Nguyễn Hồng Thái xuất hiện trên văn đàn cuối những năm 80 thế kỷ trước. Là tác giả trong ngành công an nhưng những truyện ngắn đầu tay của anh không phải chuyện các vụ án “nóng” mà là những truyện sâu nặng tính thế sự, khá sâu sắc và sớm có cả sự mới lạ trong văn chương. Đơn cử truyện Quà tặng của một thời gian khổ đăng trên tuần báo Người Hà Nội là câu chuyện hồi chiến tranh, một người mẹ trẻ sinh con đầu lòng nhưng từng bị nhiễm chất độc da cam nên đứa con không được thành người. Nữ bác sĩ đỡ đẻ đã lén tráo cho cô một bé sơ sinh bị bỏ rơi. Sau, đứa bé lớn lên, trở thành một họa sĩ, đã vẽ một bức tranh tặng mẹ… Mỗi lần nhìn bức tranh, người mẹ lại nhớ rất nhiều về một thời đầy máu lửa và huyết lệ mà đời vẫn tặng cho mình một món quà vô giá!… Truyện ngắn chất chứa một nỗi bi thương lớn, cũng là một mối tình mẫu tử thật lớn, đầy tính nhân bản! Cũng xin nói thêm rằng, những ngày đó tôi đã được quen biết nhà văn Lê Tri Kỷ, một bậc trưởng thượng trong các tác giả văn học ở lực lượng công an. Anh cũng liên tiếp đăng ba truyện ngắn trên Người Hà Nội, trong đó có truyện Thằng Mẫn tóc nâu khá hay. Hôm anh đến thăm tôi, tôi chưa kịp tỏ lời khen Thằng Mẫn tóc nâu, anh đã nói rằng vừa đọc xong truyện Quà tặng của một thời gian khổ và coi đó là “truyện rất hay”. Tôi nói cho anh biết Nguyễn Hồng Thái là một tác giả trẻ của công an, Lê Tri Kỷ rất vui. Trước khi ra về, anh cười bằng mắt và hỏi vui: “Chi nói xem, truyện đó có hay bằng Thằng Mẫn tóc nâu không?”. Tôi cười xòa với anh: “Truyện của Hồng Thái có nhỉnh hơn một chút, vì Thái còn rất trẻ anh ạ”…
Cuộc trò chuyện với nhà văn Lê Tri Kỷ là một kỷ niệm thân tình, vui vẻ trong anh em chúng tôi. Tuy nhiên, sau câu chuyện vui đó, bản thân tôi vẫn thầm khẳng định rằng ngay từ những truyện ngắn đầu tay, Nguyễn Hồng Thái đã tỏ rõ là một tác gia văn chương có khả năng khám phá trong đời sống những giá trị nhân bản và thể hiện nó bằng ngôn ngữ văn chương nhuần nhị mà giàu xúc cảm. Thực tế cũng cho thấy Quà tặng của một thời gian khổ đăng báo Người Hà Nội ít lâu sau đã được dịch sang Anh ngữ, đăng trên Tạp chí Phụ nữ! Và nữa, Cuộc thi Cây bút vàng lần thứ nhất (1998-2000) do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức, Nguyễn Hồng Thái đã ứng thí bằng truyện Đối mặt, kết quả chung cuộc: Nhà văn Ma Văn Kháng đoạt giải Đặc biệt, nhà văn Nguyễn Khải đoạt giải Nhất, Nguyễn Hồng Thái đoạt giải Nhất, Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đoạt giải Nhất. Theo dõi đường văn Nguyễn Hồng Thái từ những bước đầu, tôi thật mừng khi thấy những thành công của anh thu hái được đều đặn, vững vàng, từ tốn, không ngừng vươn lên những thành công mới. Tới năm 2000, Nguyễn Hồng Thái mới xuất bản tập truyện ngắn đầu tay Đối mặt và tác phẩm này lại được trao Giải thưởng mười năm văn học của Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam (1995-2005). Tôi rất đồng thuận với nhận định của nhà văn Xuân Thiều về phẩm giá văn chương Nguyễn Hồng Thái: “Truyện Nguyễn Hồng Thái viết rất có văn, chữ nghĩa chọn lọc, tạo được những hình tượng giàu cảm xúc… Theo tôi, tác phẩm Đối mặt rất xứng đáng được đời sống văn học tôn vinh”. Rồi thêm mười năm nữa, Nguyễn Hồng Thái mới xuất bản tập truyện ngắn thứ hai là Ngôi nhà bên triền sông (NXB. Công an nhân dân, 2010). Lại thêm một lần nữa tôi rất đồng thuận với nhận xét thật tinh tế, sâu sắc của nhà văn Xuân Thiều về sức cuốn hút người đọc của văn chương Nguyễn Hồng Thái: “… truyện của anh có một ma lực hấp dẫn, hấp dẫn kỳ lạ!”. Ma lực cuốn hút đó được Nguyễn Hồng Thái tạo nên bởi khả năng quan trọng đối với nhà văn là từ đời sống xô bồ và cuồn cuộn thường nhật với bao biến cố, sự kiện, cả tốt - xấu, trắng - đen, Nguyễn Hồng Thái đã nhận biết được những truyện cần thiết cho người đọc. Vâng, phải là truyện về “nhân tình, thế thái” cần thiết cho độc giả mà có nhà lý luận văn học gọi là “duy tình”, còn tôi thì cho rằng đó là truyện chứa đựng tính nhân bản! Thứ nữa, Nguyễn Hồng Thái đã rất thành thạo trong nắm bắt diễn tiến tâm lý nhân vật, khả năng tạo kịch tính cho cốt truyện và thể hiện nội dung truyện với tốc độ tư duy nhanh. Có thể nói, với kỹ năng “thành thạo” trong nghề viết nên “tư tưởng nhân bản” trong những truyện ngắn của anh có sức cuốn hút thật mạnh, khiến nhà văn Xuân Thiều mới nhận định: “… truyện của anh có một ma lực hấp dẫn, hấp dẫn kỳ lạ!”.
***
Nguyễn Hồng Thái sinh năm 1961 trong một gia đình nông dân tại một làng quê nghèo mà nhiều thương khó là Diễn Hồng, Diễn Châu, Nghệ An. Anh có một tuổi thơ không mấy khi được ăn một bữa no, lại sống trên dải đất gọi là “vùng cán soong” (từ bắc Thanh Hóa đến Hà Tĩnh) không lực Mĩ thường đánh phá suốt ngày đêm nhằm cắt đứt con đường miền Bắc tiếp viện cho miền Nam. Sau một trận bom Mĩ, người cô ruột của Thái cùng hai đứa con trạc tuổi anh không còn nguyên xác… Có lần đang chuyện trò với bạn bè, Nguyễn Hồng Thái tự dưng thốt lên: “Làng tôi có ngày giỗ chung cho hàng chục người…”, đó là lúc anh tự dưng nhớ quê nhà, nhớ tuổi thơ. Tuổi thơ học dưới hầm chữ A với ngọn đèn dầu, trong tiếng bom rung..., vậy mà Nguyễn Hồng Thái trở thành nhà báo, nhà văn được bậc đàn anh như Xuân Thiều khen hết lời.
Tôi có khá nhiều bạn văn trong ngành công an, như nhà văn Lê Tri Kỷ, nhà văn Văn Phan (người đã có thời gian cùng tôi theo học Lớp bồi dưỡng các nhà văn trẻ tại Quảng Bá năm 1972)… Các anh ấy có đóng góp lớn cho phong trào sáng tác của các tác giả trong ngành công an nhưng không có những suy ngẫm về văn chương như Nguyễn Hồng Thái: “Vụ án, hay câu chuyện có tính hình sự không phải là cái đích văn chương của tôi. Những câu chuyện có tính hấp dẫn, kịch tính lắt léo cho hồi hộp chỉ là cái cớ để tôi chuyển tải những giá trị nhân bản ở trường đời”. Đối với một nhà văn, “trường đời” là những bài học chiêm nghiệm được từ đời sống xã hội, theo thời gian, thấm vào tâm can, trí não một cách tự nhiên, khách quan và nó trở thành nguồn lực tạo nên phẩm chất văn chương. Ngay cả khi đi hết cuộc chiến chống Mĩ, về sống ở Hà Nội rồi được đi thực tế nhiều nơi để làm báo, viết văn cho ngành, anh vẫn suy ngẫm nhiều về trường đời và đã thấu hiểu chiến tranh đã qua nhưng làng quê, xóm mạc vẫn còn nghèo xơ xác. Việc mưu sinh và hướng tới gây dựng một đời sống hạnh phúc là thực sự cực nhọc. Chưa phải là một nhà văn đi sâu vào các vấn đề kinh tế dân sinh nhưng đến chặng này trên con đường văn chương, trong tâm can Nguyễn Hồng Thái trỗi dậy những tháng năm anh bắt đầu làm công tác của một sĩ quan phản gián, có điều kiện gặp gỡ và tìm hiểu những tổn thương về đời sống và tâm hồn người Việt Nam bởi cuộc chiến tranh mà anh nếm trải từ thời thơ ấu. Nguyễn Hồng Thái từng bộc bạch: “… cái thời khó khăn của đất nước khi bị bao vây, cấm vận, tôi càng hiểu những lý do tham chiến của nhiều người Việt thuộc phía bên kia. Sau cuộc chiến, tự đáy lòng họ cũng đau đớn, dằn vặt lắm”.
Mùa hè năm 2003, được ngừng phiên trực biên tập ở Tòa soạn báo, Nguyễn Hồng Thái đi thực tế khá sâu rộng trên các làng xã dọc “vùng cán soong” thời chiến tranh, nơi đầy ắp ký ức tuổi thơ nhiều bom đạn. Trong lòng anh thức dậy biết bao kỷ niệm về vùng quê mình, nghèo khó nhưng sống với nhau luôn chia sẻ ngọt bùi, ấm lạnh. Tuy nhiên, khi đã là một nhà văn của ngành công an, Nguyễn Hồng Thái có nhiệm vụ cụ thể là đi tìm hiểu thật sâu vào thực tế đời sống ở Trại 53, một trại cải tạo với hàng ngàn tù nhân, trong đó có những “người Việt phía bên kia” từ hồi còn chiến tranh. Thật bất ngờ, chỉ ít ngày sau, qua công tác của các cán bộ, chiến sĩ công an và qua cuộc sống của các phạm nhân ở Trại 53, Nguyễn Hồng Thái nhận thấy dường như chính từ những dằn vặt, đau đớn trong quá khứ nên có những “người Việt phía bên kia” hằng ngày đang chung lưng đấu cật với “người Việt phía bên này” cùng đổ mồ hôi, nước mắt sửa chữa lỗi lầm cũ, làm lại cuộc đời tại vùng rừng núi hoang vu nóng bỏng nơi đầu nguồn gió Lào này. Hơn thế, với nguồn xúc cảm thực sâu cùa một nhà văn sinh trưởng trên vùng quê khắc nghiệt, Nguyễn Hồng Thái nắm bắt được một vấn đề thật nhiều ý nghĩa của công tác công an cũng đang nảy sinh tại Trại 53, đó là những vụ việc về cải tạo tù nhân, chăm lo cho tù nhân một cách thực sự nhân đạo, và cả việc tạo dựng cuộc sống lâu dài cho họ sau khi được ân xá sao cho đúng với tinh thần nhân văn… Và rồi trong Nguyễn Hồng Thái trỗi lên rất mạnh ý muốn viết một thiên tiểu thuyết về vùng quê lắm cực nhọc và cũng nhiều thương khó của anh, như anh đã thầm mong muốn là viết bám sát đời sống của Trại 53, viết hết lòng, hết sức và viết với nghệ thuật văn chương đương đại. Nguyễn Hồng Thái cũng đã ý thức được rằng Việt Nam ta đã chuyển sang giai đoạn đổi mới và hội nhập với quốc tế nên tác phẩm anh sẽ viết cũng phải nêu rõ được phương cách khắc phục lề thói làm việc trì trệ những năm tháng cũ còn rớt lại như tệ hống hách của cán bộ quản giáo có chức sắc, thói cửa quyền và cả sự vụ lợi của người có quyền chức… Thế rồi, ngay tại Trại 53, anh đã khởi thảo tiểu thuyết Đất nóng. Những sự kiện, phận người, cốt truyện cho tiểu thuyết được Nguyễn Hồng Thái tìm thấy ở Trại 53. Còn những địa danh, lời ăn tiếng nói của các nhân vật và lề thói đời sống của vùng quê nóng bỏng đầu nguồn gió Lào, có thể nói, đó là cả một không gian văn hóa làng xã của thiên tiểu thuyết, Nguyễn Hồng Thái lấy từ vùng quê anh (và làng Cung trong Đất nóng cũng có hai nhân vật là Bà đồ và Ông đồ là bố, mẹ của Lê Văn Đức, nhân vật chính trong tiểu thuyết). Khi hết thời hạn đi thực tế, trở về Tòa soạn báo, anh lại vừa trực biên tập vừa cặm cụi viết. Năm 2004, Nguyễn Hồng Thái cũng đã hoàn chỉnh thiên tiểu thuyết dài gần bốn trăm trang in. Đất nóng đã được viết hết lòng, hết sức và viết với một nghệ thuật văn chương đương đại, có sức cuốn hút thực mạnh nên Nhà xuất bản Thanh Niên đã cho xuất bản ngay năm 2005; rồi chỉ một năm sau, Nhà xuất bản này lại phải tái bản; tiếp nữa, năm 2015, Nhà xuất bản Công an nhân dân in lại!
Trong những năm còn chuyên chú vào truyện ngắn, qua hai tác phẩm Đối mặt và Ngôi nhà bên triền sông, Nguyễn Hồng Thái đã để lại một phong thái văn chương khá riêng biệt. Đơn cử Vượt cạn, một “truyện nóng” về hình sự, ta thấy nhà văn tạo dựng tình huống truyện khá điển hình, giàu kịch tính và cũng thật đậm tính nhân văn: hai chiến sĩ công an là Hoàn và Phong đi bắt một tên cướp khét tiếng. Họ mai phục bên nhà tên cướp đúng vào cái đêm vợ nó sinh con đầu lòng. Suốt hai giờ đồng hồ, lúc thì nghe tiếng vợ nó rên la đau đớn, lúc thì tiếng bà đỡ chỉ bảo quát nạt, chứng tỏ vợ nó đẻ rất khó khăn. Hai chiến sĩ còn thấy tên cướp đưa tay cho vợ nắm nhưng họ không bắt hắn. Đợi mãi cho đến lúc có tiếng thét của người đàn bà và sau đó là tiếng khóc của sinh linh chào đời, họ bắt tên cướp nhanh đến nỗi chính hắn cũng không hiểu vì sao hắn đã bị bắt, Hoàn bấm đèn pin vào khuôn mặt tên cướp và bảo: “Bọn tao chờ hai tiếng đồng hồ để vợ mày sinh rồi mới gô mày, nghe chưa? Cho mày mấy phút vào an ủi cô ấy cho đỡ sợ. Nhanh lên!”.
***
Đến tiểu thuyết Đất nóng, Nguyễn Hồng Thái đã thực sự hoàn thiện được những kỹ năng cần thiết của một tác gia văn xuôi. Thời gian xảy ra những diễn biến đời sống trong trong Đất nóng là từ năm vừa kết thúc cuộc chiến chống Mĩ cho đến những năm đầu thế kỷ XXI. Nguyễn Hồng Thái đã tổng hòa tất cả những vốn liếng nghệ thuật ngôn ngữ và những ấn tượng mạnh mẽ từ thực tế đời sống xã hội chất chứa trong lòng, gồm cả tình yêu, nỗi khổ nhọc; cả những hạnh phúc bị tan vỡ một cách đau xót cho đến những gắng gỏi tột cùng để vươn tới hạnh phúc của một số nhân vật chính. Đó là Nguyễn Văn Đức “chân chỉ hạt bột”, do biết nghề thuốc gia truyền nên hay chăm sóc tù nhân đau yếu mà gặp phải hết tai ương này tới hoạn nạn khác. Nhân vật Huỳnh Tung, một bác sĩ quân đội “người Việt phía bên kia”, phải vào Trại 53 cải tạo khi mang trong mình một căn bệnh mà Tây y khi đó bất lực. Chính quản giáo Đức với những thang thuốc “cây nhà lá vườn” đã chữa khỏi bệnh cho Huỳnh Tung. Vậy nhưng, bởi phải đi suốt đêm về nhà bố mẹ lấy những thang thuốc để cứu được mạng cho Huỳnh Tung, Nguyễn Đức bị coi là vi phạm nội quy của Trại 53 nên bị chuyển công tác vào Trại Z.7 ở tận Ninh Thuận. Cùng với sự cố này còn có việc Đức do hiểu lầm Thu đã để Thân – Đội trưởng Đội quản giáo chen ngang vào tình yêu của Thu với anh nên Đức cũng bị mất luôn cả mối tình đầu trong trắng và thánh thiện. Đức đâu có biết, sau thất bại trong tình yêu, Thu đã nỗ lực học văn hóa, rồi thi đỗ vào Đại học An ninh và còn được đi tu nghiệp ở Học viện An ninh Liên Xô (cũ). Còn Huỳnh Tung, năm 1980, mãn hạn tù thì biết cô vợ đã dan díu với Tư Hoàng, một nhà báo tâm lý chiến gian xảo thời Mĩ - ngụy và đang ở trong ngôi nhà của anh. Tung cay đắng đem con gái Lệ Dung mới 5 tuổi về quê, rồi lặng lẽ sang định cư ở Mĩ… Có thể nói, trong không gian sống không có gì rộng lớn là Trại 53, cuộc đời vẫn vận động rất mạnh, mạnh đến mức chính Đức cũng không ngờ. Anh đã được cấp trên điều trở lại công tác tại Trại 53, trải những bài học trường đời cả ngoài Bắc, trong Nam, anh trở thành giám thị. Trước kia, ngoài việc quản giáo, Hạ sĩ Đức chỉ ôm thêm việc giúp phạm nhân chữa bệnh bằng thuốc Nam. Nay Trung tá, giám thị Đức vừa lo quản lý công việc toàn Trại 53, với bản tính hay quan tâm đến những phận người sống trong thiếu thốn, cực nhọc, anh ôm thêm việc thành lập một nông trường để cho những tù nhân được ân xá hoặc mãn hạn tù mà ở quê nhà không còn người thân thuộc, không có ruộng đất để lập nghiệp, hoặc do sự kỳ thị của người đời nên không thể về quê… sống và làm việc. Đây là một công việc mang tính nhân bản sâu sắc mà Trại 53 đề xuất và được cấp trên rất ủng hộ. Tuy nhiên, việc này cũng gặp nhiều vấn đề nan giải, mà nan giải nhất là thiếu nguồn kinh phí để tạo dựng nhà cửa tương đương như việc lập một làng mới, việc khai phá những đồi rừng thành những khu đất trồng trọt các loại cây có giá trị kinh tế cho đến việc kiến tạo nguồn nước cho cả một vùng quê mới... Đúng lúc Đức và Trại 53 rơi vào tình trạng nan giải đó thì Huỳnh Tung, đại diện cho Công ty ADB của Mĩ, trở về với mục đích “đầu tư vào việc sản xuất và chế biến các sản phẩm công nghiệp và cây công nghiệp”! Giám thị Đức nhận ra Tung và cũng hiểu, ngoài việc chung của ADB, ông ấy tới Trại 53 còn vì một ân huệ xưa nên cũng có thể coi đó là thuận lợi ban đầu. Việc đầu tiên là Tung phải thuê chuyên gia từ Hà Nội vào khảo sát thêm về chất đất ở vùng Kỳ Tân này, may là có kết quả thích hợp với ý định liên doanh. Tuy thế, còn phải qua các cuộc bàn cãi, cân nhắc, nâng lên đặt xuống ở Trại, Bộ đồng ý cho Trại 53 liên kết. Có lẽ đây là lần đầu tiên Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp một giấy phép tạm thời cho sự hợp tác liên doanh giữa một trại tù với một công ty nước ngoài. Nhà nước không cấp vốn, tự trại tù và cơ quan chủ quản vay vốn làm ăn. Nhưng kiếm đâu ra mười tỷ bạc để góp 30% vốn vào công ty liên doanh nên khi ký giấy vay tiền ngân hàng và các cộng sự thì Đức sợ thật… Giữa lúc bời bời lo lắng, bận rộn như thế, Đức nhận được cú điện thoại của trực ban báo cáo có một người khẩn khoản xin gặp, nếu không được gặp thì cậu ta sẽ đập đầu tự tử. Khi được gặp, anh ta kể: “Cháu là tù nhân đã được ân xá 6 tháng. Nhưng về Hà Nội, dân phố thì dè bỉu, bố mẹ thì ruồng rẫy, những người sẵn sàng giúp cháu lại là các ổ tiêm chích, bán lẻ từng gói heroin, đời cháu coi như hết. Cháu nghe nói chú lập một nông trường để giúp những kẻ như cháu nên vào đây để xin chú cho làm bất cứ việc gì, sống giữa rừng núi đào đất, chặt cây, xẻ gỗ cháu cũng làm được. Nếu không được như thế, xin chú cho cháu ngồi tù thêm một thời gian. Ra tù cũng nhục lắm chú ơi!”. Nhìn người thanh niên khóc một cách tủi hổ, uất ức, cô đơn, Đức bảo: “Thôi được. Tôi nhớ anh ở phân trại nào rồi, tôi sẽ cho người đưa anh về lâm trường”. Sau sự việc đó, Đức càng nung nấu khát khao liên doanh, có chết cũng phải liên doanh để cứu hàng vạn người!
***
Liên doanh vận hành được ba năm đã có hơn một ngàn cựu phạm nhân tập trung về đây như một nông trường rộng hơn ngàn hecta được khoanh từng vùng riêng: mía, cà phê, hạt điều, thảo dược. Thấy những người mới ở tù ra mà được như thế, đôi khi Đức tự nhủ “Mình đừng nghĩ nhiều về lãi suất, mặc dù thử thách còn nhiều. Mà lãi lời, là chính những con người đang khao khát hoàn lương kia chứ ở đâu!”. Thử thách lớn nhất không chỉ đối với Đức mà với cả Liên doanh là nguồn nước sạch. Ở vùng Kỳ Tân này gió Lào thổi cồn cột suốt những ngày hè, có lúc thổi như bão. Nhìn lên dãy núi đá, Đức cảm thấy các mỏm núi như có khói bay lên, dường như trong lòng sâu của nó đang âm ỉ cháy. Làm sao có được nước? Câu hỏi cứ xoáy vào gan ruột Đức. Thời gian đó, trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam hay phát bài Hồ trên núi, do ca sĩ Quang Phát hát rất hay và chính lời ca “ai đắp đập, ai phá núi cho hồ nước đầy là mặt gương soi” cho Đức một ý tưởng táo bạo: vận động mấy huyện miền núi huy động sức dân cùng cải tạo cái khe núi nhỏ có tên là Thiên Bùng nằm chìm sâu giữa bốn bề núi bao bọc thành hồ chứa nước. Vậy rồi, sau khi đổ vào đó hàng triệu ngày công, lòng khe được đào sâu, xây con đập dài hơn 20m không cho dòng nước suốt ngày đêm chảy đi một cách phí hoài nữa. Những ngày mưa, hồ Thiên Bùng đóng cửa đập, giữ nước lại, lúc hạn hán thì điều tiết dòng nước từ hồ tỏa đi các nương, ruộng của đồng bào. Những buổi chiều người dân trong vùng hay trèo lên đập ngắm nhìn hồ nước bao la, trong xanh, gặp ngày mực nước dâng cao có thể thò tay vỗ nhẹ xuống mặt hồ mới yên lòng ra về… Việc tạo nên hồ Thiên Bùng đã được hoàn thành như một giấc mơ!
Trong Đất nóng, Nguyễn Hồng Thái tỏ ra rất có tài khắc họa nhân vật. Những nhân vật chính đều được nhà văn tạo dựng công phu, có cá tính riêng, có thân phận thường gặp nhiều trắc trở trên đường đời cũng như trong trường tình. Đó là y tá Thu với mối tình đầu năm 18 tuổi. Hồi đó, do hay vào núi tìm lá thuốc chữa bệnh đái ra máu của Tung, Đức đã phát hiện ra dưới chân dãy núi Kỳ Tân có hang Dơi khuất sau nhiều lùm cây rậm rạp, trong hang rất ít ánh sáng nên mọc nhiều cây tam thất. Đức đã vài lần dẫn Thu vào hang ấy để được “… ôm nhau và gọi tên nhau da diết nơi cửa hang. Cả Trại 53, cả dân quanh vùng không ai biết cái hang kỳ lạ ấy. Chỉ có Đức và Thu biết. Đức gọi hang ấy là hang Tam Thất, Thu gọi đấy là động Tình Yêu. Thu hẹn sau này cưới nhau, hai người sẽ bí mật vào động Tình Yêu cùng đốt lửa, lót lá cây làm giường cho đêm tân hôn”… Sau khi thất bại trong mối tình đầu, Thu đã dốc sức học tập, vươn lên, trở thành sĩ quan thanh tra cao cấp của Bộ. Với tính cách “sống tận lực, yêu hết lòng”, nửa đời người rồi mà Thu không thể yêu một người khác nữa. Rồi số phận lại đưa chị trở lại Trại 53 để “thanh tra” phẩm chất Đức khi anh bị “dính” vào “vụ án kinh tế”, tại công ty liên doanh kinh tế của Trại 53 với Công ty ADB của Mĩ. Một nhân vật chính nữa là Tung, bác sĩ trong quân đội ngụy từng đóng quân ở Quảng Trị, trong chiến trận, anh thường chữa trị, chăm sóc cho thương binh “người Việt phía bên kia” cũng như “người Việt phía bên này”. Sau khi cải tạo ở Trại 53, Tung và con gái sang Mĩ định cư, hơn nửa đời người rồi vẫn sống cô đơn mà lại đang đổ công sức (cùng với Đức) giúp đỡ hàng ngàn con người có thân phận lận đận ở vùng rừng núi xứ Nghệ hoang vu và nóng bỏng. Cuộc tạo nên hồ Thiên Bùng đã hoàn tất như một giấc mơ, nhưng có một điều Đức chưa biết, đó là Công ty mẹ ADB vốn không đồng ý cho Tung tiến hành liên doanh hạng mục đó. Do vậy, 30% số tiền ghi bên Mĩ đóng góp là tiền của cá nhân Tung, ông đã giấu công ty mẹ để ủng hộ Đức!
Cuộc sống của các nhân vật chính trong phần cuối tiểu thuyết Đất nóng diễn tiến ngay tại Trại 53 với tốc độ thật nhanh. Bởi có cả đơn phản ánh lên công an cấp trên, có cả giấy đòi nợ của Ngân hàng Nông nghiệp nên Đức là đối tượng chính bị thanh tra; Thu là Trưởng thanh tra, trực tếp về Trại 53 làm việc! Thân là cấp phó của Đức, với bản chất nhỏ mọn nên coi dịp này là cơ hội cho mình. Với tính cách của người sống tận lực, yêu hết lòng, Thu lại có thêm bản lĩnh trong công tác, khi làm việc với Thân, chị vẫn thầm nghĩ “Người nhỏ nhen sẽ mãi mãi không bao giờ lớn lên…”. Đức cũng đã mang tất cả hồ sơ công tác của Liên doanh báo cáo với Thu. Nhưng thật đột ngột, ngay tối hôm ấy mưa kìn kịt ập đến kín trời, Đức lập tức lên xe U-oát quát lớn với lái xe: “Ra ngay hồ nước!”. Thực sự là một cuộc vật lộn với thiên nhiên để giữ lấy sự sống, tiếng Đức lại hét lên: “Cho mở xả lũ hai cổng phía Đông Nam, phải hi sinh lúa của bà con”. Đức phát lệnh báo động toàn Liên doanh rồi lao về phía đập, những bóng người khác cũng lao theo. Nước đã ràn rạt mái đập. Biết rằng nếu nước tràn qua sẽ giảm áp lực tác động vào đập, Đức yên tâm đôi chút, nhưng đói, uống toàn nước mưa từ mặt chảy vào miệng: “Và kia rồi, đoàn công nhân đã leo lên chân đập, Đức cởi phăng áo mưa, huơ hai tay lên chào đón. Những bàn tay đầu tiên trong dòng người đã nắm lấy tay Đức, có người còn ôm lấy ông, một cử chỉ hiếm thấy. Có tiếng hét lên rất to: “Tất cả công nhân các lán, các đội, xin Giám thị ra lệnh”. Trời ơi, là gần một ngàn công nhân của Liên doanh! Họ vừa ra tù được vài năm, lương bèo bọt ba trăm ngàn đồng mà dám xả thân trong mưa bão! Mưa vẫn ngút trời, tiếng sấm rền vang. Thu chợt tỉnh, tiếng loa vẫn văng vẳng bên tai chị lúc gần lúc xa: “Theo lệnh giám thị Nguyễn Đức, tất cả khẩn trương cứu đập. Theo lệnh giám thị Nguyễn Đức…”. Lòng Thu buồn mênh mang, chị biết mọi điều bất lợi đang chờ Đức, tự nhiên chị kêu to lên: “Sao lại mưa to lúc này hở trời!”.
***
Sau lời kêu to lên ấy, ta biết trong lòng Thu vẫn có Đức. Và từ đây, dù giọng văn trầm tĩnh nhưng diễn tiến trong thiên tiểu thuyết lại nhanh hơn, mở rộng hơn và mạnh hơn. Tung đã trở về Liên doanh. Phó Cục trưởng Bộ Công an về Trại 53 phối hợp công tác với Thu. Qua Đài ABC, các bậc trưởng thượng ở quê biết Đức đã bị đình chỉ công tác nhưng vẫn tin anh là người tốt. Dồn dập thêm, một số bài báo tiếng Việt ở hải ngoại đưa tin xấu về Liên doanh của Trại 53 với Công ty ADB và đều nói xấu Huỳnh Tung. Bên an ninh lại mời Đức lên trao đổi. Đức hiểu bọn xấu đang tấn công Tung và Lệ Dung – con gái ông. Số phận Đức và Huỳnh Tung một lần nữa như bị trêu ngươi. Rồi khi quay về Liên doanh, Tung đã chủ động tìm đến nhà Đức ở quê, hai người đã thực sự là đôi bạn tri kỷ. Mẹ Đức soạn cho hai người mâm cơm, ngồi xếp bằng trên chiếu giữa sân uống rượu dưới ánh sáng hai cây đèn dầu, có rất nhiều chuyện để nói với nhau. Khi Đức nhắc hỏi về Lệ Dung – con gái Tung, còn hỏi về Hiền Mi nữa, chuyện có chùng xuống một chút. Tung: “À quên, thông báo với anh, lần này tôi đã mang tiền trả nợ 3 tỉ cho các anh luôn”. Đức cảm ơn. Trăng đã lên, sáng vằng vặc… Trong thời gian Đức và Tung có dịp tâm sự, đàm đạo, Thu mải miết đi tìm các chứng cứ bảo vệ cho Đức. Chị xin gặp Phó ban Kiểm tra Trung ương, ông ấy khẳng định hồi còn làm Thứ trưởng Bộ Công an đã đồng ý về mặt nguyên tắc để Trại 53 thiết kế, xây dựng hồ nước và còn chỉ đạo Bộ Tài chính bổ sung kinh phí để Trại triển khai sớm. Thu còn gặp cả Thanh tra Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp, họ đều khẳng định đã đồng ý về chủ trương cho Trại 53 xây dựng hồ Thiên Bùng. Thu đã báo cáo với Cục trưởng, ông khen công việc tiến hành tốt, nhưng lại đột ngột giao cho Thu vào Nam gấp để làm một công tác cần kíp khác. Thu sững người, giọng nói như mọng nước mắt: “Làm người tốt khó thật thủ trưởng ạ”.
Hóa ra Thu vào Thành phố Hồ Chí Minh để xác minh Hiền Mi và Lệ Dung có quan hệ gì với Huỳnh Tung. “Vẫn là việc về Đức!”, chị thấy nhẹ người. Khi tới nhà Hiền Mi, lại gặp cả Lệ Dung nên việc xác minh thật dễ dàng và thật vui. Duy có việc Lệ Dung hồn nhiên nói: “Có hai nhà báo ra thăm Liên doanh, cháu đã nhờ họ báo tin cho ba cháu rồi”, đã khiến Thu chột dạ, tại sao lại có chuyện nhà báo hải ngoại về thăm Liên doanh? Chị muốn xin về Bắc ngay. Suy nghĩ dẫn Thu xa hơn: “Hay là về làng Cung trước đã, nơi có căn nhà ngói cũ kỹ được ướp bằng thuốc Nam, nơi bố mẹ Đức từng đón cô con dâu tương lai cái lần đầu chị rụt dè ngơ ngác về thăm...”. Càng nghĩ, Thu càng xót xa thương Đức. Chị thèm được nghe giọng nói của anh, thèm được đi bên anh!
Do Huỳnh Tung chưa biết gì về tên Tân Hoàng (sĩ quan tâm lý chiến thời Ngụy quyền) nên hai “nhà báo” ở hải ngoại về Việt Nam tham dự “Hội thảo Quốc tế đầu tư vào Việt Nam” đã trở thành khách của Liên doanh. Chỉ hai ngày sau, hai “nhà báo” đó lại vào vai bị mấy tù nhân trọng tội vượt ngục bắt cóc, chúng điện thoại cho lãnh đạo Việt Nam phải chuộc hai khách quốc tế đó với số tiền lớn và cung cấp máy bay trực thăng để bay khỏi Việt Nam. Một đơn vị đặc nhiệm (trong đó có Đức) do Tổng cục phó chỉ huy vào cuộc ngay. Khi nhóm bắt cóc gọi điện mặc cả, vì là người hiểu nhiều về bọn phạm trọng tội trong trại tù, Đức xin phép đối thoại với chúng và biết bọn nó đang náu trong hang Dơi. Đó là động Tình Yêu của Thu ngày xưa! Cửa hang rất hẹp, phải lách người mới chui lọt, nhưng Đức hiểu mình phải giải quyết vụ này và anh bỗng nhớ Thu vô ngần. Đến gần cửa hang, Đức bảo cả đoàn dừng lại, chỉ mình anh vào… Càng về cuối thiên tiểu thuyết, những câu, chữ của Nguyễn Hồng Thái càng dữ dội đến tột cùng khi lượng phân dơi tích tụ hàng trăm năm trong hang bùng cháy. Giữa những con chữ của nhà văn Nguyễn Hồng Thái cũng tràn ngập những nỗi buồn sâu thẳm trong cuộc đời Nguyễn Văn Đức và trong mối tình của Đức với Thu… Khép lại bài viết này, tôi muốn nói thêm về tình yêu cuả Thu và Đức một câu thôi: “Một mối tình như thế sẽ còn sống dài lâu hơn thời gian họ được sống trong cõi đời này!".