Những dòng sông đỏ nặng phù sa” trong bài Đất nước là biểu tượng cho sức sống bền bỉ, dồi dào của dân tộc – dòng sông ấy vừa chở nặng ký ức lịch sử vừa nuôi dưỡng những cánh đồng và cuộc đời đang lớn lên từng ngày.

   Cảm thức ấy còn được tái hiện dịu dàng, gần gũi trong những vần thơ mang hơi thở đời thường:

   “Tôi về đây
   Bên dòng sông trong xanh
   Dòng sông năm xưa
   Ven bãi vải trôi êm đềm
   Dòng sông nhỏ
   Nước mát bốn mùa
   Tắm hai bờ cây cỏ
   Sớm chiều nắng mưa”.
                                      (Dòng sông trong xanh)

   Dòng sông ở đây trở thành hình ảnh của ký ức quê hương, nơi con người trở về tìm lại sự bình yên nguyên sơ và mạch sống trong lành của tâm hồn. Trong dòng chảy ấy, nước không chỉ nuôi dưỡng thiên nhiên mà còn thanh lọc tâm hồn, giúp con người tái sinh sau những biến động của đời sống: 

   “Dòng sông vẫn trôi đi trôi mãi
   Qua bao nẻo trời dòng sông trôi về đâu
   Về đâu mải miết dòng sông rộng
   Mang nặng phù sa đỏ bến bờ”.
                                          (Núi và biển)

   Nét nghĩa tái sinh của cổ mẫu nước được Nguyễn Đình Thi diễn tả đầy cảm xúc trong bài Chuyện hai người xa cách. Hình ảnh dòng sông ở đây không chỉ là nước uống mà là nguồn sống tâm linh, là khát vọng được hòa nhập, được hồi sinh trong tình yêu và trong thiên nhiên. Nước – biểu tượng của sự sống và tái sinh – trở thành cội nguồn của niềm tin, của khát vọng vươn lên vượt qua khổ đau, hướng tới sự hòa hợp giữa con người và vũ trụ:

   “Như kẻ chết khát vừa qua sa mạc
   Muốn uống mãi dòng sông vào người”.
                                             (Chuyện hai người xa cách)

   Như vậy, cổ mẫu nước trong thơ Nguyễn Đình Thi vẫn giữ nét nghĩa gốc như trong huyền thoại. Nước nuôi dưỡng sự sống, nước có khả năng giúp con người thanh lọc. Tuy nhiên, trong thơ Nguyễn Đình Thi, nước được thể hiện mạnh mẽ ở nét nghĩa là nơi chứng kiến sự biến chuyển của đời người và lịch sử dân tộc. Trong khói lửa chiến tranh, nước đau thương khi chứng kiến sự ra đi của những người chiến sĩ đã chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc. Cổ mẫu nước đã góp phần làm cho thơ Nguyễn Đình Thi mở rộng phạm vi phản ánh, thể hiện không khí hào hùng của một thời đại.

   2. Cổ mẫu lửa

   Lửa vốn là một biểu tượng mang nhiều ý nghĩa: “Như mặt trời bằng những tia sáng của nó, lửa bằng những ngọn lửa tượng trưng cho hoạt động đem lại sự sinh sản dồi dào, tẩy uế và soi sáng. Nhưng lửa cũng thể hiện một mặt tiêu cực: nó làm tối và chết ngạt bởi khói của nó; nó đốt cháy, tàn phá và thiêu hủy: lửa của những dục vọng, của sự trừng phạt, của chiến tranh”3. Lửa vừa mang nét nghĩa đốt cháy, thiêu hủy nhưng cũng mang nét nghĩa thanh lọc, tái sinh. Như vậy, cổ mẫu nước và lửa đều mang nét nghĩa thanh lọc, tái sinh. Sự thanh lọc, tái sinh của nước thường mang tính nhân từ thì sự thanh lọc, tái sinh của lửa mang tính hủy diệt.

   Trong thơ Nguyễn Đình Thi, cổ mẫu lửa xuất hiện với tần suất dày đặc, gắn liền với hai chiều nghĩa đối lập: hủy diệt và tái sinh. Trước hết, trong bối cảnh chiến tranh, lửa là biểu tượng của tàn phá, của nỗi đau khôn nguôi mà bom đạn để lại. Ngọn lửa xuất hiện trong nhiều bài thơ như một chứng tích của sự chết chóc, mất mát và khổ đau:

   “Trên những con đường đầy lửa cháy”.
                                                      (Quê hương Việt Bắc)

   “Ôi đêm nay những phố hè
   Muốn lòe lên chớp lửa”.
                                                      (Hà Nội đêm nay)

    “Lửa ào ào cuồn cuộn
   Lấp những đồi cháy đen”.
                                                      (Bài ca Điện Biên Phủ)

   “Còn đâu những bản Mường yêu dấu
   Giặc đến trời hoang đất ngập tro”.
                                                       (Quê hương Việt Bắc)

   Những hình ảnh ấy cho thấy chiến tranh đã biến ngọn lửa – vốn là biểu tượng của ánh sáng và ấm áp – thành ngọn lửa hủy diệt, thiêu rụi mọi sự sống, đốt cháy những mái nhà, ruộng vườn, đồi nương. Trong cảm quan của Nguyễn Đình Thi, lửa trở thành nỗi ám ảnh lớn của con người thời chiến – ngọn lửa của giặc, ngọn lửa của đau thương và mất mát. Nó gợi lên nỗi sợ hãi sâu thẳm của con người giữa thời “bom rơi đạn nổ”, giữa một thế giới mà sự sống luôn bị đe dọa.

   Tuy nhiên, vượt lên tầng nghĩa hủy diệt, lửa trong thơ Nguyễn Đình Thi còn mang ý nghĩa tái sinh – ngọn lửa của ý chí, của tinh thần bất khuất và của sức sống dân tộc. Từ trong tro tàn và đổ nát, ngọn lửa cách mạng, ngọn lửa tự do lại bùng lên, sưởi ấm tâm hồn con người Việt Nam, soi sáng con đường đi tới tương lai. Lửa, ở phương diện cổ mẫu, chính là biểu tượng của năng lượng sáng tạo và tinh thần sống mãnh liệt: nơi sự chết chóc chỉ là tiền đề cho một cuộc hồi sinh lớn lao: 

   “Nước Việt Nam từ máu lửa
   Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.
                                            (Đất nước)

   “Nhưng đất trắng đã xanh lúa mới
   Miền Bắc hôm nay trời đã sáng”.
                                            (Chào bạn Liên Xô)

   Trong thơ Nguyễn Đình Thi, cổ mẫu lửa đã thể hiện các nét nghĩa: hủy diệt và tái sinh. Hai nét nghĩa này gắn liền với nhau. Lửa của chiến tranh đã tàn phá đất nước Việt Nam nhưng không thể tiêu diệt được tinh thần dân tộc. Dân tộc Việt Nam đã hồi sinh từ trong đau thương, lại tiếp tục dũng cảm, kiên cường chống giặc ngoại xâm để giành lấy thắng lợi cuối cùng. Trong thế giới thơ Nguyễn Đình Thi, lửa không chỉ là hiện thực của chiến tranh mà còn là ẩn dụ cho hành trình tâm linh của dân tộc: từ bóng tối đến ánh sáng, từ tàn phá đến hồi sinh, từ đau thương đến hi vọng. Cổ mẫu lửa đã được sử dụng để thể hiện những nét nghĩa vừa cổ xưa vừa hiện đại, góp phần thể hiện một thời đại hào hùng của dân tộc. 

   3. Cổ mẫu đất, trời

   Đất là nơi con người và vạn vật đi lại, sinh sống và tồn tại. Đất sinh ra và nuôi dưỡng vạn vật. Chính vì thế, cổ mẫu đất là một trong những cổ mẫu tự nhiên lâu đời nhất, “Đất đồng nhất với người mẹ, đất là một biểu tượng của sức sản sinh và tái sinh. Đất sinh ra mọi sinh vật, nuôi dưỡng muôn loài để rồi tiếp nhận lại từ chúng cái mầm đầy sức sinh sôi nảy nở”4. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Xuân trong Huyền thoại và văn học, cổ mẫu đất vô cùng quan trọng: “những tài liệu về triết học và văn hóa học ở Việt Nam, khi đề cập đến vũ trụ quan người Việt nói riêng (và phương Đông nói chung) thường nêu ra cặp phạm trù đối lập đầu tiên là đất và trời, tương ứng với mẹ và cha, âm và dương”5. Sử thi Mường Đẻ đất đẻ nước với nhân vật mụ Dạ Dần đã đề cập rất sớm về cặp đôi cổ mẫu đất và nước.

   Trong thơ Nguyễn Đình Thi, đất hiện lên với vẻ đẹp đa diện và linh thiêng. Đó là cội nguồn của sự sống, là người mẹ hiền nuôi dưỡng con người và vạn vật, đồng thời cũng là chứng nhân của chiến tranh, của mất mát và hồi sinh. Với nhà thơ, đất không chỉ là một yếu tố tự nhiên mà là thực thể sống, biết yêu thương, chịu đựng và tái sinh.

   Đất hiện lên trong nhiều không gian khác nhau của Tổ quốc – từ đồng bằng đến miền núi, từ Bắc chí Nam – như một cơ thể thống nhất, nơi từng tấc đất đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và máu của con người Việt Nam. Đất là nguồn sống: nuôi dưỡng con người bằng những “nương ngô, ruộng dâu, đồng lúa” – hình ảnh quen thuộc, giản dị mà gợi nhiều cảm xúc. Dù nghèo khó, mảnh đất ấy vẫn “chắt chiu” từng giọt phù sa, từng củ sắn, củ mài để nuôi quân, nuôi người. Trong cảm thức của Nguyễn Đình Thi, đất là biểu tượng của sự kiên cường và lòng bao dung, nơi kết tinh sức sống bền bỉ của dân tộc:

   “Đất nghèo càng chắt chiu yêu quý
   Củ mài Yên Bái sắn Tuyên Quang
   Gian khổ đã nuôi lòng chiến sĩ
   Ta yêu bà mẹ Mán Cao Lan”.
                                             (Quê hương Việt Bắc)

   Nhưng trong chiến tranh, đất không chỉ là nơi sinh tồn mà còn là nơi hứng chịu, chịu đựng và hi sinh. Đất “chảy máu”, đất hóa thành nhân chứng đau thương của thời bom đạn:

   “Ôi những cánh đồng quê chảy máu
   Dây thép gai đâm nát trời chiều”.
                                                     (Đất nước)

   “Ôi quê hương ta đau xót
   Đói gầy mắt nhìn thiêu đốt
   Trên luống cày khô nứt nẻ
   Vồng lên bông lúa vàng tin tưởng”.
                                                         (Lúa)

   Ngay cả khi bị tàn phá, đất vẫn hồi sinh và tái tạo, vẫn vồng lên những “bông lúa vàng tin tưởng”. Đây chính là biểu hiện sâu sắc của cổ mẫu đất – biểu tượng của chu kỳ sinh - tử - tái sinh, nơi sự sống luôn nảy mầm từ đổ nát. 

   Trong thời mưa bom đạn nổ, đất chứng kiến và hứng chịu những mất mát của dân tộc. Đất đã ôm vào lòng mình những người tử sĩ. Đất như người mẹ đón đứa con trở về để che chở, nâng niu. Đất ở đây mang linh hồn của người tử sĩ – vừa là nơi chôn cất vừa là nơi lưu giữ ký ức và tình thương. Trong lòng đất, sự chết không còn là kết thúc mà là sự trở về với nguồn cội, là vòng tái sinh của sự sống – điều cốt lõi của cổ mẫu đất:

   “Qua bến sông quen tôi về đây
   Tìm mộ anh bên rừng mai cũ
   Tôi ngắt những chùm hoa rừng tím đỏ
   Ngắt nhiều hoa nữa nhiều trên tay”.
                                                    (Thắng trận)

   Tình yêu quê hương trong thơ Nguyễn Đình Thi vì thế luôn gắn liền với tình yêu đất – tình cảm thiêng liêng, hòa quyện giữa cá nhân và dân tộc, giữa con người và thiên nhiên:

   “Đất nghèo nuôi những anh hùng
   Chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên
   Đạp quân thù xuống đất đen
   Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”.
                                     (Bài thơ Hắc Hải)

   “Việt Nam đất nước ta ơi
   Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
   Cánh cò bay lả rập rờn
   Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều”.
                                    (Bài thơ Hắc Hải)

   “Mỗi tấc đất Hà Nội
   Đượm thắm mãi lòng ta”.
                                    (Chia tay trong đêm Hà Nội)

   Đất trong thơ Nguyễn Đình Thi vì thế không chỉ là không gian địa lý mà là không gian tâm linh của dân tộc – nơi kết tinh sức mạnh, tình yêu và niềm tin. Ở tầng sâu cổ mẫu, đất là mẹ, là nguồn gốc của sự sống, của ký ức và của sự hồi sinh, là biểu tượng bất diệt của dân tộc Việt Nam – “chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên”.

   Nếu đất trong thơ Nguyễn Đình Thi là biểu tượng của người mẹ âm tính (hiền hậu, bao dung, chịu đựng và tái sinh) thì trời lại mang sắc thái dương tính (tượng trưng cho sức mạnh sáng tạo, ánh sáng và tự do). Hai cổ mẫu này tồn tại trong mối quan hệ tương hỗ, bổ sung cho nhau, phản ánh sâu sắc tư duy âm, dương hài hòa trong văn hóa phương Đông. Trong hệ thống biểu tượng ấy, đất và trời không tách biệt mà luôn song hành, tạo nên một vũ trụ thống nhất, nơi con người vừa được nuôi dưỡng vừa được che chở và soi sáng. Nguyễn Đình Thi đã tiếp nhận tinh thần ấy để xây dựng một thế giới thơ mang tính vũ trụ nhân sinh, trong đó “thiên - địa - nhân” hòa quyện thành một chỉnh thể: con người Việt Nam sống giữa đất và trời, chiến đấu và hồi sinh trong sự bao dung của thiên nhiên, trong sự chứng giám của không gian vũ trụ thiêng liêng. Chính trong sự hòa hợp đó, chất sử thi và triết lý nhân sinh trong thơ Nguyễn Đình Thi được nâng lên, vừa cụ thể vừa khái quát, vừa hiện thực vừa linh thiêng.

   Trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng đối với người Việt Nam, cấu trúc không gian của vũ trụ được miêu tả bằng mô hình tam tài, ngũ hành. Tam tài nghĩa là thiên - địa - nhân (trời dương, đất âm, con người ở giữa) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhà nghiên cứu Jean Chevalier, Alain Gheerbrant cho rằng “trời là một biểu hiện trực tiếp của cái siêu tại, của uy quyền, của cái vĩnh hằng: cái mà không một sinh vật nào trên mặt đất có thể đoạt được”6, “là sự bao la không thể đo được, là thiên quyển của những tiết diệu vũ trụ, của những minh tinh lớn, là nguồn của ánh sáng và cũng có thể là nơi canh giữ những bí mật của số mệnh”7.

   Trong thơ Nguyễn Đình Thi, hình tượng trời không mang nét nghĩa tôn giáo hay siêu nhiên mà nghiêng về cảm thức hiện sinh và dân tộc: trời là không gian tự do, là biểu tượng của Tổ quốc bao la, của niềm tin và sức sống bất diệt. Thiên nhiên trong thơ ông mang hồn dân tộc, vì thế bầu trời không xa cách mà gần gũi, chan hòa cùng hơi thở con người. Ở đây, “trời xanh” không chỉ là biểu tượng của không gian tự nhiên mà còn là biểu trưng của chủ quyền, của ý thức làm chủ non sông. Sự khẳng định “của chúng ta” vang lên như một lời thề thiêng liêng, gắn trời - đất - con người trong một chỉnh thể thống nhất của dân tộc:

   “Trời xanh đây là của chúng ta
   Núi rừng đây là của chúng ta”.
                                           (Đất nước)

   Trời trong thơ Nguyễn Đình Thi cũng là chứng nhân của lịch sử, cùng nhân dân Việt Nam đi qua những năm tháng khốc liệt của chiến tranh. Bầu trời không tĩnh tại mà vận động, biến sắc theo những biến cố lịch sử, phản chiếu tâm trạng của dân tộc trong lửa đạn. Ở những câu thơ này, “trời” không còn là miền sáng trong thuần khiết mà hòa chung với khói lửa, đạn bom, trở thành không gian của kháng chiến, của sức chịu đựng và khát vọng chiến thắng. Trời như thở cùng nhịp với con người, chứng kiến, bao dung và tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho dân tộc:

   “Đoàn quân vẫn đi vội vã
   Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa”.
                                           (Lá đỏ)

   “Đất trời mờ sắt thép
   Chớp giật xé ngày đêm”.
                                           (Bài ca Điện Biên Phủ)

   Như vậy, trong thơ Nguyễn Đình Thi, cổ mẫu trời không chỉ giữ nguyên bản chất dương - sáng - siêu nhiên của mình trong tư duy biểu tượng phương Đông mà còn được cụ thể hóa, dân tộc hóa và nhân bản hóa. Trời cùng với đất tạo nên một song hành biểu tượng: một bên là mẹ đất, một bên là cha trời, đồng thời cũng là không gian sinh tồn và chiến đấu của con người Việt Nam. Ở cấp độ sâu hơn, trời và đất trong thơ Nguyễn Đình Thi hòa quyện để hình thành một vũ trụ nhân sinh, nơi “thiên - địa - nhân” không tách rời mà hòa vào nhau trong dòng chảy lịch sử dân tộc. Cổ mẫu trời vì thế vừa là biểu tượng của tự do, của niềm tin vươn lên vừa là chứng nhân của thời đại, mang theo hơi thở của chiến tranh và khát vọng hòa bình. Trong mối tương giao đó, Nguyễn Đình Thi đã làm sống dậy tinh thần văn hóa Việt Nam: con người sống giữa trời và đất, chịu ơn và cùng tồn tại với cả hai. Chính từ ý thức “thiên - địa - nhân hợp nhất” ấy, thơ ông vang lên âm hưởng sử thi, khẳng định sức mạnh trường tồn của dân tộc Việt Nam trong mối giao hòa với trời đất thiêng liêng.

   4. Cổ mẫu người anh hùng

   Cổ mẫu người anh hùng xuất hiện từ rất sớm trong kho tàng thần thoại và truyền thuyết của nhân loại. Trong quan niệm cổ điển, người anh hùng “là con của cuộc giao phối giữa một thần hay một nữ thần với một người trần, người anh hùng tượng trưng sự kết hợp giữa các lực trên trời và dưới đất. Nhưng anh ta đương nhiên không được hưởng sự bất tử của thánh thần, tuy vẫn giữ được cho đến khi chết một khả năng siêu tự nhiên: một vị thần bị giáng thế hay một con người được phong thần”8, “những anh hùng kinh điển trong huyền thoại mang đặc trưng về thị tộc, bộ lạc hay loài người nói chung và tự nó có sự liên quan đến thế giới tự nhiên trong vũ trụ”9, “trong khi người hùng cổ tích – đứa con út hay đứa con bị rẻ rúng trở thành người làm chủ những quyền phép phi thường – thắng thế những kẻ áp bức anh ta, thì người hùng thần thoại từ chuyến phiêu lưu đem về phương tiện để hồi sinh toàn bộ xã hội mình”10. Như vậy, người anh hùng không mang tính bất tử của thánh thần nhưng sở hữu sức mạnh và tinh thần vượt lên giới hạn con người bình thường. Từ Pollux, Heracles trong thần thoại Hy Lạp cho đến Thánh Gióng, Sơn Tinh trong văn học dân gian Việt Nam, người anh hùng luôn là biểu tượng cho khát vọng chinh phục, tinh thần dấn thân và sức mạnh tái sinh của cộng đồng. Người anh hùng có sức mạnh, sự dũng cảm, kiên cường hơn người bình thường. Họ chiến đấu vì những mục đích lớn lao, chiến đấu cho tập thể chứ không chỉ cho riêng bản thân họ. Trong khi dấn thân, họ có thể đau khổ và bất lực vì phải nếm trải sự bất công của kẻ thù, của số phận. Tuy nhiên, họ luôn đủ dũng khí để đối mặt với những điều đó. Sự thất bại, thậm chí là hi sinh của người anh hùng chỉ mang tính tạm thời, vẫn tiếp tục tiếp thêm sức mạnh cho tập thể, tiếp tục dấn thân vì mục đích lớn lao của họ.

   Trong thơ Nguyễn Đình Thi, cổ mẫu người anh hùng được tái tạo trên nền hiện thực cách mạng Việt Nam. Người anh hùng ở đây không còn mang yếu tố siêu nhiên mà là con người bình dị giữa đời thường – những chiến sĩ, bà mẹ, em bé, những người nông dân áo vải đã đứng lên bảo vệ đất nước:

   “Ôi đất nước những người áo vải
   Đã đứng lên thành những anh hùng”.
                                               (Đất nước)

   Cổ mẫu người anh hùng trong thơ Nguyễn Đình Thi vì thế được “thế tục hóa” và “dân tộc hóa”. Họ không phải con của thần linh mà là con của đất, của nhân dân. Khi hòa bình, họ là người lao động hiền hậu; khi có giặc, họ hóa thành những người chiến sĩ kiên cường. Hình ảnh Bác Hồ hiện lên như biểu tượng cao nhất của người anh hùng dân tộc – vừa vĩ đại vừa gần gũi, một con người “không con mà có triệu con”, hiến trọn đời mình cho nước non:

   “Nơi đây sống một người tóc bạc
   Người không con mà có triệu con
   Nhân dân ta gọi người là Bác
   Cả đời người là của nước non”.
                                               (Quê hương Việt Bắc)

   Trong thế giới thơ ấy, người anh hùng không chỉ là người lính ra trận mà còn là những bà mẹ, chị lái đò, những em bé vô danh, những người ngã xuống thầm lặng giữa chiến trường. Họ sống và chết cho lý tưởng chung, để “nước nhà sống mãi”, để tiếng hát của họ hòa vào “sóng lúa rào rào nhắc nhở”:

   “Vì Tổ quốc anh hi sinh lặng lẽ
   Trên môi lưu luyến nụ cười
   Tây Bắc rung mình nhớ người lính trẻ
   Sông Đà gầm mãi không thôi”.
                                                  (Người tử sĩ)

   “Các anh chết không tên
  Cho nước nhà sống mãi
   Tiếng hát các anh còn mãi
   Trong trời thu nắng nhảy xôn xao
   Trong sóng lúa rào rào nhắc nhở
   Trong tiếng còi gọi thợ đầu ô”.
                                                 (Ai biết tên các anh)

   “Anh không nằm dưới cỏ
   Tiếng hát hôm nay anh vẫn hát trên đồi”.
                                                 (Thắng trận)

   “Ở Điện Biên còn những bóng hồn
   không mộ
   Có xương thịt và máu người trộn tan
   trong đất
   Qua bao tháng năm lá cây xanh vẫy mưa
   Bông lúa nghiêng vàng say nắng”.
                                                (Ở Điện Biên)

   Cổ mẫu người anh hùng trong thơ Nguyễn Đình Thi vừa mang tính cộng đồng vừa mang tính nhân bản. Người chiến sĩ trong thơ ông vẫn mang đầy đủ cung bậc của cảm xúc con người – biết yêu thương, nhớ nhung, lo âu, hi vọng. Người chiến sĩ còn mang theo tình yêu đôi lứa. Tình yêu đôi lứa của họ trong xa cách trở thành một phần của tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đó luôn trong sáng, chín chắn và lạc quan. Họ là người yêu đồng thời cũng là những người đồng chí của nhau. Tình yêu của họ thường là trong xa cách nhưng luôn động viên nhau cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Họ hẹn nhau sẽ sum họp vào một ngày mai tươi sáng cho tương lai của dân tộc và mỗi người:

   “Anh yêu em như yêu đất nước
   Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
   Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
   Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn
   Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
   Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời
   Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
   Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người”.
                                                        (Nhớ)

   “Cách nghìn sông núi vẫn bên nhau
   Em ơi đường chiến đấu dài lâu
   Trong gian khổ vẫn chan hoà ánh sáng
   Đời anh có em như ngày có nắng
   Yêu em anh yêu cả mọi người
   Thôi em đi nhé em vui mãi
   Anh muốn em sung sướng suốt đời
   Xa nhau hẹn ngày mai gặp lại
   Nhìn nhau thấy đã lớn hơn rồi”.
                                               (Chia tay)

   Trong thơ Nguyễn Đình Thi, không chỉ những người chiến sĩ ở Việt Nam, những người chiến sĩ ở Lào, Tiệp Khắc, thậm chí ở đất nước Pháp… vẫn chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì sự tiến bộ. Người anh hùng nói chung không có nguồn gốc xuất thân kỳ lạ, không có khả năng siêu nhiên như các nhân vật anh hùng trong thần thoại. Người anh hùng trong thơ Nguyễn Đình Thi rất bình dị vì họ luôn mang theo trong mình tình yêu quê hương, gia đình và thậm chí cả tình yêu lứa đôi. Những người anh hùng bình dị đó đã anh dũng đứng lên đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Có lúc đã phải chịu nhiều mất mát, hi sinh nhưng họ đã truyền sức mạnh cho những người còn sống, cho cả dân tộc tiếp tục đấu tranh giành độc lập. Như vậy, cổ mẫu người anh hùng trong thơ Nguyễn Đình Thi đã được hiện đại hóa và dân tộc hóa sâu sắc. Người anh hùng không còn là nhân vật siêu nhiên mà là con người bình dị mang trong mình ý chí vượt lên đau thương, khát vọng tự do và hòa bình. Cổ mẫu ấy giúp thơ Nguyễn Đình Thi mang tầm vóc sử thi: nơi mỗi con người Việt Nam đều là một anh hùng trong bản anh hùng ca của dân tộc.

   Thơ của Nguyễn Đình Thi thể hiện tinh thần cách mạng và tinh thần thiết tha với con người và cuộc đời. Các cổ mẫu tiêu biểu nhất ở các tập thơ của Nguyễn Đình Thi là cổ mẫu nước, cổ mẫu lửa, cổ mẫu đất, cổ mẫu trời, cổ mẫu người anh hùng. Mỗi cổ mẫu lại có hình thái, chức năng khác nhau. Cổ mẫu nước tượng trưng cho nguồn sống, cho sự thanh lọc và tái sinh tâm hồn con người. Cổ mẫu lửa mang hai mặt đối lập: hủy diệt và sáng tạo – từ trong đổ nát, lửa trở thành biểu tượng của sức sống và ý chí quật cường của dân tộc. Cổ mẫu đất là mẹ, là cội nguồn nuôi dưỡng, chở che, nơi lưu giữ ký ức và linh hồn dân tộc. Cổ mẫu trời biểu hiện cho tự do, ánh sáng, sự bao la và vĩnh hằng. Những cổ mẫu tự nhiên ấy không chỉ là phông nền cho cuộc kháng chiến mà còn như những chứng nhân của lịch sử: có lúc rung động trước niềm vui chiến thắng, có lúc thổn thức cùng nỗi đau mất mát. Cuộc chiến lớn lao của dân tộc đã làm lay động cả đất trời, để từ đó thiên nhiên và con người cùng hòa chung trong bản hùng ca bất diệt. Bên cạnh đó, cổ mẫu người anh hùng là trung tâm của thế giới thơ Nguyễn Đình Thi: biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm và ý chí quật cường. Họ có thể hi sinh nhưng đã truyền sức mạnh, niềm tin và khát vọng sống cho dân tộc.

   Nhà thơ Nguyễn Đình Thi không chỉ là người sáng tạo mà còn là người sống và chiến đấu trong thời đại ông viết. Tình yêu quê hương, đất nước, thiên nhiên và con người đã thấm đẫm trong thơ ông. Với nghệ thuật chuyển hóa cổ mẫu tài hoa, Nguyễn Đình Thi đã kế thừa mạch nguồn truyền thống và thổi vào đó hơi thở hiện thực của thời đại, làm mới những biểu tượng cổ xưa bằng cái nhìn hiện thực và tinh thần thời đại. Điều này đã góp phần cho thơ ông vừa hào hùng, bi tráng vừa gần gũi và chân thực, tạo được sự đồng cảm lớn lao trong lòng người đọc nhiều thế hệ.

 

 

 

Chú thích:
1 C. G. Jung (2007), Thăm dò tiềm thức (Vũ Đình Lưu dịch), NXB. Tri thức, tr. 96.
2,, 3, 4, 6, 7, 8 J. Chevalier & A. Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới: huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số (Phạm Vĩnh Cư dịch), NXB. Đà Nẵng, tr. 709, 548, 288, 956, 957,10.
5 Khoa Ngữ văn và Báo chí, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (2007), Huyền thoại và văn học, NXB. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 285.
9
E. M. Meletinsky (2004), Thi pháp của huyền thoại (Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch), NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 301, 302.
10 J. Campell (2021), Người hùng mang ngàn gương mặt (Thiên Nga dịch), NXB. Dân trí, tr. 44-45.

Bình luận

    Chưa có bình luận