PHONG CÁCH PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA TRẦN ĐĂNG SUYỀN

Bài viết phân tích công trình ''Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao'' của Trần Đăng Suyền, làm rõ cách vận dụng lý thuyết hiện thực để khám phá tư tưởng, cốt truyện, giọng điệu và nghệ thuật miêu tả tâm lý trong sáng tác của Nam Cao. Từ đó, khẳng định nhà văn đã mở rộng cách hiểu về chủ nghĩa hiện thực Việt Nam, thể hiện phong cách phê bình khoa học, nhân văn của nhà nghiên cứu Trần Đăng Suyền; đồng thời góp phần khẳng định giá trị lớn lao ở sáng tác của Nam Cao trong tiến trình văn học dân tộc.

   Nam Cao (1917-1951) là nhà văn hiện thực phê phán lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Cùng với Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng…, ông vừa sáng tác, đem lại sự độc đáo và mới lạ về thi pháp văn xuôi, vừa thúc đẩy nền văn học nước nhà tiến lên rất nhanh theo phạm trù cái mới, cái khác cho văn đàn Việt Nam lúc bấy giờ. Quá trình hiện đại hoá nền văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỷ XX ở nước ta tiến nhanh với tốc độ bất ngờ chính một phần nhờ vào công lao và thành tựu xuất sắc của Nam Cao. Một chân dung văn học đỉnh cao như vậy, hẳn nhiên đã có nhiều công trình tập trung nghiên cứu và đem lại nhiều hiệu quả tiếp nhận khác nhau. Hàng trăm đề tài lớn nhỏ của nhiều nhà nghiên cứu đã giải mã thế giới nghệ thuật của Nam Cao ở các bình diện thuộc về nội dung và hình thức tác phẩm, làm sáng tỏ giá trị cấu trúc chỉnh thể của chúng, mà nổi bật nhất là phân tích chủ đề, đề tài, nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật, giá trị hiện thực và tư tưởng nhân đạo, ngôn ngữ, kết cấu mới lạ để cuối cùng chỉ ra phong cách nghệ thuật độc đáo của Nam Cao. Trong số những công trình đó, có sự đóng góp lớn của nhà nghiên cứu Trần Đăng Suyền qua công trình Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao. Công trình này được tái bản nhiều lần và được độc giả tiếp nhận, đánh giá cao bởi cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu rất căn bản của ông, mang lại hiệu quả khoa học mới mẻ.

   Là người mẫn cảm và nhạy bén trong tiếp cận và chiếm lĩnh vấn đề, Trần Đăng Suyền đã không dẫm lên lối đi của những nhà nghiên cứu trước đó, ông tự chọn cho mình cách giải mã tác phẩm của Nam Cao bằng chính bản chất của quá trình sáng tạo và phương pháp sáng tác mà Nam Cao đã thể hiện, tức lấy chính chủ nghĩa hiện thực để quy chiếu vào thế giới nghệ thuật của Nam Cao nhằm chỉ ra giá trị của từng tác phẩm hiệu quả và toàn diện, đồng thời, chỉ ra sự vận động của chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam. Chúng tôi xem đây là thành công đầu tiên để Trần Đăng Suyền tự tin đi vào thế giới nghệ thuật của Nam Cao một cách chắc chắn và phát hiện ra nhiều nội dung bổ sung bất ngờ so với những công trình đi trước.

   Trước tiên, Trần Đăng Suyền đã chỉ ra con đường đến với chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao và song hành với sự tiếp thu đó là quá trình từ bỏ dần chủ nghĩa lãng mạn và hình thành quan niệm sáng tác mới mẻ của nhà văn tài năng này, phù hợp với hiện thực đời sống của xã hội Việt Nam thời ông đang sống và chứng nghiệm: “Con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao, một mặt, được quy định bởi hiện thực xã hội vây quanh nhà văn, mặt khác, còn được hình thành trên cơ sở đặc điểm cá nhân của chính nhà văn”1.

   Từ hiện thực đời sống và sự tiếp thu chủ nghĩa hiện thực một cách bài bản đã giúp Nam Cao hình thành quan điểm sáng tác mang tính phát hiện cá nhân rất sáng rõ. Những quan điểm này được Trần Đăng Suyền minh định bằng chính những phát biểu của Nam Cao đăng trên các báo và từ những cảm nghĩ, đối thoại của nhân vật trong các tác phẩm của Nam Cao và đi đến nhận định khái quát: “Từ lập trường nhân đạo của mình, Nam Cao đã lên án đanh thép xu hướng thoát ly tiêu cực của văn chương lãng mạn đương thời chỉ chạy theo cái đẹp, lẩn trốn vào tình yêu, quay lưng lại với đời sống, ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi đau khổ cùng cực của nhân dân”2. Tác giả công trình khẳng định: “Chưa bao giờ, trong các sáng tác hiện thực chủ nghĩa, tính chất tiêu cực của văn chương lãng mạn, từ chủ thể sáng tạo, chủ đề của tác phẩm, nhân vật lý tưởng, giọng điệu ngôn ngữ cho tới độc giả của nó lại được phê phán một cách toàn diện, hệ thống và sâu sắc như trong sáng tác của Nam Cao”3. Đối chiếu với yêu cầu của chủ nghĩa hiện thực, Trần Đăng Suyền đã thấy được sự đóng góp to lớn của Nam Cao cho văn đàn Việt Nam: “Nam Cao đã thể hiện nhận thức sâu sắc, hoàn toàn tự giác của mình về một quan điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực: Tính cách của con người là do hoàn cảnh xã hội, môi trường sống quyết định. Đây cũng là một đóng góp cơ bản của sáng tác Nam Cao nói riêng và của chủ nghĩa hiện thực nói chung. Chính nhờ ý thức sâu sắc về vấn đề này, nên Nam Cao đã miêu tả sự hình thành tính cách của nhiều nhân vật dưới sự tác động của hoàn cảnh rất chân thực, giàu sức thuyết phục”4. Vậy nên “Mỗi tác phẩm xuất sắc của Nam Cao đều được xây dựng trên nền móng vững chắc của tư tưởng nhân đạo, hướng tới việc khơi gợi tình thương, thức tỉnh nhân tính, đòi hỏi xã hội tạo những điều kiện để con người có thể phát triển đến tận độ những khả năng tiềm tàng mà nhân loại chứa đựng trong họ. Trong số những nhà văn hiện thực phê phán 1930-1945, chỉ có Nam Cao mới đạt tới sự cải tạo thẩm mĩ lý tưởng nhân đạo xã hội, biến nó thành một bộ phận của quan điểm nghệ thuật của nhà văn”5. Đây là nhận định rất chính xác, bổ sung những khía cạnh mới mẻ của chủ nghĩa hiện thực nhân đạo của Nam Cao. Những quan điểm này được phát triển bằng những nội dung mới mà Nam Cao đã đặt ra và minh chứng bằng những sáng tác có giá trị của mình sau Cách mạng Tháng Tám 1945, thể hiện cách nhìn đời, nhìn người qua “đôi mắt” của người nghệ sĩ chân chính, biến ông thành nhà văn lớn có quan điểm nghệ thuật tiến bộ và toàn diện nhất như Trần Đăng Suyền đã xác quyết: “Nam Cao là nhà văn đã đánh dấu ý thức nghệ thuật của trào lưu văn học hiện thực phê phán (1930-1945) đi từ tự phát đến hoàn toàn tự giác. Qua những ý kiến Nam Cao gửi gắm rải rác trong các sáng tác của ông, chúng ta thấy quan điểm nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa của nhà văn đã đạt tới trình độ tự giác, hoàn chỉnh, hệ thống, nhất quán và tiến bộ. Ông là người phát ngôn đầy đủ và sâu sắc nhất về đặc trưng và nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực. Đó là một đóng góp rất đáng trân trọng của ông đối với chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam”6.

   Từ việc tìm hiểu, minh định con đường đến với chủ nghĩa hiện thực và quan điểm sáng tác của Nam Cao, Trần Đăng Suyền đã tiến hành giải mã thế giới nghệ thuật của Nam Cao nhìn từ đặc trưng thể loại trên cơ sở phóng chiếu đặc điểm mĩ học của chủ nghĩa hiện thực vào từng yếu tố tham gia cấu thành tác phẩm để lý giải vấn đề một cách khách quan và khả thi. Đây là cách tiếp cận có tính thao tác luận và phương pháp luận bài bản để đạt hiệu quả chính xác và khoa học mà các nhà hình thức luận Nga đã đề xuất, vì theo họ, thể loại là phương diện giúp người nghệ sĩ thể hiện những thủ pháp nghệ thuật mang tính thi pháp biệt tài của mình một cách độc đáo nhất. M. Bakhtin đã thành công theo hướng tiếp cận này ở các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Dostoyevsky và Rabelais.

   Ở công trình Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Trần Đăng Suyền đã khôn ngoan chọn hướng tiếp cận này để nghiên cứu các bình diện bản chất của văn xuôi Nam Cao. Trước tiên là vấn đề loại hình và thi pháp loại hình mà cốt truyện và kết cấu là những yếu tố được quan tâm đầu tiên. Về cốt truyện, Trần Đăng Suyền đã chỉ ra được đặc điểm truyện không có cốt truyện của Nam Cao khi xây dựng tác phẩm: “Trong tiểu thuyết và trong nhiều truyện ngắn của Nam Cao, cốt truyện có vai trò khiêm tốn hơn. Cốt truyện trong nhiều tác phẩm của ông được hư cấu rất đơn giản, dường như không cần đến sự tổ chức và sắp xếp. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu, xuất phát từ yêu cầu có tính chất truyền thống của thể loại tiểu thuyết, đã nói tới đặc điểm không có cốt truyện trong tác phẩm của Nam Cao”7. Bởi vì “Trong sáng tác của Nam Cao, cốt truyện thường được xây dựng trên cơ sở miêu tả những cuộc đấu tranh nội tâm của nhân vật. Giăng sáng, Đời thừa, Mua nhà, Nước mắt, Sống mòn... đều có kiểu cốt truyện như vậy. Ở những tác phẩm này, những sự kiện thường xuất hiện với tư cách là nguyên nhân, là nguồn gốc của những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật. Những nhân vật bộc lộ thái độ, tình cảm và tư tưởng của mình chủ yếu qua hành vi (chẳng hạn, qua cử chỉ, nét mặt, lời nói) và nhất là qua lời độc thoại nội tâm... Sự vận động của hành động không phải diễn ra ở bên ngoài mà chủ yếu chỉ xảy ra ở bên trong, xảy ra trong thế giới nội tâm. Và như vậy, trong tiến trình sự kiện, cái bị thay đổi không hẳn là những mối quan hệ giữa các nhân vật, cuộc đời và số phận của nhân vật mà chủ yếu là trạng thái tâm lý của chúng. Cốt truyện của Nam Cao là một bằng chứng thể hiện hứng thú nghệ thuật ngày càng tăng của ông đối với thế giới nội tâm của con người - một thế giới không đơn giản mà phong phú, phức tạp”8. Nam Cao luôn “Đưa truyện trở về với dạng “đời thật” nhất, đồng thời, soi rọi vào đó một luồng ánh sáng rất mạnh của tư tưởng, bắt những chuyện vặt vãnh, những cảnh đời thường hàng ngày quen thuộc nói lên những ý nghĩa sâu sắc về con người, về cuộc sống và nghệ thuật, đó là một trong những đặc điểm nổi bật của sáng tác Nam Cao”9. Đây là sự cách tân, vận động mới mẻ của Nam Cao trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XX mà tác giả công trình đã nhận ra và đúc kết thành hệ thống.

   Về mặt kết cấu, Trần Đăng Suyền đã chứng minh sự mới mẻ và đa dạng hoặc sự lạ hóa về kết cấu của nhà văn tài danh này: “Nam Cao đã tổ chức kết cấu tác phẩm hợp lý, phóng túng mà chặt chẽ, để cho tư tưởng, chủ đề thấm sâu đến từng bộ phận của tác phẩm, đồng thời làm nổi bật tâm lý, tính cách của nhân vật, tạo nên những mạch ngầm, những mối liên hệ bên trong của các bộ phận, để cho toàn bộ tác phẩm thực sự trở thành một chỉnh thể nghệ thuật. Nam Cao đã tạo dựng những tình huống, xếp đặt các sự kiện, tổ chức hệ thống tính cách hợp lý, biến chúng trở thành những phương tiện để thể hiện tư tưởng của tác phẩm. Ở tác phẩm này, Nam Cao tổ chức những cặp nhân vật tương phản (Giăng sáng, Nước mắt, Điếu văn, Những chuyện không muốn viết...), ở tác phẩm khác, ông lại tổ chức hệ thống nhân vật trong mối quan hệ bổ sung cho nhau (Một đám cưới, Bài học quét nhà, Lang Rận, Đời thừa, Sống mòn...). Có những tác phẩm, hệ thống nhân vật được xây dựng trong mối quan hệ đối lập (Chí Phèo, Đôi móng giò, Rửa hờn...). Kết cấu hình tượng trong một số tác phẩm của Nam Cao là sự kết hợp giữa mối quan hệ đối chiếu tương phản với mối quan hệ bổ sung (Nước mắt, Sống mòn, Truyện người hàng xóm...), kết hợp giữa mối quan hệ bổ sung với mối quan hệ đối lập (Chí Phèo, Lang Rận...). Có thể nói, kết cấu đối với Nam Cao - đó là con đường và phương tiện làm sâu sắc hơn tư tưởng của tác phẩm và chính vì vậy, nhà văn thường xuyên mong muốn vươn tới những cách tân về kết cấu”10. Những nhận định như thế chỉ có thể rút ra từ sự đào sâu nghiên cứu từng mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh một cách cẩn thận, chu đáo. Bên cạnh đó, Trần Đăng Suyền còn chỉ ra kiểu kết cấu theo trình tự thời gian, kết cấu vòng tròn và kết cấu tâm lý để thấy sự đa dạng và đa tính chất của con người và xã hội mà Nam Cao đã nhận ra và thể hiện thành công bằng nghệ thuật hấp dẫn, độc đáo trong tác phẩm của mình.

   Yếu tố mâu thuẫn và xung đột trong tác phẩm của Nam Cao được tác giả công trình phân tích và đúc kết rất mới mẻ, giúp người đọc thấy được tài năng, tư tưởng và phong cách của Nam Cao – một nghệ sĩ bậc thầy: “Xung đột trong tác phẩm nghệ thuật chính là sự đối lập, sự mâu thuẫn được nhà văn sử dụng như một nguyên tắc để xây dựng các mối quan hệ tương tác giữa các hình tượng. Xung đột là biểu hiện cao độ của sự phát triển mâu thuẫn, là mâu thuẫn ở mức độ gay gắt, căng thẳng, quyết liệt giữa các thế lực đối địch, giữa con người với môi trường, hoàn cảnh xã hội, giữa các tính cách với nhau, giữa các phương diện khác nhau của một tính cách. Xung đột gắn liền với cảm hứng chủ đạo, thể hiện tư tưởng và chủ đề của tác phẩm, thúc đẩy hành động của các nhân vật phát triển, làm cho tính cách của các nhân vật bộc lộ đầy đủ và rõ nhất những mặt chủ yếu”11.

   Những xung đột nói trên có liên quan đến những mâu thuẫn mà Nam Cao phát hiện được thông qua mối quan hệ giữa tính cách với tính cách, giữa tính cách với hoàn cảnh rất đa dạng và phức tạp: “Trong nhiều tác phẩm của ông, các sự kiện, biến cố được triển khai trên một cái nền mâu thuẫn bền vững, thường xuyên xung đột. Ông tập trung khám phá và thể hiện những mâu thuẫn có tính chất trường tồn, xuất hiện ở ngay cái thời điểm khởi đầu các sự kiện được miêu tả, tồn tại suốt trong quá trình diễn biến và cũng không biến mất hoàn toàn sau kết thúc. Đối với Nam Cao, những xung đột xã hội, những xung đột trong thế giới nội tâm của nhân vật hiện thời không tìm được cách giải quyết trọn vẹn cũng như không sao tìm được sự giải quyết triệt để những xung đột tương tự trong cuộc sống xã hội đương thời. Tuy nhiên, việc tập trung thể hiện những xung đột trên một cái nền thường xuyên mâu thuẫn đã thể hiện nhận thức sâu sắc của Nam Cao về bản chất và thực trạng của xã hội cũ, đồng thời cũng bộc lộ cái nhìn hiện thực đầy năng động, không hề tĩnh tại của nhà văn”12.

   Qua phân tích từng tác phẩm cụ thể của Nam Cao, đặc biệt là Chí Phèo, Trần Đăng Suyền đã đi đến nhận định về các kiểu xung đột chính yếu xuất phát từ các mối quan hệ bản chất và quan hệ tương tác vừa tìm hiểu trên, đã đem lại sự khác biệt của Nam Cao so với các nhà văn hiện thực cùng thời: “Tiếp nối xu hướng phản ánh xung đột giai cấp của các cây bút đàn anh như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, do biết cách “đào sâu, biết tìm tòi” nên trong Chí Phèo, Nam Cao đã miêu tả và phản ánh xung đột giai cấp trên một bình diện mới. Ông nhìn thấu suốt tận đáy sâu của xung đột giai cấp trong lòng nông thôn Việt Nam, lên tiếng tố cáo tội ác dã man, tàn bạo nhất của chế độ thực dân phong kiến là đã đẩy những người nông dân lương thiện vào con đường tha hóa, lưu manh hóa, hủy hoại cả nhân hình và nhân tính của họ. Xung đột cơ bản trong Chí Phèo có ý nghĩa điển hình, là xung đột phổ biến, thường trực, gay gắt, nóng bỏng của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Bằng cảm quan hiện thực sắc bén và tinh nhạy, phát hiện ra xung đột giai cấp ở một chiều sâu mới, với tài năng tổ chức xung đột linh hoạt, nghệ thuật triển khai xung đột quanh co, gấp khúc nhiều bất ngờ, qua đó đặt ra những vấn đề cấp thiết của xã hội Việt Nam đương thời mà tác phẩm Chí Phèo, với dung lượng của một truyện ngắn, nhưng giá trị hiện thực và ý nghĩa tố cáo của nó rất độc đáo và sâu sắc, thậm chí còn hơn cả những tiểu thuyết như Tắt đèn hay Bước đường cùng...”13. Từ đặc điểm này, Trần Đăng Suyền cho rằng Nam Cao đã làm cho chủ nghĩa hiện thực có thêm bước tiến mới so với chủ nghĩa hiện thực cổ điển: “Như đã nói, ngoài truyện ngắn Chí Phèo, các tác phẩm khác của Nam Cao không miêu tả trực tiếp mâu thuẫn, xung đột xã hội. Sáng tác của Nam Cao có phần vượt ra ngoài chủ nghĩa hiện thực cổ điển, theo định nghĩa của Ăng-ghen. Nhiều nhà nghiên cứu coi đó là một hạn chế của ngòi bút Nam Cao; nhưng thực chất, đây chính là sự mở rộng phát triển, một đóng góp của ông đối với chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Đọc Nam Cao, ta thấy ông có ý thức tập trung vào việc thể hiện mối xung đột giữa con người với môi trường và hoàn cảnh sống”14. Trần Đăng Suyền đi đến kết luận: “Như vậy, xung đột giữa con người với môi trường, hoàn cảnh sống trong sáng tác Nam Cao có khi được thể hiện trực tiếp, khi lại gián tiếp nhưng đều hướng tới việc thể hiện một cuộc sống bất công, vô nhân đạo, tăm tối, ngột ngạt, bế tắc, cần phải đổi thay. Những xung đột đó đã góp phần làm rõ tầm nhìn nhỏ hẹp của nhân vật cùng với không khí sinh hoạt phàm tục, những định kiến tồi tệ, những hủ tục nặng nề của cuộc sống cũ. Nhà hiện thực chủ nghĩa Nam Cao ít chú ý tới cái phi thường trong việc lựa chọn các tình huống và miêu tả nhân vật. Tập trung chủ yếu vào việc khám phá những mâu thuẫn, những xung đột, những tình huống có tính bi kịch nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày bình thường của con người - đó là một trong những đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa hiện thực Nam Cao”15. Những nhận định như trên chứng tỏ Trần Đăng Suyền đã từ đặc trưng mĩ học của chủ nghĩa hiện thực để nhìn nhận sự vận động và phát triển của chính nó qua thực tiễn sáng tác của Nam Cao. Điều này đưa Nam Cao lên địa vị đỉnh cao của các nhà văn hiện thực phê phán ở nước ta đầu thế kỷ XX.

   Trong công trình Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Trần Đăng Suyền còn đi sâu khám phá môi trường sống của con người thông qua việc khám phá thời gian và không gian nghệ thuật - hai phạm trù tồn tại của thế giới vật chất và mọi sinh thể trên mặt đất. Về thời gian nghệ thuật, tác phẩm Nam Cao đều khai thác hiện thực đời thường hằng ngày với sự tương tác theo chiều tiêu cực, con người luôn phải bị chi phối bởi hoàn cảnh, dẫn đến sự sống mòn về thể chất, chết mòn về tinh thần: “Trong nhiều tác phẩm của Nam Cao, thời gian như đông đặc lại. Nó tù đọng, trì trệ, xoay theo cái quỹ đạo tưởng chừng như không bao giờ thay đổi. Có thể nói, cùng với việc phác họa những chi tiết chân thực, khắc họa những tính cách điển hình, mô tả những quan hệ nhân sinh, Nam Cao đã sáng tạo ra trong những tác phẩm của ông một kiểu thời gian hiện hực hàng ngày luẩn quẩn với biết bao những lo âu về sinh kế và kiệt quệ, mòn mỏi về tinh thần, góp phần tạo nên hình ảnh một cuộc sống mòn bế tắc, ngột ngạt của những con người, nhất là của tầng lớp trí thức nghèo trong xã hội cũ”16. Để đạt được điều đó, “Nam Cao luôn có ý thức tổ chức trong tác phẩm của mình dòng thời gian quá khứ, trong đó hồi tưởng có một vai trò rất quan trọng. Hồi tưởng là một trong những con đường ngắn nhất, hữu hiệu nhất để đi vào thế giới nội tâm phong phú, phức tạp của nhân vật. Hồi tưởng thường xuất hiện khi con người có ý thức về đời sống nội tâm, khi nó có nhu cầu nhớ lại, làm sống lại những hình ảnh, những sự việc nào đó đã qua hoặc là theo nguyên tắc liên tưởng, hoặc là theo quy luật tương đồng hay tương phản. Trong thế giới nghệ thuật của Nam Cao, hồi tưởng hiện ra từ từ, không cố ý ngỡ như vô tình, thậm chí ngay cả khi nhà văn chủ tâm đi vào thế giới hồi tưởng của nhân vật. Nó không tồn tại một cách độc lập mà trong mối liên hệ thường xuyên, chặt chẽ với hệ thống thời gian nghệ thuật. Hồi tưởng không đơn giản đẩy lùi ra những phạm vi thời gian của sự trần thuật, trái lại, nó tạo ra khả năng đối chiếu giữa quá khứ và hiện tại và có thể nhìn thấy những viễn cảnh và những chu tuyến của tương lai”17. Những nhận định như trên phải nói là mới mẻ, đánh thức trong người đọc những hiểu biết khá thú vị và bất ngờ thông qua sự phân tích cặn kẽ từng tác phẩm của Nam Cao. Kiểu thời gian tâm trạng cũng được tác giả công trình chỉ ra cụ thể và khá bất ngờ qua sự phân tích từng nhân vật trong từng thời khoảng cụ thể: “Hướng tới việc miêu tả tâm lý, thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao thường được tổ chức theo điểm nhìn của nhân vật. Sự vận động của thời gian không tuân theo quy luật khách quan mà theo quá trình phát triển của tâm lý con người. Chính vì vậy mà các bình diện thời gian luôn bị xáo trộn, đảo ngược do gắn liền với tâm trạng nhân vật và sự xuất hiện liên tiếp của dòng thời gian hồi tưởng. Các bình diện thời gian cũng không tồn tại một cách độc lập mà trong mối liên hệ thường xuyên, chặt chẽ với nhau, tạo ra khả năng đối chiếu giữa quá khứ - hiện tại và tương lai. Trong nhiều tác phẩm của Nam Cao, quá khứ hội tụ trong hiện tại và hiện tại như gợi lại những hình ảnh của quá khứ. Ở đây, hiện tại và quá khứ soi sáng cho nhau, tạo nên sự cộng hưởng về cảm xúc và ấn tượng cho người đọc”18. Muốn vậy, nhà văn phải quan tâm đến điểm nhìn, bởi điểm nhìn là xuất phát điểm để nhà văn cảm nhận về con người và cuộc sống được sâu sắc, khách quan và chân thật: “Nam Cao chú ý đặc biệt tới thời gian hiện tại, một cái thời gian hiện tại không bị chìm đi trong quá khứ, cũng không bị mờ đi vì ảo ảnh của tương lai mà hiện ra rất rõ ràng, cụ thể, sinh động, sâu sắc hơn vì mang theo cả cái chiều rộng và bề sâu thăm thẳm của cả quá khứ, hiện tại và tương lai cộng lại. Nhà văn luôn có ý thức bắt cả quá khứ và tương lai phải phụ thuộc vào điểm quy chiếu của thời hiện tại, của cái bây giờ. Biết dừng lại ở thời điểm hiện tại của các sự kiện, khám phá tính chất phong phú, đa dạng của nó, điều đó gắn liền với sở trường bút pháp Nam Cao - khám phá thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của nhân vật - và lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật của nhà văn”19.

   Phạm trù không gian nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao cũng được Trần Đăng Suyền phân tích chi tiết và rút ra những nhận định sắc sảo, mới mẻ, phù hợp với tầm đón nhận của độc giả đương đại. Đó là không gian riêng tư, cá nhân chật chội, tù túng: “Chính không gian nhà ở, căn phòng (tương ứng với nó là thời gian cá nhân hàng ngày) đã tạo điều kiện thuận lợi cho Nam Cao khai thác triệt để cái hằng ngày của đời sống. Đời sống thật của các nhân vật hiện lên cụ thể, chân thật, sinh động trong cái không gian riêng tư, gia đình của chính mình. Trong rất nhiều tác phẩm của Nam Cao, những biến cố, sự kiện, những hành động, suy nghĩ... của nhân vật chủ yếu diễn ra trong không gian nhà ở, căn phòng cho dù nhà văn không trực tiếp miêu tả không gian đó… Có thể nói, dựng lên không gian nhà ở, căn phòng, nơi diễn ra những đói khát, ốm đau, bệnh tật cùng với biết bao những cái hằng ngày vặt vãnh, tầm thường, vô vị, Nam Cao đã phản ánh chân thực một cuộc sống tù đọng, ngột ngạt đến mức không chịu nổi của xã hội Việt Nam đêm trước Cách mạng Tháng Tám”20. Tính chất của kiểu không gian nói trên được Trần Đăng Suyền nêu thêm những đặc điểm bổ sung: “Không gian nghệ thuật của Nam Cao nói chung đều là những không gian nhỏ hẹp, không gian được kiến tạo trong tầm nhìn của nhân vật. Mọi sắc thái, mọi biểu hiện của không gian ngoại cảnh thường được khúc xạ qua lăng kính chủ quan, qua thế giới nội tâm của nhân vật. Nhân vật cảm nhận nó, nắm bắt nó, đồng thời cũng tự bộc lộ mình trong nó. Những diễn biến của không gian ngoại cảnh chỉ như là cái cớ để mở rộng những cảm xúc, kích thích những suy nghĩ bên trong của con người…, không gian cá nhân bị dồn nén tới mức ngột ngạt thường xuất hiện với sự cô đơn của nhân vật đã tạo điều kiện thuận lợi cho nó bộc lộ cái “bản tính cốt yếu nhất” của mình như một con người giàu suy tưởng”21. Những tính chất của không gian như trên giúp người đọc càng hiểu rõ sự sâu sắc và tương cảm giữa nhà văn và nhà phê bình. Trần Đăng Suyền đã thật sự chỉ ra được kiểu không - thời gian rất riêng này của Nam Cao, bổ sung cho cách hiểu còn hạn hẹp, đơn giản về thời gian và không gian nghệ thuật của những công trình trước.

   Từ hướng tiếp cận đặc trưng thể loại gắn với phương pháp sáng tác, Trần Đăng Suyền tiếp tục nghiên cứu các sáng tác của Nam Cao ở bình diện tư tưởng nhân đạo và nghệ thuật miêu tả tâm lý - hai bình diện nổi bật thể hiện tài năng của nhà văn. Trần Đăng Suyền cho rằng: “Trong quan niệm của Nam Cao, con người có thể bị tiêu diệt; nhưng nhân tính, bản chất lương thiện của con người là vĩnh hằng, bất diệt! Có thể nói, cùng với việc lên án gay gắt những thành kiến, định kiến tồi tệ, những sự nhục mạ danh dự và phẩm giá của con người, chính việc phát hiện ra cái phần con người còn sót lại trong một kẻ lưu manh, trân trọng những khát khao nhân bản và miêu tả những rung động trong sáng của những tâm hồn tưởng chừng đã bị cuộc đời làm cho cằn cỗi, u mê đã làm cho Nam Cao trở thành một trong số những nhà nhân đạo lớn nhất trong nền văn học hiện đại Việt Nam”22. Bên cạnh đó, “Nam Cao là nhà văn của những người trí thức nghèo, của những kiếp “sống mòn” có hoài bão, có tâm huyết, tài năng, muốn vươn lên cao nhưng lại bị chuyện áo cơm ghì sát đất. Nếu như mỗi tác phẩm viết về đề tài người nông dân của Nam Cao đều là sự trả ơn, gửi gắm ân tình với người nghèo khổ thì mỗi trang viết về đề tài người trí thức đều chứa đựng tâm sự, nỗi đau và niềm khát khao cháy bỏng của chính nhà văn”23. Dù có những hạn chế nhất định về mặt nhận thức nhưng từ những gì đã thể hiện trong tác phẩm đã chứng tỏ Nam Cao là nhà văn có tư tưởng nhân đạo cao cả đối với con người: “Đời sống cá nhân chỉ thực sự có ý nghĩa khi hướng tới cái gì thiêng liêng, cao cả hơn cá nhân. Nam Cao đòi hỏi để cho mỗi cá nhân được phát triển đến tận độ với một ý thức đầy trách nhiệm và trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển chung của cả xã hội loài người. Có thể nói, tư tưởng nhân văn mới mẻ và sâu sắc đó chưa từng có trong nền văn học hiện đại Việt Nam trước Cách mạng. Đó là một tư tưởng lớn vượt ra ngoài cả thời đại Nam Cao”24. Đây là phát hiện mới mẻ của Trần Đăng Suyền với tư cách là người tiếp nhận đồng sáng tạo tài năng và tâm huyết. Ông say sưa và nhạy bén phát hiện những giá trị và tính độc đáo chỉ có ở tác phẩm của Nam Cao để bình luận và phân tích, chứng minh Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc nhất.

   Về mối quan hệ giữa nhân vật và hiện thực trong tác phẩm, Trần Đăng Suyền cho rằng Nam Cao có khả năng khám phá hiện thực ở chiều sâu mới, biết đặt ra những vấn đề mới và khác so với những nhà văn hiện thực cùng thời với ông. Miếng ăn, cái đói và tình trạng chết mòn của con người được Nam Cao đặt ra khẩn thiết và xem đó là sự thật tàn nhẫn, khủng khiếp nhất của dòng giống con người được Tràn Đăng Suyền phân tích rất hay và xúc động: “Nam Cao viết về cái đói, miếng ăn như một nỗi nhục nhã ê chề làm huỷ hoại cả nhân phẩm và nhân tính của con người. Ông nói tới miếng ăn như là cái nhục hơn là cái khổ, tuy đó là cái nhục của những người cùng khổ”25. Trần Đăng Suyền nhận xét tiếp: “Như vậy, qua cuộc đời và số phận của những con người nhẫn nhục, cam chịu, chấp nhận, Nam Cao đã nhìn thẳng vào sự bất công, phanh phui sự tàn nhẫn của cuộc đời cũ. Ông đã miêu tả một cuộc sống tối tăm, một hiện thực chua chát, ngột ngạt đến cái mức không còn đất sống yên ổn cho những người lương thiện… Có thể nói, con mắt hiện thực tỉnh táo của Nam Cao đã soi rọi một luồng ánh sáng hiện thực vào những tín điều và giáo điều của cả Phật giáo lẫn Thiên chúa giáo, qua đó phơi bày bản chất bất công của xã hội cũ. Đọc những tác phẩm này, ta không chỉ thấy được thái độ cảm thông, xót thương mà còn thấy rõ nỗi niềm trăn trở, day dứt khôn nguôi của Nam Cao trước cuộc đời và số phận bất hạnh của những con người khốn khổ đó”26. Những nhận định như vậy đã đạt đến chiều sâu nhân tính, chạm đến tư tưởng thẩm mĩ ẩn chìm của tác phẩm mà nói như V. Belinsky, phê bình chính là “ý thức triết học” của văn học. Trần Đăng Suyền đã ý thức được điều đó, chỉ ra tư tưởng triết học sâu thẳm của Nam Cao qua từng tác phẩm.

   Nếu nội dung cốt lõi của phương pháp sáng tác hiện thực là sự phân tích xã hội thì với Nam Cao, qua phân tích sâu các mối quan hệ trong tác phẩm Chí Phèo, Trần Đăng Suyền đã đi đến kết luận: “Chí Phèo là một hiện tượng nổi bật, kết tinh tư tưởng và tài năng nghệ thuật của Nam Cao, xứng đáng là một kiệt tác trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam”27. Với tác phẩm Đời thừa cũng thế: “Nam Cao đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa muôn thuở: Số phận của nghệ thuật chân chính và lý tưởng nhân đạo cao cả trước thử thách nghiệt ngã của cái đói, của “miếng ăn”, của gánh nặng áo cơm hàng ngày. Cả nghệ thuật chân chính, cả lý tưởng nhân đạo cao cả đều có nguy cơ chết mòn trước sự tấn công dai dẳng, quyết liệt của những cái hàng ngày vặt vãnh. Với ý nghĩa đó, Đời thừa còn là một tiếng kêu đau đớn, chân thành, khẩn thiết của Nam Cao - một tiếng kêu vượt ra ngoài thời đại của ông - đòi hỏi phải cứu lấy nghệ thuật chân chính và lý tưởng nhân đạo cao cả, phải tạo những điều kiện tối thiểu để cho nó có thể tồn tại, nảy sinh và phát triển trên mảnh đất này”28. Với Sống mòn, sau khi phân tích các mối quan hệ của người trí thức trong xã hội phong kiến, Trần Đăng Suyền cũng rút ra những đánh giá sâu sắc, mới mẻ: “Có thể nói Sống mòn và nhiều truyện ngắn viết về đề tài trí thức của Nam Cao đã thật sự trở thành tiếng khóc xót xa, ân hận về “cái chết của tâm hồn”, cái chết về tinh thần của cả một lớp người trong xã hội cũ. Cái chết ấy là biểu hiện cụ thể của tình trạng bế tắc không lối thoát của những người trí thức tiểu tư sản, đồng thời phản ánh sâu sắc bầu không khí ngột ngạt của một xã hội đang han rỉ và kiệt quệ về tinh thần, đang bị đe dọa nghiêm trọng trước thảm họa của đói rét và chiến tranh… Dù viết về đề tài người nông dân hay người trí thức, vượt lên trên ý nghĩa cụ thể của đề tài, sáng tác của Nam Cao thường chứa đựng một nội dung triết học sâu sắc, có khả năng khái quát những quy luật chung của cuộc sống như vật chất và ý thức, hoàn cảnh và con người, môi trường và tính cách”29. Tiếp nhận kết quả nghiên cứu của Trần Đăng Suyền, người đọc thỏa mãn nhu cầu nhận thức, giao tiếp và nhu cầu thưởng thức cái đẹp của nghệ thuật bất ngờ.

   Một trong nhiều thành công xuất sắc của Nam Cao là nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lý nhân vật. Trần Đăng Suyền đã chỉ ra một cách thuyết phục nghệ thuật vi diệu này của Nam Cao qua từng tác phẩm nhằm khẳng định vai trò của nhà văn trong việc hiện đại hóa nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, nhất là sự thức tỉnh ý thức cá nhân mà nhà văn đặt ra và khám phá những bí ẩn sâu kín bên trong nhân vật. Về mặt này, theo tác giả công trình, Nam Cao là nhà văn tiêu biểu nhất: “Nam Cao là cây bút, ở một mức độ và phương diện nào đó, đã kết tinh được thành tựu và thế mạnh của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Ngòi bút của ông vừa hướng tới việc miêu tả hiện thực đời sống xã hội, phản ánh những vấn đề xã hội đương thời theo khuynh hướng chung, đồng thời là thế mạnh của các nhà văn hiện thực; vừa đặc biệt nhạy cảm với vấn đề con người, tập trung bút lực vào việc diễn tả tinh tế, sâu sắc thế giới nội tâm của nhân vật, cái vốn là ưu thế của các cây bút lãng mạn. Ngòi bút Nam Cao vừa tôn trọng tính khách quan vốn là lẽ sống còn của chủ nghĩa hiện thực, vừa thẫm đẫm chất trữ tình, cái làm nên nét hấp dẫn của chủ nghĩa lãng mạn. Nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lý của Nam Cao đã đạt tới trình độ bậc thầy. Điều đó có cơ sở sâu sắc từ quan niệm nghệ thuật về con người của Nam Cao”30. Đây là nhận định chính xác và có phần phát hiện mới so với các nhà nghiên cứu đi trước để thấy rằng Nam Cao đã đến với chủ nghĩa hiện thực từ một phần của chủ nghĩa lãng mạn. Sự bổ sung, dung hợp này đã làm cho nghệ thuật miêu tả tâm lý của Nam Cao hấp dẫn và chân xác với cấu trúc tâm lý và cấu trúc sinh học của con người.

   Trần Đăng Suyền đã chỉ ra đúng thi pháp của chủ nghĩa hiện thực nói chung và của Nam Cao nói riêng: “Trong sáng tác của Nam Cao, tâm hồn con người là sân khấu bi kịch và bi hài kịch của những xung đột tư tưởng. Thi pháp chủ nghĩa hiện thực tâm lý của Nam Cao thích ứng với việc nghiên cứu, phân tích và khám phá bằng nghệ thuật tâm lý của nhân vật hơn là việc phân tích và miêu tả những biến cố, xung đột của chính bản thân đời sống xã hội. Đối với Nam Cao, sự phân tích tâm lý hầu như là điều kiện cơ bản nhất của việc thể hiện con người theo phương pháp hiện thực có chiều sâu của ông. Nam Cao đã lấy thế giới nội tâm nhân vật làm đối tượng chính của sự miêu tả. Ông đã hướng ngòi bút của mình vào việc khám phá con người trong con người, miêu tả và phân tích mọi biểu hiện, mọi chiều sâu và mọi chuyển biến trong thế giới tâm hồn của nhân vật”31.

   Mỗi nhân vật của Nam Cao với quá trình phát triển tính cách logic, biện chứng được tác giả công trình lý giải, nhận xét khá chính xác và tương thích với yêu cầu của chủ nghĩa hiện thực: “Ngòi bút của Nam Cao có khả năng miêu tả trực tiếp cả quá trình vận động và phát triển của tâm lý, tính cách nhân vật. Sức mạnh và chiều sâu của chủ nghĩa tâm lý trong sáng tác Nam Cao còn được thể hiện ở chỗ quá trình tâm lý của nhân vật được ông thể hiện như là quá trình đấu tranh, sự chuyển hóa lẫn nhau của những mâu thuẫn, những mặt đối lập trong thế giới tâm hồn của mỗi con người. Xung đột chủ yếu trong những tác phẩm của Nam Cao là xung đột của thế giới nội tâm nhân vật. Và những sự kiện cũng được triển khai chủ yếu trên cái nền xung đột bên trong đó. Nhìn chung, trong mỗi nhân vật của Nam Cao luôn tồn tại hai khuynh hướng đấu tranh với nhau, phủ định lẫn nhau: khuynh hướng sống cho sướng hơn và khuynh hướng sống sao cho tốt hơn, có ích, có ý nghĩa hơn. Dường như mỗi tác phẩm viết về đề tài trí thức tiểu tư sản của ông đều thể hiện một cuộc đấu tranh triền miên, căng thẳng của tư tưởng, sự giằng xé phức tạp, quyết liệt của tâm trạng diễn ra trong tâm hồn của mỗi con người giữa chủ nghĩa nhân đạo cao cả và chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, giữa niềm mơ ước và sự tuyệt vọng, giữa sự thèm khát lối sống tư sản phàm tục và lòng căm thù cách sống đó, giữa thái độ buông xuôi theo lối sống mòn thảm hại và sự vùng vẫy muốn thoát ra khỏi tình trạng chết mòn... Nam Cao vượt lên hẳn các cây bút đương thời ở khả năng nhìn thấy sự vận động của tâm lý con người”32. Trần Đăng Suyền rất chính xác khi xác quyết rằng đây là bước tiến đáng kể của tài năng Nam Cao, minh chứng cho sự vận động và phát triển của thể loại văn xuôi hiện thực ở nước ta đầu thế kỷ XX.

   Phần cuối của công trình Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Trần Đăng Suyền dành công sức để nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong sáng tác của nhà văn hiện thực xuất sắc này trong dòng chung văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

   Một nhà văn lớn và có ý thức sáng tạo mãnh liệt như Nam Cao, hẳn nhiên ông có quan niệm và chiến lược trần thuật vững chắc cho mình. Là nhà văn hiện thực nên ông luôn đứng ở vị trí trần thuật khách quan với đặc điểm và phong cách riêng để khắc họa nhân vật và miêu tả tâm lý của nhân vật một cách bản lĩnh, chân thật và xúc động như Trần Đăng Suyền đã nhận định: “Bản lĩnh khách quan của người trần thuật Nam Cao được bộc lộ rõ hơn bao giờ hết khi cầm con dao giải phẫu sắc nhọn của chủ nghĩa hiện thực để lách sâu vào cả những ngóc ngách sâu kín nhất của tâm hồn những nhân vật trí thức tiểu tư sản - những Điền, những Hộ, những Thứ - những nhân vật đối với nhà văn còn hơn cả sự gần gũi thân thiết mà là hiện thân của chính tâm hồn, máu thịt của ông. Nam Cao không ngần ngại phanh phui, mổ xẻ, phơi bày một cách thẳng tay, tàn nhẫn những suy nghĩ, những tính toán nhỏ nhen, đầy vị kỷ, đáng xấu hổ của những con người vừa đáng giận, vừa đáng thương này. Với quan điểm trần thuật này, người trần thuật trong sáng tác của Nam Cao luôn có ý thức tách mình khỏi nhân vật, trần thuật từ ngôi thứ ba không nhân vật hóa, đặt điểm nhìn từ bên ngoài, để có thể tỉnh táo nhìn thẳng, làm nổi rõ những sự thật trần trụi, “tàn nhẫn” của hiện thực… Dường như ông càng tỏ ra khách quan, lạnh lùng, tàn nhẫn bao nhiêu thì tình cảm của ông đối với con người càng chan chứa yêu thương, đằm thắm và sâu sắc bấy nhiêu”33. Chính cách trần thuật này đã quy định sự khác nhau giữa Nam Cao với Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…

   Bên cạnh kiểu trần thuật khách quan là kiểu trần thuật theo quan điểm của nhân vật. Đây là kiểu trần thuật người trần thuật không phải là nhân vật “tôi” kể chuyện trực tiếp mà vẫn tồn tại như một chủ thể độc lập với nhân vật. Anh ta chỉ lẩn sau nhân vật, trần thuật bằng lời nói, ngữ điệu và giọng điệu của nhân vật. Chính kiểu trần thuật này đã hiện lên hình tượng người kể với cá tính và tình người rất xúc động: “Nhìn chung, những tác phẩm được trần thuật theo quan điểm của nhân vật “tôi” đều chứa chan nỗi niềm của người kể chuyện. Ở những tác phẩm này, người trần thuật hiện lên qua một bức chân dung tinh thần tự họa mà linh hồn của bức chân dung ấy là những cảm xúc, tình cảm, là những trăn trở, suy tư để “cố tìm mà hiểu” con người và cuộc đời. Có thể nói, hóa thân thành một nhân vật văn học, dẫn dắt câu chuyện từ cái nhìn của nhân vật “tôi” là phương thức thuận lợi để nhà văn nói cho đã, cho thỏa những trạng thái tình cảm, những suy ngẫm sâu sắc của mình về con người và cuộc đời”34.

   Trần Đăng Suyền rất nhạy bén trong cảm quan nghiên cứu nên đã phát hiện và chứng minh một cách thuyết phục kiểu trần thuật này trong tác phẩm của Nam Cao: “Như vậy, quy luật vận động của quan điểm trần thuật trong sáng tác Nam Cao là từ quan điểm trần thuật khách quan, từ điểm nhìn bên ngoài đến trần thuật theo quan điểm nhân vật, từ quan điểm của nhân vật này chuyển sang quan điểm của nhân vật khác. Quy luật vận động đó thể hiện ý thức nghệ thuật thường trực của một nhà văn luôn mong muốn khám phá “con người trong con người”, hướng tới cái đích thể hiện sự phong phú, phức tạp và chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn nhân vật. Việc sử dụng linh họat nhiều phương thức trần thuật chẳng những tạo điều kiện cho Nam Cao thâm nhập sâu sắc nhất vào thế giới bên trong của con người mà còn mở ra khả năng to lớn trong việc nắm bắt những tính cách phức tạp, chứa đựng mâu thuẫn, không ngừng vận động và phát triển”35. Giải mã, chỉ ra được quan điển trần thuật nói trên, tác giả công trình một lần nữa đã đi đến đích của việc tìm hiểu phong cách hiện thực của Nam Cao gây bất ngờ trong tầm đón đợi của người đọc.

   Một bình diện quan trọng nữa trong chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, đó là giọng điệu trần thuật. Đây là yếu tố quan trọng để nhận ra phong cách nghệ thuật của tác giả, đặc biệt là những tác giả lớn như Nam Cao: “Cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Nam Cao là niềm khát khao cháy bỏng con người được sống xứng đáng với danh hiệu cao quý của con người, được sống lương thiện, được phát triển đến “tận độ” những khả năng của loài người chứa đựng ở trong mỗi con người dẫn đến nỗi đau đớn khôn nguôi trước tình trạng con người bị xúc phạm về nhân phẩm, bị hủy hoại về nhân tính, bị bóp chết mọi mơ ước và tài năng, bị đẩy vào tình trạng sống mòn không có lối thoát. Xuất phát từ tư tưởng cao sâu đó về cuộc sống có ý nghĩa của con người, nhân loại trong cách nhìn của Nam Cao đang lâm vào tình trạng bị huỷ hoại về nhân tính, bị chết mòn về tinh thần, chết khi đang sống. Cảm hứng chủ đạo ấy, cách nhìn cuộc đời ấy đã tạo nên giọng điệu chủ yếu trong sáng tác Nam Cao: giọng điệu buồn thương, chua chát”36. Từ giọng điệu chủ ấy, Nam Cao hình thành nên kiểu giọng điệu khác nữa, đó là giọng buồn thương chua chát: “Nam Cao viết văn bằng cả trái tim thiết tha sôi nổi và bộ óc tỉnh tảo, sắc sảo của mình. Văn Nam Cao có sự kết hợp nhuần nhị giữa cảm xúc và lý trí. Ông không chỉ xót thương đối với những kiếp người nhỏ bé, những con người dưới đáy của xã hội mà còn đầy day dứt, trăn trở, ráo riết truy tìm nguyên nhân của những tấn bi kịch không lối thoát của con người. Chính điều đó đã làm cho giọng điệu chủ đạo của ông - giọng buồn thương chua chát không mang sắc thái cảm tính mà nặng trĩu những suy ngẫm triết lý sâu xa. Đọc Nam Cao, ta cũng thường bắt gặp một giọng điệu có những sắc thái tưởng chừng đối lập nhau. Ấy là giọng điệu khách quan lạnh lùng mà đầy thương cảm, đằm thắm yêu thương. Ở đây, sắc thái khách quan, dửng dưng, lạnh lùng chỉ là cái vẻ ngoài, còn sâu kín bên trong là thái độ, tình cảm đầy cảm thông, thương xót. Sử dụng sắc thái giọng điệu khách quan, lạnh lùng, tàn nhẫn bên ngoài cũng là một cách “ngụy trang” của Nam Cao nhằm tái hiện đời sống theo nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực”37. Những nhận định như trên của Trần Đăng Suyền đều xuất phát từ sự đào sâu tác phẩm và nhạy bén phát hiện ra những đặc điểm mà chỉ Nam Cao mới có, khác và mới so với các nhà văn hiện thực khác.

   Cùng với hai kiểu giọng điệu trên là giọng điệu triết lý, suy ngẫm – giọng chủ đạo làm nên phong cách độc đáo của Nam Cao. Trần Đăng Suyền đã đúc kết về tính chất của giọng điệu này một cách bản chất như sau: “Cùng với việc miêu tả cuộc sống một cách cụ thể, tạo ra những trang viết giàu chi tiết chân thực, sống động, sáng tác của Nam Cao luôn có khuynh hướng phát biểu bằng cách này hay cách khác những nhận xét, những suy tưởng có tính chất khái quát về con người và cuộc đời. Nam Cao thường hay nói khái quát, thường xuất phát từ tầng cá nhân mà nói chung thành tầng nhân loại, từ một con người cụ thể mà nói về một loại người, một kiểu người... Cách nói quen thuộc của Nam Cao là từ một người nói thành tất cả mọi người, từ một người đàn ông nói thành tất cả đàn ông, từ một người đàn bà nói thành tất cả đàn bà, từ một thằng say nói thành tất cả những thằng say, từ một kẻ đang yêu nói thành tất cả những kẻ đang yêu, từ một giọt nước mắt của một người nói thành “những giọt châu” của loài người... Bằng cách nói ấy, Nam Cao muốn thâu tóm tất cả, thâu tóm những cái chung, cái phổ biến, cái mang tính quy luật của cuộc sống. Khuynh hướng này đã tạo nên màu sắc triết lý, giọng điệu triết lý trong sáng tác của Nam Cao”38. Lại nữa: “Giọng triết lý của Nam Cao tuy thấm đượm buồn thương nhưng không hề bị lụy. Trái lại, cái giọng triết lý ấy, ngay cả khi nói về đời, về kiếp như nâng đỡ ta đứng cao hơn những mẩu đời chật hẹp, gợi cho ta sức nghĩ xa hơn và tầm nhìn rộng hơn toàn bộ những kiếp người, một nhân loại đang quằn quại, đau đớn trước thảm cảnh “chết mòn”. Triết lý tình thương của Nam Cao có ý nghĩa tích cực, bởi vì nó mách bảo con tim chúng ta yêu ghét một cách sáng suốt hơn”39. Đây là nhận định rất mới và rất hay để thấy biệt tài về ngôn ngữ và phân tích tâm lý – một đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa hiện thực Nam Cao.

   Trần Đăng Suyền còn đề cập đến giọng điệu hài hước, giễu nhại, châm biếm như là giọng điệu tự nhiên tồn tại trong cấu trúc nhân cách người để tạo nên sự tổng hợp con người sinh học và con người xã hội trong từng nhân vật của Nam Cao: “Sáng tác của Nam Cao thẫm đẫm chất bi, nhưng còn có cả chất hài thể hiện rất rõ nét phong cách nghệ thuật độc đáo của ông. Qua cái hài, Nam Cao thể hiện sâu sắc và thấm thía tình trạng đã chết trong một cơ thể đang sống. Trong sáng tác của ông, cái hài đã thâm nhập vào chỗ sâu kín nhất là tâm lý, quá trình tâm lý của nhân vật”40.

   Cuối cùng, Trần Đăng Suyền đã xâu chuỗi logic và nhân quả vấn đề để nhận xét tổng hợp về giọng điêu nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao một cách mới mẻ và bản chất: “Thật khó có thể nắm bắt đầy đủ những giọng điệu trong sáng tác Nam Cao. Tuy nhiên, ta có thể cảm nhận được những giọng điệu chủ yếu: giọng buồn thương, chua chát; giọng khách quan, lạnh lùng mà đầy thương cảm, đằm thắm yêu thương; giọng triết lý, suy ngẫm sâu xa và giọng hài hước, mỉa mai, tự trào cười ra nước mắt. Trong hệ thống giọng điệu đó, giọng buồn thương, chua chát chính là giọng chủ đạo. Giọng điệu chủ đạo này thường được kết hợp với những giọng điệu khác để tạo nên tính chất đa giọng điệu trong tác phẩm của ông. Ngôn ngữ văn xuôi của Nam Cao ít nhiều mang tính chất phức điệu và cùng với nó là tính chất đối thoại nội tại – một đặc điểm hiếm thấy trong văn xuôi Việt Nam trước Cách mạng. Điều đó có nguồn gốc từ cách nhìn con người và cuộc đời có chiều sâu, không bao giờ một chiều, phiến diện của Nam Cao. Do cách nhìn ấy nên ông cũng thường trần thuật bằng nhiều quan điểm khác nhau, trong đó, nổi bật lên một chủ thể trần thuật vừa lạnh lùng, nghiêm khắc, vừa đầy cảm thông, thương xót. Những nhân vật của ông, nhìn chung, đều có tiếng nói riêng, giọng điệu riêng và giọng điệu ấy lại đổi thay theo từng hoàn cảnh, phù hợp với những tâm trạng cụ thể. Nghĩ cho cùng, sức hấp dẫn của giọng điệu trần thuật trong sáng tác Nam Cao là do khả năng nhập sâu vào thế giới tâm hồn của nhân vật để tái hiện “những tiếng nói khác nhau” trong quá trình trần thuật”41. Những đúc rút như thế của nhà phê bình đồng sáng tạo Trần Đăng Suyền giúp người đọc càng hiểu hơn về tư tưởng nhân đạo của Nam Cao và càng yêu quý Nam Cao.

   Từ những tìm hiểu về nghệ thuật trần thuật như trên, Trần Đăng Suyền cũng đã sắc sảo nhận ra nhịp điệu trần thuật trong tác phẩm Nam Cao – điều mà các công trình trước đây không hề chú ý. Vì vậy mà người đọc không cảm nhận được tình cảm và suy nghĩ của nhà văn về sự vận động của nhân vật, của sự sống và của môi sinh đang không ngừng biến đổi với những tình tiết, biến cố và tốc độ như thế nào: “Điều kỳ diệu là, nhịp điệu trần thuật trong sáng tác của Nam Cao đã góp phần không nhỏ để tạo nên một ấn tượng rất sâu, đầy ám ảnh về nhịp điệu cuộc đời trong thế giới nghệ thuật của ông. Lắng nghe những câu chuyện của Nam Cao, ta có thể nhận ra nhịp điệu trần thuật trong nhiều tác phẩm của ông linh hoạt, sinh động và hấp dẫn. Nhịp điệu ấy khi căng, khi chùng, khi thong thả, khi gấp gáp. Nhưng chủ yếu vẫn là giọng chùng tạo nhịp điệu chậm chạp, nặng nề – một nhịp điệu bị kìm hãm lại, chậm lại bởi nhiều yếu tố. Nhịp điệu ấy chính là sự phản ánh nhịp điệu cuộc đời theo quan niệm của ông, đang chảy trôi “theo những định luật chưa bao giờ lay chuyển được”. Nó cứ chảy trôi, khi thì tỉ tê, đều đều, chậm chạp, khi thì trì trệ, nặng nề, mòn mỏi như nhịp điệu cuộc sống quẩn quanh, bế tắc của những kiếp lầm than, của những kiếp sống mòn chết ngay khi đang sống”42. Đây là thành công bổ sung rất hay và rất có ý nghĩa của tác giả chuyên luận mà trước đây nhiều nhà nghiên cứu không chú ý tìm hiểu.

***

   Nếu động lực và mục tiêu của phê bình là lòng khát khao thưởng thức, hiểu và giải mã tác phẩm bằng cảm quan nghiên cứu và tài năng của người thưởng thức để thông điệp, chia sẻ với người đọc về cái hay, cái đẹp của văn chương thì quả thật qua công trình Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Trần Đăng Suyền đã đạt mục tiêu đó một cách khoa học và mĩ học với tư cách là người trung gian, bắc cầu giữa tác phẩm của Nam Cao với người đọc một cách sáng tạo và hiệu quả. Qua công trình này, người đọc được thỏa mãn nhu cầu nhận thức và nhu cầu thẩm mĩ về toàn bộ sáng tác của một nhà văn xuất sắc, nhà tư tưởng lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Bằng hướng tiếp cận bản chất của quá trình sáng tạo, căn cứ ở tác phẩm, đối chiếu với phương pháp sáng tác hiện thực, nhà nghiên cứu mẫn cảm Trần Đăng Suyền đã thực sự thâm nhập sâu vào thế giới nghệ thuật của Nam Cao để giải mã chỉnh thể tác phẩm và chỉ ra được phong cách của nhà văn, chứng minh ông là nhà văn nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc, đồng thời là nhà văn vừa sáng tác vừa đưa nền văn học dân tộc tiến về phía trước. Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao đã bổ sung những khía cạnh mới mẻ cho chủ nghĩa hiện thực truyền thống ở phương Đông và phương Tây nhiều phương diện mà chỉ đến thời đại Nam Cao mới xuất hiện và được ông chiếm lĩnh, đưa vào tác phẩm thành hình tượng nghệ thuật điển hình đầy sức ám ảnh nhân sinh. Nam Cao là nhà văn hiện thực thiên tài: “Và nếu như thiên tài là đi trước thời đại và có tính hiện đại, là vượt qua được thử thách khắc nghiệt của thời gian, là độc đáo, duy nhất, là không lặp lại được thì đối với nền văn học đại Việt Nam, hai chữ ấy phù hợp với Nam Cao”43. Qua công trình Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Trần Đăng Suyền thực sự là nhà phê bình văn học tài hoa, tinh tế, đạt phong cách vững chắc, đem lại những giá trị khoa học mới mẻ, hiện đại, góp phần làm mới và phong phú thêm lịch sử tiếp nhận di sản nghệ thuật của Nam Cao ở Việt Nam.

 

 

 

Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43 Trần Đăng Suyền (2008), Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao (tái bản lần 3), NXB. Khoa học xã hội, tr. 18, 25, 26, 31, 37, 39-40, 45, 43-44, 47, 49-50, 62-63, 63-64, 73-74, 74, 82, 96, 96-97, 103-104, 106, 109-110, 113, 119, 120, 125, 132, 139-140, 154, 163, 169, 175, 178, 190-191, 208-209, 219, 228, 234, 240, 248, 256, 257, 271, 282, 291.

Bình luận

    Chưa có bình luận