PGS. TS. Nguyễn Thế Kỷ là chính khách, đồng thời cũng là nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà soạn kịch có nhiều đóng góp trong đời sống văn học, nghệ thuật đương đại. Ở địa hạt nghiên cứu, ông có những công trình đáng kể như: Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (2001), Những nẻo đường di sản (2008), Lý luận văn hóa văn nghệ Việt Nam (2 tập, 2017, 2019). Với sân khấu kịch, nhà văn xứ Nghệ có nhiều kịch bản ấn tượng với cảm hứng lịch sử đã được công diễn như: Mai Hắc Đế (2014), Hừng Đông (2016), Thầy Ba Đợi (2018), Hoa lửa Truông Bồn (2018). Bên cạnh đó, PGS. TS. Nguyễn Thế Kỷ còn sáng tác thơ và văn xuôi, như tập thơ dành cho thiếu nhi Nhớ thương ở lại (2019) và đặc biệt bộ tiểu thuyết mang tầm vóc sử thi Nước non vạn dặm (5 tập, 2022-2025) viết về cuộc đời và hành trình cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với cảm hứng luân lý - nhân văn, tiểu thuyết Chuyện tình Khau Vai (NXB. Văn học, 2019) được ông sáng tác dựa một phần từ kịch bản sân khấu cùng tên ra đời năm 2013. Kịch bản này đã được dàn dựng thành tác phẩm sân khấu và công diễn tại nhiều địa phương, xuất hiện trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng, cho thấy sức lan tỏa và khả năng truyền cảm sâu sắc của tác phẩm. Thông qua Chuyện tình Khau Vai, nhà văn họ Nguyễn xứ Nghệ tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn con người vùng cao, đồng thời ghi dấu ấn với chiến lược trần thuật đặc sắc, đậm đà nét đẹp văn hóa.
1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo, giàu tính nhân văn
Trong Chuyện tình Khau Vai, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ vận dụng chiến lược trần thuật dựa trên nguyên tắc tả thực kết hợp chọn lọc chi tiết, theo đó ông kiến tạo những hình tượng nhân vật giàu sức gợi hình và chiều sâu tính cách. Cấu trúc miêu tả của ông thường bắt đầu từ những nét ngoại hình đặc dị gắn với trường liên tưởng dân gian, qua đó khắc họa nhân vật vừa cụ thể vừa ẩn chứa chiều sâu văn hóa. Bằng bút pháp tả thực kết hợp với khả năng chọn lọc chi tiết tinh tế, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ đã tạo nên những nhân vật giàu cá tính. Chẳng hạn như nhân vật Cố Sầu – Đội trưởng Đội Vệ binh của Tộc trưởng – hiện lên rõ nét qua những đường nét ngoại hình đặc tả: “Người cao lớn, đi qua cửa phải cúi. Vai rộng, tay dài, lưng dài nhưng chân lại ngắn. Mặt vuông, mắt nhỏ, hàm răng chìa ra phía trước, hai cái răng vàng chóe nằm cạnh nhau, sát mép phải. Lông mày ngắn, thưa, trán thấp, tóc dày, cứng, đen như bồ hóng”1. Việc tập trung vào những đặc điểm ngoại hình tiêu biểu cho thấy khả năng quan sát và tái hiện chân dung nhân vật một cách sống động. Nhân vật như thể hiện hình trước mắt người đọc. Cùng với đó, hành động kể của Nguyễn Thế Kỷ có nhịp trần thuật nhanh, liên tục xoay trở, phản ánh khả năng nắm bắt đời sống trong trạng thái “đang diễn ra”, với các tình thế luôn bị xô đẩy và biến đổi. Ông sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, chân thực, không dụng ý khoa trương; hướng tới sự sáng rõ, giản dị, hòa cùng giọng điệu trần thuật gần gũi đời thường. Chính sự bình dị ấy khiến câu văn dễ dàng chạm tới cảm xúc người đọc, bởi những gì chân chất thường dễ đi vào lòng người và gắn bó sâu xa với trái tim con người.
Với sự quan sát tinh tế, nhà văn xứ Nghệ tái hiện đời sống bằng nhiều chi tiết được miêu tả tỉ mỉ, khiến không gian và con người hiện lên sinh động, giàu sức gợi. Chẳng hạn, khi khắc họa nhân vật Ba – chàng trai người Nùng – nhà văn để nhân vật xuất hiện trong nhịp điệu lao động thường nhật: “Bình minh lên sau Ba. Lúc nào Ba cũng thức dậy trước bình minh, mọi bình minh. Ba ra suối gùi đầy một bể nước dưới chân cầu thang, lại đầy bể nước đầu hồi cho mẹ dùng đủ một ngày; bổ một đống củi to, vác lên xếp ngay ngắn bên bếp; múc cám trong chảo đun từ đêm trước mang ra cho mấy con lợn; mở cửa chuồng gà… Xong xuôi, đun sôi ấm nước đổ vào ống đã bỏ sẵn chè khô, lấy nắm cơm trong chạn bếp cho vào túi, đeo bao dao và ra khỏi nhà. Cho đến tận lúc Ba ra khỏi nhà mặt trời vẫn chưa nhô lên đỉnh núi” (tr. 35). Dòng chảy trần thuật ở đây tuần tự trôi theo nhịp thời gian sinh hoạt hằng ngày của nhân vật, trong khi điểm nhìn liên tục di chuyển, độc giả như được theo sát từng hành động. Những chi tiết đời thường ấy không chỉ khắc họa ngoại hình và hành động mà còn gợi nên mối thiện cảm sâu sắc với nhân vật – một chàng trai siêng năng, cần cù, hiểu chuyện và sống có trách nhiệm từ khi còn nhỏ. Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ không cần những lời nhận xét trực tiếp, chính hành động được miêu tả chân thực đã tự khắc làm nổi bật tính cách và phẩm chất bên trong nhân vật. Việc khắc họa nhân vật qua cuộc sống lao động “tay làm hàm nhai”, thay vì qua nhận xét trực tiếp, là một chiến lược trần thuật gián tiếp đặc tả giúp hình ảnh nhân vật tự kiến tạo qua sự tương tác giữa hành vi và bối cảnh. Điều này không chỉ gây ấn tượng về chàng trai siêng năng, cần cù, sống có trách nhiệm, mà còn khơi gợi mối cảm tình trong lòng bạn đọc, bởi nhân vật được cảm nhận qua sự trải nghiệm chứ không qua áp đặt đánh giá của người kể chuyện. Qua đây, ta cũng thấy rằng hành động trần thuật của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ được thực hiện trong cự ly gần, tức điểm nhìn gần nhân vật, tạo nên một cấu trúc trần thuật giàu tính hiện thực và có sức nhập cảm cao. Đây là chiến lược nghệ thuật nhất quán, góp phần khắc họa rõ nét đời sống miền núi phía Bắc với sắc thái văn hóa và con người bản địa được tái hiện một cách sinh động, giàu sức sống.
Bên cạnh chi tiết, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ còn chú ý phác họa chân dung nhân vật. Nhà văn xứ Nghệ vận dụng thủ pháp đối lập như một chiến lược nghệ thuật nhằm kiến tạo chân dung nhân vật theo khuynh hướng lý tưởng và điển hình. Sự đối lập được triển khai thông qua tương phản giữa ngoại hình và đời sống lao động cơ cực, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp con người trong lao động. Nhân vật Ba là minh chứng tiêu biểu: dù là người lao động chân tay, “mười ngày như một, cả năm như một”, từ việc nhà đến việc thuê mướn, anh vẫn miệt mài làm việc quanh năm suốt tháng. Mạch trần thuật đặc tả công việc thường nhật của Ba, tái hiện cuộc sống lao động cực nhọc luôn tay nhưng đầy nghị lực: “Một ngày của Ba luôn bắt đầu bằng ấy việc, sau đó là cả ngày đi làm thuê cho các nhà giàu. Ruộng ít, Ba chỉ làm nhoáng cái, vài ngày là xong. Còn lại thời gian Ba đi làm thuê. Ai thuê gì cũng làm. Cày bừa, gặt hái, chặt cây dọn nương, lợp lại mái nhà, sửa chuồng dê chuồng bò, vác đá lát đường… Việc gì cũng nhận và việc gì làm cũng giỏi. Cắm cúi làm cho xong, chiều nhận thóc gạo trả công rồi về. Mười ngày như một, cả năm như một. Vất vả như thế nhưng vóc dáng lại như thanh niên con nhà giàu. Da trắng như da con gái, môi đỏ, miệng lúc nào cũng cười tươi rói, răng trắng tinh. Mẹ bảo Ba dễ nuôi. Từ lúc đẻ ra đến khi lớn lên chưa ốm bao giờ, cho ăn gì cũng ăn. Đấy là Ba thương mẹ một mình vất vả nuôi Ba” (tr. 35-36). Ở đây, chuỗi hình ảnh đối lập – vóc dáng khỏe mạnh, tươi tắn với nhịp lao động nặng nhọc, liên tục – không chỉ khắc họa tính cách cần cù, bền bỉ mà còn khơi gợi mĩ cảm về vẻ đẹp thuần hậu, khỏe khoắn của con người miền núi. Đây cũng là minh chứng cho tinh thần thẩm mĩ của nhà văn xứ Nghệ: văn chương không chỉ phản ánh hiện thực mà còn định hình và nâng cao cảm quan thẩm mĩ của độc giả thông qua việc lý tưởng hóa cả ngoại hình cũng như phẩm chất đạo đức và nhân cách đẹp. Nghệ thuật tạo hình nhân vật bằng những đối sánh giàu tính biểu tượng, đưa nhân vật vượt ra khỏi giới hạn cá thể, trở thành hình ảnh tiêu biểu cho cộng đồng người miền núi chất phác, mạnh mẽ, kiên cường trước cuộc sống nhiều gian lao, thử thách.
Ngoài nhân vật Ba, chân dung nhân vật Tộc trưởng người Giáy – cha của nàng Út – cũng được xây dựng theo nguyên tắc lý tưởng hóa, trong thế tương phản với việc khắc họa số phận. Trong mỗi bức chân dung, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ ký thác những yếu tố gắn liền với đời sống tinh thần và xã hội: bổn phận, ràng buộc, trách nhiệm – những gánh nặng hiện hữu mà mỗi con người phải chống đỡ. Bản thân Tộc trưởng cũng không thoát khỏi sự khắc nghiệt của đời sống: “Bà mang nước cho Tộc trưởng, và đứng nấp sau vách nhìn trộm. Cái lưng to, vai to, cái cổ đỏ lựng vì nóng, mặt vuông, lông mày rậm, môi dày, hàm răng trắng chói cả mắt. Con Út sa này được hàm răng của bố để cho. Hai bố con cứ cười một cái là ai nhìn thấy cũng bị chói mắt, muốn rụng cả tim. Nhưng cái mặt ông ấy thì buồn. Sao đàn ông lại có người mặt buồn đến thế. Chẳng cười, không cười một tí nào từ lúc nào, ngồi ở hiên nhà, cho đến lúc uống xong nước, nói chuyện với người già, đứng dậy chào và rời đi. Không hề cười” (tr. 56-57). Lý tưởng hóa ngoại hình nhân vật cũng là cách nhà văn bộc lộ những dự cảm về số phận nhân vật. Sự kết hợp giữa miêu tả ngoại hình – hành vi và gợi mở nội tâm – số phận đã tạo nên một chiều sâu nhân văn đặc trưng trong chiến lược trần thuật của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ.
Như chiến lược trần thuật, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ đã chủ ý triển khai đan xen nhiều tuyến kể, mỗi tuyến gắn với điểm nhìn của một nhân vật khác nhau, tạo nên hiệu ứng tiếp nhận độc đáo. Mở đầu tác phẩm là tuyến trần thuật từ góc nhìn của nhân vật Ba, sau đó chuyển sang góc nhìn của nàng Út – con gái Tộc trưởng người Giáy – khi nàng vẫn là một thiếu nữ tuổi mới lớn, tâm hồn đầy ắp khát vọng yêu thương. Tiếp đó, mạch kể quay trở lại với chàng Ba – lúc này đã là một thanh niên trưởng thành, giỏi giang, tháo vát, tốt bụng. Sự đan xen như vậy cho phép nhà văn khắc họa cuộc gặp gỡ tình cờ từ cả hai phía, đồng thời đi sâu vào những rung động vi tế trong tâm hồn đôi trai gái ở tuổi xuân thì.
Trong tuyến trần thuật của nhân vật Ba, cảm xúc tình yêu đầu đời được khắc họa qua những ẩn dụ tinh tế: chỉ một nụ cười của nàng Út đã khiến chàng tưởng như ánh trăng, chỉ một câu nói cũng đủ để anh luyến nhớ khôn nguôi, đến mức cố tình nhận dọn nương ở Ma Lé với hi vọng gặp lại nàng: “Hôm nay, Ba làm ở đây, thấy khỏe hơn, nhanh nhẹn hơn mọi ngày. Tự dưng cái gì của người Giáy cũng khiến Ba thấy thương mến hơn. Mảnh nương của họ, con trâu hay đàn dê của họ, những nếp nhà, những bức tường, vài cái cây mọc ở bên trong sân… Chỗ nào, thứ gì cũng thấy vui mắt. Vừa làm còn vừa huýt sáo” (tr. 40). Tâm trạng chàng trai người Nùng này thật khiến người ta dễ liên tưởng đến đôi câu thơ Xuân Diệu: “Một phút gặp thôi là muôn buổi nhớ/ Vài giây trông khơi mối vạn ngày theo” (Yêu mến). Thêm nữa, việc mở rộng điểm nhìn sang hoàn cảnh của nàng Út càng làm tăng sức lay động, khi người đọc đồng thời cảm nhận được nỗi thương cảm dành cho Ba và cho chính nàng. Tuy nhiên, thông qua tuyến trần thuật từ góc nhìn của bà Tộc trưởng – mẹ của nàng Út – độc giả còn cảm nhận sâu sắc hơn số phận của cha mẹ nàng. Tộc trưởng mang trên vai gánh nặng uy tín và trách nhiệm với cộng đồng nên luôn hiện diện với dáng vẻ hoang lạnh, buồn bã, nặng nề: “Tộc trưởng đã đi nằm. Ông ấy có ngủ được không nhỉ? Bà biết cái gánh đè lên vai Tộc trưởng nặng lắm. Bao nhiêu năm qua, và càng về những năm sau nay, càng có nhiều người già đến rì rầm với Tộc trưởng bên bếp lửa. Họ không muốn bà nghe thấy câu chuyện giữa những người đàn ông. Nhưng bà biết, phía sau những lời thì thầm ấy là gì” (tr. 60-61). Bà Tộc trưởng, từ khi về làm dâu, chưa từng hưởng hạnh phúc trọn vẹn; áp lực sinh con trai nối dõi trở thành ẩn ức thường trực: “Bà không giận. Bà chưa bao giờ giận chồng. Chỉ buồn thôi. Buồn lắm. Bao nhiêu năm như cuộn chỉ bị đánh rơi trong xó nhà, mốc meo lên, mạng nhện phủ kín. Trong lòng bà luôn nặng trĩu buồn phiền, bao nhiêu điều chất chứa, nhưng lại không thể và cũng không muốn nói ra” (tr. 61). Quyết định đau lòng của bà nhằm gỡ bớt gánh nặng trên vai chồng được thể hiện trong lời tự sự chân thành: “Tôi nhiều tuổi rồi. Cũng khó đẻ con. Tôi đi tìm cho ông một người. Một người trẻ, khỏe mạnh” (tr. 63). Trong tác phẩm, ai cũng trở nên bi kịch, nhân vật nào cũng bị đè nặng bởi chính số phận của mình. Thành kiến xã hội và những ràng buộc đã vây hãm cuộc đời họ.
Không chỉ giúp khắc họa số phận nhân vật, sự đan xen nhiều tuyến trần thuật còn cho phép tác giả vén mở dần từng lớp bí mật của câu chuyện, những niềm đau năm cũ mãi còn trong tâm khảm con người. Ngoài điểm nhìn của Út, Ba và mẹ Út, tác phẩm còn xuất hiện qua tuyến trần thuật của ông Vương Vần Sáng, bà Liểng… để từ đó hé lộ mối quan hệ éo le: ông Vương Vần Sáng – cha của Út – chính là người tình cũ của mẹ Ba. Quá khứ tình yêu dang dở ấy hiện lên với nhiều nuối tiếc. Ông Vương Vần Sáng – người Giáy, lại là Tộc trưởng tương lai, không thể cưới một cô gái người Nùng. Chôn chết mối tình, “bà [Liểng] lấy chồng sau đấy nửa năm. Và ông Sáng cũng lấy vợ. Rồi bà đẻ thằng Ba, đẻ thêm đứa con gái. Đứa út nữa cũng là con trai, nhưng không sống được. Nó bỏ đi từ lúc còn là một hòn máu. Bà không bao giờ, không một khắc nào muốn nhớ đến ông Sáng. Mỗi khi nhớ đến ông ấy là một lần ruột gan bà lại chảy máu” (tr. 89). Cuộc tình giữa bà Liểng (người Nùng) và ông Vương Vần Sáng (người Giáy) bị ngăn cách bởi rào cản sắc tộc, để rồi mỗi người phải bước vào cuộc hôn nhân không trọn vẹn. Ông Vương Vần Sáng cứ hễ đêm trăng lại uống rượu một mình dưới hiên, còn bà Liểng vẫn giấu kín mối tình cũ trong tim dù đã ba lần sinh nở. Sự nghiệt ngã của số phận càng bi thương khi mối tình của thế hệ trước – không thể vượt qua định kiến – lại lặp lại ở thế hệ sau, giữa Út và Ba. Đặc biệt, nhà văn sử dụng dày đặc hình thức câu hỏi tu từ như một phương tiện gia tăng chiều sâu trần thuật. Câu hỏi trở thành điểm nhấn cảm xúc, làm nổi bật số phận nhân vật và nỗi đau của họ, đồng thời khơi gợi sự trăn trở không dứt nơi độc giả: “Ôi, cái số phận này nó làm cho Ba thấy mệt quá, đau quá. Ba đã làm gì để mẹ phải từ bỏ ra đi mà không nói một lời? Ba đã làm gì để người mà Ba thương mến nhất phải bỏ trốn khỏi nhà, với đầy những vết rách trên người thế kia?” (tr. 98). Đây không chỉ là tiếng thở dài cho nhân vật, mà còn là lời chất vấn định mệnh, chất vấn cả những giới hạn khắc nghiệt của đời sống miền núi trong bối cảnh văn hóa - xã hội truyền thống.
Bằng kỹ thuật đan xen tuyến trần thuật và liên tục xoay chuyển chiều kích thời gian giữa quá khứ và hiện tại, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ không chỉ tăng tiến hiệu quả kịch tính mà còn làm sâu sắc tính bi thương của câu chuyện. Các tuyến kể đan dệt tạo nên hiệu ứng đa thanh, mỗi nhân vật vừa là trung tâm của câu chuyện riêng vừa là một mảnh ghép trong tổng thể chiến lược trần thuật.
2. Chất liệu văn hóa sắc tộc và vẻ đẹp tâm hồn con người vùng cao
Trong Chuyện tình Khau Vai, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ sử dụng một cách thường xuyên và đa dạng chất liệu văn hóa dân gian tộc người, đặc biệt là dân ca Nùng và Giáy. Từ thuở nhỏ, Ba đã được mẹ ru ngủ bằng những câu hát dân ca: “Chuồn chuồn ơi khôn khôn/ Nhặng vằn nó đuổi/ Trẻ ác tới giết mày/ Tao thương nâng mày dậy/ Tao đưa tiễn mày về/ Chuồn chuồn ơi khôn khôn…” (tr. 40). Khi tình yêu đầu đời nảy nở, Ba bắt đầu ngâm nga những câu hát ấy như một cách bộc lộ nỗi niềm, đồng thời gửi gắm ưu tư về sự chênh lệch giàu nghèo: “Gặp nhau đây em có lòng thương/ Đừng chê anh khác mường nghèo khó/ Được em như được quả đào tiên/ Được em anh hết phiền hết khổ/ Nồi kia gạo không có cũng vui…” (tr. 46). Những câu ca này vừa như lời tỏ tình vừa hàm chứa một thông điệp xã hội – phản kháng nhẹ nhàng nhưng sâu sắc trước rào cản định kiến cộng đồng. Ở đây, dân ca không chỉ là chất liệu văn hóa mà còn là thành tố mang chức năng tư tưởng, trực tiếp kết nối với chủ đề trung tâm: mối tình giữa Ba và Út – hai con người thuộc hai tầng lớp, hai tộc người khác nhau, bị ngăn cách bởi luật tục và truyền thống. Việc đưa dân ca vào mạch trần thuật còn giúp nhà văn tái hiện không gian nghệ thuật mang đậm bản sắc tộc người. Mỗi câu hát là một hạt ngọc kết tinh đời sống tình cảm, nơi ký thác ước mơ và khát vọng của cộng đồng. Người đọc không chỉ theo dõi câu chuyện tình yêu mà còn được “nghe” tiếng lòng của người miền núi, cảm nhận hơi thở sinh hoạt và phong khí tâm hồn vùng cao.
Ngoài ra, chất liệu dân gian còn góp phần tạo nên chất thơ, chất trữ tình cho tác phẩm. Những câu hát như: “Đôi ta kết nghĩa cùng nhau/ Chung uống bát nước lã/ Cũng ngọt như mật ong/ Siết chặt tay nhau như sợi dây bạc không bao giờ đứt/ Đôi ta kết duyên cùng nhau/ Cùng uống chén nước lạnh/ Nước ngọt như mật ủ/ Siết chặt tay nhau như sợi dây vàng không bao giờ rời” (tr. 47-48) khiến tiểu thuyết thành một “bài thơ” nhiều cung bậc: từ những rung động tuổi thơ đến giây phút sầu tư trĩu nặng. Ở đây, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, với sự am hiểu thi pháp dân gian, đã xen cài dân ca trong văn xuôi để tạo hiệu ứng liên văn bản, cộng hưởng trường lực tình cảm, đồng thời làm chậm nhịp trần thuật, khiến câu chuyện lắng đọng và giàu nhạc tính. Các đoạn như “Ta sẽ cùng nhau đi đến cuối non đầu núi/ Đến khi tóc trên đầu trắng như mầu trắng của mây/ Tóc anh mây nhuộm trắng/ Mà em nào đến đây/ Buồn trong anh dâng đầy…” (tr. 70) nâng mối tình Ba - Út lên thành một biểu tượng văn hóa tinh thần, kết hợp nhuần nhuyễn chất truyện và chất thơ, hiện thực và mộng tưởng.
Chất thơ trong văn của Nguyễn Thế Kỷ còn được bồi đắp bởi âm thanh và nhạc cụ dân gian: “Một bài dân ca Nùng. Tiếng sáo của Ba như có linh hồn, quyến rũ bằng giai điệu buồn bã, day dứt” (tr. 16). Cấu trúc song song – giữa ông già mù mất vợ và Ba cũng mất Út – tạo nên một trục cảm xúc kép, nơi “hai con người, một già một trẻ” chia sẻ cùng một khối u sầu. Lời ông già mù: “Ta và cậu, như nhau thôi. Quên không quên được, mà nhớ thì đau, ở đây – ông đấm đấm lên ngực mình – phải không? Thế thì phải sống cùng nó thôi” (tr. 19), lời văn vang vọng như tiếng vọng của đôi câu Kiều: “Nợ tình chưa trả cho ai/ Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”. Lại là câu hỏi, Ba bị dằn vặt bởi những day dứt khôn nguôi: “Sao nàng lại làm thế? Sao hai người phụ nữ mà Ba yêu thương nhất đời lại đều từ bỏ Ba mà không nói một lời nào?” (tr. 20). Ở tầng sâu, đây còn là tình huống nghệ thuật để nhà văn gửi gắm những chiêm nghiệm về tình yêu, nguồn vui, lẽ sống và nỗi chết.
Xung đột trung tâm của tác phẩm gắn liền với yếu tố sắc tộc, quyền lực và giai tầng. Cha của Út – Tộc trưởng Vương Vần Sáng – không chỉ là người giàu có mà còn uy quyền, “Nhắc đến Tộc trưởng Vương Vần Sáng là nhắc đến uy quyền và tiền bạc của cải, về sức mạnh của đội vệ binh, về những dãy núi cao ngất như chạm tới trời và vô vàn những thung lũng màu mỡ có sông suối trong ngần bò qua” (tr. 33). Với chỉ một cô con gái, việc “làm rể họ Vương” trở thành “núi này cao quá, vực này sâu quá”. Ngôn ngữ đậm chất vùng cao tiếp tục xuất hiện: “Ba đã biết Út là con gái duy nhất của Tộc trưởng người Giáy bên Ma Lé. Một ngọn núi lớn như thế, người thường không leo được đâu. Một cái ngưỡng cửa cao như thế, người thường đi qua còn khó. Vậy mà Ba thì chẳng có gì trong tay. Ba là người thường. Ba chỉ có một cái lưng thật rộng để cõng nàng, một cái vai thật chắc để nàng tựa đầu, hai cánh tay thật dài để ôm kín lấy nàng” (tr. 47). Giọng kể của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ mang màu sắc dân gian, dung dị, thủ thỉ như lời kể bên bếp lửa, gợi nhớ cách kể của các nghệ nhân, thầy mo, thầy cúng trong cộng đồng. Điều này khiến Chuyện tình Khau Vai trở thành một “truyện kể cổ” trong hình thức tiểu thuyết hiện đại, vừa gần gũi vừa mới mẻ, uyển chuyển.
Những tục lệ cổ và thành kiến truyền đời trong tác phẩm trở thành một dạng “thần quyền”, những quy phạm xã hội hiện diện như “địa quyền” ngăn trở nhân quyền, cụ thể là quyền tự do yêu đương. Ngay cả Tộc trưởng, người từng nếm trải bất hạnh hôn nhân vì tuân thủ truyền thống, vẫn không thể phá lệ: “Nhưng ông không thể nào làm trái lời tổ tiên. Con gái người Giáy chỉ có thể gả cho người Giáy mà thôi. Hơn thế, cái thằng làm chồng nó sau này còn thay ông làm Tộc trưởng. Vậy thì không thể có chuyện một thằng người Nùng làm Tộc trưởng của người Giáy được. Có mà trời sập cũng không được ấy chứ” (tr. 77). Bi kịch của chàng Ba và nàng Út vì vậy vừa là nỗi niềm riêng vừa là bi kịch chung của con người vùng cao: tâm hồn phóng khoáng như núi rừng nhưng bị đè nặng bởi “đá tảng” của luật tục: “Rượu rót đầy các chén, tràn cả ra ngoài. Mâm nào cũng đầy thịt, đầy rượu. Nhưng ai ai cũng không chăm chú việc ăn uống, mà chỉ nhăm nhăm nhìn vào phía cửa buồng cô con gái Tộc trưởng. Đợi xem khi cô ấy ra, thì ai sẽ là người được cô ấy để mắt tới. Nhưng Út đã bỏ trốn khỏi nhà từ nửa đêm” (tr. 78). Chi tiết này gợi liên tưởng tới hình tượng Mị vùng chạy theo A Phủ – biểu tượng cho khát vọng tự do mãnh liệt. Cũng như Mị, nàng Út ẩn chứa sức sống tiềm tàng mà sự áp đặt nào cũng không thể trói buộc.
Cũng qua lời ca tiếng hát dân gian, vốn mộc mạc nhưng hàm chứa chiều sâu biểu cảm, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ đã khắc họa thành công nét đẹp tâm hồn của con người vùng cao. Dân ca không chỉ đóng vai trò như một yếu tố phụ trợ về bối cảnh văn hóa mà còn trở thành phương tiện trần thuật giàu sức gợi, giúp nhân vật bộc lộ những tầng sâu tâm trạng khó diễn đạt bằng lời nói thông thường. Câu hát của mẹ Ba: “Chuồn chuồn ơi khôn khôn/ Nhặng vằn nó đuổi/ Trẻ ác tới giết mày/ Tao thương nâng mày dậy/ Tao đưa tiễn mày về/ Chuồn chuồn ơi khôn khôn…” (tr. 40), không đơn thuần là âm thanh của tuổi thơ mà còn là ký ức tinh thần mang dấu ấn tình mẫu tử, biểu trưng cho sự trao truyền yêu thương. Lớn lên, Ba hát những câu dân ca đượm buồn: “Gặp nhau đây em có lòng thương/ Đừng chê anh khác mường nghèo khó/ Được em như được quả đào tiên/ Được em anh hết phiền hết khổ/ Nồi kia gạo không có cũng vui…” (tr. 46). Ở đây, câu hát trở thành cách bộc lộ mặc cảm nghèo hèn và niềm khao khát yêu thương. Trong những tình huống tâm lý tế nhị, dân ca trở thành một “diễn ngôn thứ hai” của nhân vật, bổ sung chiều sâu thẩm mĩ cho kết cấu truyện.
Trong chiến lược trần thuật, nhà văn đồng thời triển khai song song chiều kích hiện tại (đời sống lao động) và chiều kích quá khứ (hồi tưởng/ thủ pháp dòng ý thức), tạo nên kết cấu đa tầng: “Bố mất từ khi Ba đang tập đi. Nhà ông bà nội ở xa, không giúp gì được. Mình mẹ cặm cụi nuôi Ba lớn khôn. Từ lúc nào đấy Ba đã như cây cột chống nhà, mẹ có thể yên tâm dựa vào Ba những ngày tháng lớn tuổi, đau yếu, mỏi mệt. Sau đám tang bố, bán hết ruộng nương, hai mẹ con còn đúng căn nhà để ở và một ít ruộng. Mẹ nói, thôi thì tiễn bố đi phải làm hết những gì cần làm, người đi thanh thản, người ở lại yên tâm. Không có bố, những gì mẹ không làm thay được, như là những việc của đàn ông, thì Ba tự học. Cứ làm thử khắc khôn ra. Ba lại cao lớn, khỏe mạnh, lần một làm chưa tốt thì lần hai, lần ba sẽ tốt. Đến giờ, việc gì vào tay Ba cũng xong” (tr. 36). Dòng hồi tưởng được vận dụng khéo léo. Qua đó, nhân vật hiện lên với một quá khứ thiếu thốn nhưng giàu nghị lực, hành trình phát triển nhân cách từ yếu đuối đến tự lập, từ mất mát đến trở thành “cây cột chống nhà”. Trong hoàn cảnh đó, Ba trở thành biểu tượng của lý tưởng nhân văn – sống tử tế, biết đối diện và vượt lên nghịch cảnh. Cùng với đó, khát vọng yêu thương và tự do trong nhân vật được khắc họa như bản năng sinh tồn của những cánh chim khao khát bầu trời. Nàng Út và chàng Ba là hai hình tượng mang tính biểu tượng: tình yêu của họ không khuất phục trước áp lực định kiến. Nếu Tộc trưởng người Giáy – bố của Út – là biểu tượng quyền lực nam quyền thì Út lại đại diện cho khát vọng phá vỡ ràng buộc, tôn vinh tấm chân tình tha thiết yêu đời, yêu người. Trong nhãn quan của Tộc trưởng Vương Vần Sáng, quyền quyết định hôn nhân thuộc về đàn ông: “Từ lúc con gái cất lời tới giờ, dạ dày bà quặn đau. Bà đã biết trước là không bao giờ ông ấy đồng ý cho Út lấy một người như thằng trai tên Ba kia. Làm sao ông ấy đồng ý được. Nhà nó nghèo, một mẹ một con, ăn chẳng đủ. Đáng nói nhất, nó lại người Nùng. Làm sao người Giáy với người Nùng có thể làm vợ chồng được chứ” (tr. 52). Nhưng tình yêu của Út dành cho Ba – chàng trai người Nùng nghèo khó – vẫn bền bỉ, vượt qua cách biệt sắc tộc, giai cấp và gia cảnh. Nhờ sự kết hợp giữa chất liệu dân ca, thủ pháp hồi tưởng và đối lập, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ đã kiến tạo một diễn ngôn nhân văn đa tầng, vừa giàu chất hiện thực vừa thấm đẫm chiều sâu tinh thần, khiến nhân vật trở thành điểm tụ hội của những nét đẹp tâm hồn con người vùng cao. Mang đậm dấu ấn truyền thống nhân văn, Chuyện tình Khau Vai không chỉ kể chuyện tình mà còn hàm chứa suy ngẫm về số phận, đạo lý làm người, giá trị của tình yêu thủy chung, đạo hiếu, nhân nghĩa giữa người với người..., nhà văn Nguyễn Thế Kỷ đã làm mới bằng cái nhìn nhân bản, cảm thông và hiện đại, không răn dạy mà khơi gợi suy tư.
3. Chiến lược trần thuật: tiếp nối và phát huy
Với tiểu thuyết Chuyện tình Khau Vai, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ không chỉ kế thừa những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc từ truyền thống tự sự trung đại mà còn vận dụng một cách sáng tạo nhằm hiện đại hóa, qua đó kiến tạo một câu chuyện tình yêu vừa đậm sắc thái dân tộc vừa giàu chiều sâu nhân bản. Nhà văn họ Nguyễn tiếp nối hạt nhân trần thuật cốt lõi vốn quen thuộc trong các tác phẩm trung đại: mối tình giữa “trai tài - gái sắc” bị định kiến xã hội ngăn trở, song vượt lên trên những rào cản lễ giáo, thân phận, giai cấp và sắc tộc là khát vọng yêu đương tự do, lòng thủy chung và phẩm chất đẹp đẽ. Tình yêu của hai nhân vật chính trong Chuyện tình Khau Vai vì thế vừa mang dáng dấp của motif đã định hình trong các truyện thơ Nôm (chẳng hạn như Truyện Kiều) vừa được tái sinh trong một không gian văn hóa mới – không gian văn hóa tộc miền núi. Hình tượng nàng Út – con gái Tộc trưởng – được khắc họa như một nhân vật nữ ở ngưỡng trưởng thành, sở hữu tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng trắc ẩn. Chi tiết “Những con chó con mắt buồn thiu, tai cụp, nằm gối cằm lên chân, cổ bị xích. Chúng nó chỉ có một việc là nằm yên chờ có người đến mua. Nhưng Út tin là bọn nó biết suy nghĩ, biết là sắp bị bán đi, biết là sẽ không bao giờ còn gặp mẹ nữa, nên đứa chó nào cũng buồn. Út thấy một con còn chảy nước mắt nữa. Út hỏi bao nhiêu tiền, người bán nói một đồng. Út đưa cho họ một đồng, rồi bảo mang chó về nhà đi. Mang về cho mẹ nó nuôi” (tr. 30) không chỉ gợi mở tính cách nhân vật mà còn hàm chứa yếu tố “tiên cảm” – một tín hiệu dự báo số phận, vốn quen thuộc trong thi pháp tự sự cổ điển. Cảm thức này được củng cố qua chi tiết “Từ bé Út đã hay thở dài, như một người phụ nữ già mà không giống một đứa bé gái. Mẹ nói thế nào Út cũng không sửa được. Lâu lâu lại thở dài một hơi như là có chuyện gì buồn lắm, tích tụ lâu lắm rồi, phải thở ra một hơi mới chịu được” (tr. 31). Sự lặp lại hành vi thở dài cùng lời tiên tri bí ẩn từ “bà bán hương” – “Đứa bé này phải trông cẩn thận, nhất là năm mười sáu tuổi” (tr. 32) – tạo nên hiệu ứng kỳ ảo như truyện truyền kỳ trung đại, đồng thời gợi liên tưởng đến motif nhân vật nữ với số phận đau thương như Đạm Tiên hay Thúy Kiều. Đặc biệt, yếu tố kỳ ảo càng rõ khi nhà văn hé lộ “bà bán hương vốn bị câm, chưa bao giờ biết nói”, ấy thế mà bà ấy lại tiên cảm về số phận nàng Út và rồi biến mất một cách kỳ lạ – một chi tiết đậm chất truyền kỳ và tín ngưỡng dân gian miền núi.
Bên cạnh việc kiến tạo chiều sâu nhân vật qua dự cảm số phận, Nguyễn Thế Kỷ còn vận dụng thủ pháp đòn bẩy khi xây dựng cặp nhân vật Út - Nhinh. Nếu Nhinh, em họ xa của Út, là cô gái vui vẻ, hồn nhiên thì Út lại đa sầu, đa cảm, hay buồn vẩn vơ: “Việc gì Út cũng nghĩ xa xôi chứ không bao giờ chỉ để tâm những điều trước mắt. Nhinh thì cứ biết vui hiện tại đã. Trời đang nắng đẹp cứ biết ngắm hoa ngắm quả mà vui đã, chiều nó mưa tối đất tối trời cũng kệ” (tr. 31). Đây là kiểu tương phản mang tính motif: Nhinh như Vân với dự cảm cuộc đời yên bình; Út như Kiều với dự cảm số phận đau thương. Sự đa cảm của Út với sự đa sầu của Kiều tương đồng với nhau. Sau khi Út thương xót mấy chú chó con, trên đường về bị rắn chạm, tạo tình huống gặp Ba; Kiều sau khi khóc bên mộ Đạm Tiên, trên đường về cũng gặp Kim Trọng. Dự cảm và tình huống gặp gỡ định mệnh có sự tương đồng. Toàn bộ hệ thống chi tiết này gợi “liên văn bản” đến cấu trúc “giai nhân - tài tử” vốn phổ biến trong truyện dân gian, truyền kỳ Đông Á và truyện thơ Nôm Việt Nam, đồng thời cho thấy chiến lược trần thuật của Nguyễn Thế Kỷ: nối tiếp truyền thống nhưng không dừng ở mô phỏng, mà tái tạo bằng việc đan cài yếu tố huyền thoại, tín ngưỡng dân gian, tích hợp ngôn ngữ trần thuật với ngôn ngữ điện ảnh, bằng cách đó nhà văn làm mới thi pháp trần thuật trong văn xuôi đương đại. Chiến lược trần thuật của nhà văn còn cho thấy sự giao thoa giữa nhãn quan của người làm văn chương với người làm sân khấu và điện ảnh. Kết cấu “Nàng ấy đã bỏ đi” tạo nên vòng lặp đầu - cuối, mang tính luân chuyển, không chỉ gia tăng hiệu quả biểu cảm mà còn phản ánh tư duy dàn dựng sân khấu và ngôn ngữ điện ảnh. Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ triển khai các “cảnh” với nhịp cắt - ghép linh hoạt, đồng thời điều tiết tiết tấu tâm lý người đọc như một đạo diễn am hiểu hiệu ứng tiếp nhận.
Bên cạnh hai trục thời gian chính – thời gian hiện tại và dòng hồi tưởng quá khứ – nhà văn Nguyễn Thế Kỷ còn kiến tạo một dòng thời gian nghệ thuật thông qua chất liệu dân ca, đóng vai trò như “thời gian thứ ba” trong Chuyện tình Khau Vai. Dân ca ở đây không chỉ là trang sức ngôn từ hay yếu tố bản địa hóa ngôn ngữ trần thuật mà còn là dạng mã văn hóa mang khả năng xuyên thấu các tầng thời gian. Khi lời ca cất lên, nhân vật và người đọc đồng thời được kéo về quá khứ (nơi ca từ bắt nguồn, gắn với ký ức và kinh nghiệm cộng đồng), neo giữ trong hiện tại (thời điểm lời ca vang lên trong mạch truyện), mở ra miền huyền thoại (nơi ý nghĩa của ca từ hòa quyện với không gian truyện như một biểu tượng).
Ở cấp độ thi pháp, chất liệu dân gian còn vận hành như một cách thức “cảnh cắt” giàu tính điện ảnh nhưng khác với nhịp cắt cảnh thị giác, nó là cắt cảnh thính giác: vừa làm chậm dòng kể để tạo khoảng lặng chiêm nghiệm vừa làm nồng nàn thêm sắc thái cảm xúc, vừa tạo ra sự chuyển tiếp mềm mại giữa các khung hình khác nhau. Điều này khiến câu chuyện tình yêu giữa Ba và Út không bị đóng khung trong trình tự sự kiện mà được mở rộng thành một “không gian cộng hưởng” nơi mỗi câu hát trở thành một điểm nối liên văn bản giữa tiểu thuyết và kho tàng văn hóa dân gian. Chất liệu văn hóa dân gian này được nhà văn phát huy tối đa trong tiểu thuyết Chuyện tình Khau Vai, khiến nó không chỉ bổ sung tính bản địa và nhạc tính cho tác phẩm mà còn đóng vai trò như một thành tố cấu trúc. Nó đã phá vỡ ranh giới của thời gian vật lý, tạo ra một dòng chảy cảm xúc - ký ức - huyền thoại, nơi câu chuyện tình yêu không chỉ được kể lại mà còn được diễn xướng lại, làm sống lại và làm mới lại trong tâm thức cộng đồng.
Cùng với chất liệu văn hóa dân gian, thủ pháp đối lập mà nhà văn Nguyễn Thế Kỷ sử dụng trong Chuyện tình Khau Vai vừa mang tính kế thừa vừa thể hiện ý thức cách tân. Về phương diện kế thừa, cách khắc họa nhân vật Ba – sự tương phản giữa vóc dáng tươi sáng và đời sống lao động cơ cực – gợi nhớ tới truyền thống văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945 và 1945-1975, khi các nhà văn thường sử dụng đối lập giữa ngoại hình và hoàn cảnh như một công cụ để nhấn mạnh phẩm chất con người. Các tác phẩm văn xuôi của Tự lực văn đoàn cũng từng vận dụng chiến lược này nhằm làm nổi bật vẻ đẹp nội tâm và sức sống tiềm tàng của nhân vật trong nghịch cảnh.
Tuy nhiên, điểm khác biệt đáng chú ý ở trang văn Nguyễn Thế Kỷ là sự gia tăng yếu tố lãng mạn hóa nhân vật ngay trong kết cấu hiện thực. Ở đây, sự đối lập không chỉ để phơi bày mâu thuẫn xã hội mà còn nhằm kiến tạo một hình mẫu thẩm mĩ: con người lao động miền núi không bị vùi dập bởi gian khổ, mà trái lại, giữ nguyên vẻ thanh xuân, khỏe khoắn, hồn hậu. Điều này đưa tác phẩm đến gần hơn với dòng mạch văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa vốn kết hợp phản ánh hiện thực với việc xây dựng hình tượng lý tưởng để định hướng thẩm mĩ và tư tưởng cho người đọc. Trong khung lý thuyết văn học, thủ pháp này có thể được lý giải qua quan điểm của Mikhail Bakhtin về tính “đối thoại” trong văn bản tự sự: sự đối lập giữa ngoại hình và đời sống lao động không chỉ là phép so sánh tĩnh mà tạo ra một không gian “đối thoại” giữa hiện thực khắc nghiệt và khát vọng vươn tới cái đẹp, giữa sự hữu hạn của đời sống và tính vô hạn của giá trị tinh thần. Nhân vật Ba vì thế vừa là sản phẩm của điều kiện sống vừa là biểu tượng của lý tưởng thẩm mĩ. Ngoài ra, xét theo khung tham chiếu của thi pháp lãng mạn, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ đã sử dụng các tín hiệu thẩm mĩ như làn da trắng, nụ cười tươi, sức khỏe dẻo dai – vốn là những dấu hiệu thị giác mang tính ước lệ – để lý tưởng hóa nhân vật. Thủ pháp này đưa hình ảnh Ba vượt ra khỏi giới hạn cá thể, trở thành biểu tượng văn hóa của con người miền núi: khỏe mạnh, cần cù, nhân hậu. Đây chính là sự giao thoa giữa tái hiện hiện thực và điển hình hóa nhân vật. Vì thế có thể nói, thủ pháp đối lập trong Chuyện tình Khau Vai không chỉ là một phương tiện miêu tả mà là một cấu trúc thi pháp mang tính hai chiều: vừa kế thừa truyền thống hiện thực Việt Nam với khả năng phản ánh và khắc họa chiều sâu nhân vật qua mâu thuẫn ngoại hình - hoàn cảnh, vừa sáng tạo yếu tố lãng mạn hóa để kiến tạo hình tượng lý tưởng, mở rộng chức năng thẩm mĩ và nhân văn của tác phẩm. Chính sự kết hợp này giúp tiểu thuyết vừa bám rễ vào truyền thống vừa mang dấu ấn phong cách riêng của Nguyễn Thế Kỷ.
4. Kết luận
Với tiểu thuyết Chuyện tình Khau Vai, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ biểu thị một bút pháp nghệ thuật vừa chân phương vừa kinh điển. Sự chân phương thể hiện ở việc lựa chọn chi tiết chân thực, sinh động; kinh điển ở vẻ đẹp nhân văn và thông điệp nhân bản, nâng đỡ tâm hồn con người vượt qua nghịch cảnh để sống và yêu thương. Trang văn của Nguyễn Thế Kỷ bình dị nhưng đủ sức ám ảnh, khơi dậy những băn khoăn phận người, không chỉ dừng lại ở khắc họa nhân vật mà còn thức tỉnh ý thức đạo đức và lối sống nơi người đọc. Ngòi bút ấy thấm đẫm tình thương dành cho con người, nhất là những phận đời yếu thế, éo le, oan nghiệt, nhiều bất hạnh.
Qua tác phẩm này, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ đã mang lại nhiều giá trị nghệ thuật đặc sắc. Ông xây dựng rất thành công không gian nghệ thuật đậm màu sắc văn hóa tộc người (Nùng, Giáy). Trong bối cảnh đó, từng nhân vật hiện lên sống động, đẹp đẽ, vừa có số phận riêng vừa biểu tượng cho lý tưởng chung của con người vùng cao. Tác phẩm vì thế đủ chất của sự tôn vinh đối với giá trị văn hóa tộc người cũng như đóng góp đáng kể trong việc giữ gìn giá trị văn hóa bản địa. Có lẽ một ngày không xa Chuyện tình Khau Vai sẽ lan tỏa đến những nơi cần đến của văn chương thế giới. Đối với sinh hoạt văn học, nghệ thuật, tiểu thuyết Chuyện tình Khau Vai tiếp nối và phát huy truyền thống văn xuôi tự sự, đồng thời ghi dấu ấn sâu đậm với chiến lược trần thuật độc đáo cho thấy sự cộng hưởng giữa nhãn quan văn học, sân khấu và điện ảnh. Có thể khẳng định rằng Chuyện tình Khau Vai là cột mốc đáng kể trên hành trình văn nghệ của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, đã làm tươi đẹp thêm sinh hoạt văn nghệ ở nước nhà hiện nay.
Chú thích:
1 Nguyễn Thế Kỷ (2019), Chuyện tình Khau Vai, NXB. Văn học, tr. 27. Từ đây, các trích dẫn trong bài đều được ghi trực tiếp số trang (tr.) theo nguồn tài liệu này.