KHÔNG GIAN THẢO NGUYÊN TRONG TẬP TRUYỆN ''GIAMILIA – TRUYỆN NÚI ĐỒI VÀ THẢO NGUYÊN'' CỦA CHINGIZ AITMATOV

Trên cơ sở khảo sát vai trò của không gian thảo nguyên trong tập truyện ''Giamilia – Truyện núi đồi và thảo nguyên'' của Chingiz Aitmatov từ góc nhìn thi pháp học, bài viết góp phần làm rõ ý nghĩa quan trọng của không gian nghệ thuật trong việc thể hiện tư tưởng nhân văn và phong cách sáng tác của nhà văn.

Trong dòng chảy của văn học hiện đại thế kỷ XX, Chingiz Aitmatov là một trong những đại diện kiệt xuất của nền văn học Xô viết. Ông là người đã đưa tâm hồn và bản sắc văn hóa vùng thảo nguyên Kyrgyzstan hòa chung vào mạch nguồn tinh thần của toàn nhân loại. Bước vào con đường văn chương từ những năm 1950, tên tuổi của Aitmatov nhanh chóng được khẳng định vững chắc thông qua hàng loạt tác phẩm thấm đẫm cảm hứng sử thi, chất trữ tình đằm thắm và chiều sâu  triết luận.

Trong sự nghiệp sáng tác của ông, tập truyện Giamilia – Truyện núi đồi và thảo nguyên (xuất bản lần đầu năm 1958) giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Tập truyện được coi là kết tinh của tư tưởng nhân văn cao cả, khẳng định khát vọng tự do, quyền được sống và yêu thương của con người trước những tập tục, định kiến. Sức lay động mạnh mẽ cùng giá trị thẩm mĩ vượt thời gian của tác phẩm này đã vượt qua mọi ranh giới quốc gia, khiến nhà thơ Pháp nổi tiếng Louis Aragon khi dịch tác phẩm sang tiếng Pháp vào năm 1959 đã không ngần ngại ngợi ca ngay trên bìa sách bằng một nhận định bất hủ: “Câu chuyện tình yêu đẹp nhất thế giới”. Chính vì vậy, thế giới nghệ thuật của Chingiz Aitmatov đã trở thành đối tượng của nhiều công trình phê bình, lý luận tầm cỡ cả trong và ngoài nước suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Trên bình diện quốc tế, nhà nghiên cứu phương Tây Joseph P. Mozur trong công trình Parables from the Past: The Narrative Art of Chingiz Aitmatov1, đã đi sâu giải mã cấu trúc biểu tượng và dụng ngôn để cảnh báo về sự suy thoái đạo đức khi con người cắt đứt sợi dây liên kết với quá khứ và thiên nhiên. Trong khi đó giới phê bình Nga như G. D. Gachev trong cuốn Chingiz Aitmatov (Trong thế giới nghệ thuật)2 lại đặc biệt nhấn mạnh tính độc đáo của nhà văn trong việc hiện đại hóa các giá trị cổ xưa, biến huyền thoại thành một phương thức tư duy hiện đại để giải quyết các vấn đề vĩnh cửu của nhân loại. Tại Việt Nam, việc tiếp nhận Aitmatov được mở rộng mạnh mẽ qua các chuyên luận của Nguyễn Hải Hà3 về sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố trữ tình và sử thi, Phan Hồng Giang4 về bài học đạo đức ẩn chứa trong hình tượng nhân vật, Nguyễn Thị Vân5 về hình tượng người phụ nữ giải phóng hay Trần Bảo Thụy6 tập trung vào cấu trúc không gian - thời gian nghệ thuật. Tuy nhiên, các công trình trên thường có xu hướng tách rời từng khía cạnh nội dung hoặc hình thức, khiến việc hệ thống hóa toàn diện các phương diện nghệ thuật trong một chỉnh thể thống nhất của tập truyện vẫn còn là một khoảng trống lý luận cần được lấp đầy.

Xuất phát từ tình hình nghiên cứu trên, chúng tôi xác định mục tiêu cụ thể nhằm phân tích, làm rõ và hệ thống hóa vai trò, chức năng của không gian thảo nguyên trong thế giới nghệ thuật của tập truyện Giamilia – Truyện núi đồi và thảo nguyên. Không gian thảo nguyên không chỉ tồn tại đơn thuần là nơi chứa đựng sự vật hay bối cảnh địa lý khách quan mà nó chính là một phạm trù thi pháp then chốt, một biểu tượng nghệ thuật gắn kết mật thiết với quá trình vận động tâm lý để phản chiếu chiều sâu tâm hồn con người, khát vọng giải phóng cá nhân và tư tưởng nhân văn của nhà văn Kyrgyzstan.

1. Không gian nghệ thuật trong văn học

Trong hệ thống lý luận văn học hiện đại, không gian nghệ thuật được nhìn nhận như một thành tố cơ bản, một phạm trù cấu trúc cốt lõi định hình nên chỉnh thể thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Không gian nghệ thuật là mô hình thế giới được người nghệ sĩ sáng tạo ra bằng ngôn từ, mang tính chủ quan và tính thẩm mĩ sâu sắc. Giáo sư Trần Đình Sử trong công trình về thi pháp học văn học đã khẳng định mang tính bản chất rằng: “Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật (...) Nó không phải là không gian vật lý khách quan mà là không gian đã được trải nghiệm qua cảm xúc, mang ý nghĩa thẩm mỹ”7.

Điều này đồng nghĩa với việc, một khi bước vào tác phẩm văn học, mọi tọa độ địa lý, mọi sự vật từ con đường, ngôi nhà cho đến bầu trời, dòng sông đều đã được thanh lọc và tái cấu trúc thông qua lăng kính tư tưởng của nhà văn. Bản chất của không gian nghệ thuật chính là sự hòa quyện giữa cái thực tại và cái tưởng tượng, giữa cái khách quan của đời sống và cái chủ quan của người sáng tạo. Nhà lý luận Mikhail Bakhtin khi đề xuất khái niệm “Chronotope” (thời - không gian) cũng chỉ ra tính không thể tách rời của thành tố này trong cấu trúc tác phẩm: “Trong thời - không gian nghệ thuật văn học, các yếu tố không gian và thời gian hòa quyện với nhau thành một chỉnh thể cụ thể, thống nhất (...) không gian trở nên đậm đặc hơn, được cuốn vào dòng chảy của thời gian, của cốt truyện, của lịch sử”8. Do đó, không gian nghệ thuật chính là bệ đỡ, là môi trường sinh tồn và là phương thức để các nhân vật cùng các hiện tượng thẩm mĩ trong tác phẩm bộc lộ trọn vẹn quy luật vận động của mình. Không dừng lại ở chức năng định vị bối cảnh hay che chở cho nhân vật,

không gian nghệ thuật đóng vai trò như một phương thức quan trọng để nhà văn phát ngôn và biểu đạt tư tưởng, triết lý nhân sinh của tác phẩm. Thông qua việc tổ chức các mô hình không gian, tác giả gián tiếp thể hiện quan niệm của mình về vũ trụ, xã hội và số phận con người. Nhà cấu trúc luận Iu. M. Lotman trong cuốn Cấu trúc văn bản nghệ thuật đã làm sáng tỏ vai trò mô hình hóa này: “Không gian nghệ thuật không phải là một bản sao đơn giản của không gian thực tế, mà là một mô hình ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện quan niệm của tác giả về thế giới. Bản thân cấu trúc không gian của văn bản mang tính chất mô hình hóa: sự đối lập trên/dưới, trong/ngoài, đóng/ mở... đều mang ý nghĩa văn hóa, đạo đức và triết học”9.

Giáo sư Phương Lựu nhận định rằng văn học luôn có xu hướng biến không gian cụ thể thành những ẩn dụ lớn về số phận, về sự giải phóng hoặc giam cầm tư tưởng con người10. Nói cách khác, thông qua cấu trúc của không gian, người đọc có thể giải mã được những thông điệp ngầm ẩn, những suy tư sâu kín nhất của nhà văn về thời đại và con người mà nếu chỉ dựa vào hành động ngôn ngữ của nhân vật thì chưa thể hiện trọn vẹn được.

2. Không gian thảo nguyên trong tập truyện

Trong thế giới nghệ thuật của tập truyện Giamilia – Truyện núi đồi và thảo nguyên, không gian thiên nhiên trước hết vận hành như một tấm gương phản chiếu tinh tế, đồng điệu sâu sắc với từng bước đi uyển chuyển trong tâm trạng nhân vật. Ở tầng bậc này, cảnh sắc thảo nguyên không tồn tại khách quan, vô tri mà luôn biến đổi sắc thái, màu sắc và thời tiết theo quy luật của “tả cảnh ngụ tình” nhằm vật chất hóa những góc khuất tinh vi nhất trong nội tâm con người. Triết lý thẩm mĩ ấy kết tinh rõ nét qua hình tượng hai cây phong trên đỉnh đồi trong tác phẩm Người thầy đầu tiên. Dưới ngòi bút lãng mạn của Aitmatov, hai cây phong mang nhịp đập của một sinh thể đa cảm, biết sẻ chia buồn vui cùng số phận con người khi cuộc sống của thầy trò Duysen ngập tràn niềm tin về tri thức, hai cây phong hiện ra đầy bao dung: “nghiêng ngả đung đưa muốn chào mời chúng tôi đến với bóng râm mát rượi và tiếng lá xào xạc dịu hiền”11, thế nhưng, khi hủ tục tàn bạo ập đến cướp đi cô bé Antunai tội nghiệp, không gian lập tức nhuốm màu tang tóc, tiếng lá reo bỗng chốc chuyển thành khúc nhạc chiêu hồn tê tái, vọng lên những thanh âm “buồn bã như vậy… sầu muộn mà nỉ non rầu rĩ… Hay nỗi đau buồn của dân ta đang rên rỉ trong thân cây”12.

Đối với truyện Người thầy đầu tiên, không gian thảo nguyên bao la gắn liền với bản làng Kurkureu thời kỳ đầu sau Cách mạng Tháng Mười lại là nơi diễn ra cuộc chiến cam go giữa ánh sáng tri thức và bóng tối của hủ tục lạc hậu. Thảo nguyên ở đây ban đầu hiện lên với sự hoang sơ, bị chia cắt bởi những thung lũng sâu và “những mùa đông tuyết phủ trắng xóa”, phản ánh sự biệt lập về mặt nhận thức của người dân bộ tộc13. Trên cái nền không gian mênh mông nhưng tù túng về tư tưởng ấy, ngôi trường của thầy Duysen thực chất chỉ là một cái “chuồng ngựa cũ” của một địa chủ bỏ hoang trên đồi cao14 nhưng lại hiện lên như một ngọn hải đăng biểu tượng.

Hình ảnh thầy Duysen “bế từng đứa trẻ lội qua dòng suối mùa đông buốt giá” giữa thảo nguyên lộng gió để đến lớp học15 là một biểu tượng nghệ thuật vô cùng cảm động về sự kết nối con người. Thảo nguyên đầy giông bão cố gắng ngăn cản bước chân con người, nhưng chính tại nơi đó, hai cây phong trên đồi cao biểu tượng tinh thần xuyên suốt tác phẩm đã cắm rễ sâu vào lòng đất thảo nguyên, reo vui trước gió như vẫy chào một thế giới mới16. Nhờ mái trường của Duysen, không gian thảo nguyên mở ra con đường dài dẫn Antunai lên sân ga, hướng về thủ đô để trở thành một nhà khoa học. Thảo nguyên trong tác phẩm này chính là cái nôi nuôi dưỡng những hạt mầm cách mạng, biểu tượng cho khát vọng đổi đời và sức mạnh vĩ đại của tình thầy trò.

Đến với Cây phong non trùm khăn đỏ, không gian thảo nguyên lại chuyên chở nỗi buồn trĩu nặng của hoài niệm và sự nuối tiếc muộn màng trong lòng người lái xe Ilyas khi hạnh phúc gia đình đổ vỡ. Sắc thái trầm tư, xao xuyến của tâm cảnh được cụ thể hóa bằng nhịp điệu lạnh lẽo của tự nhiên: “Chiều xuống rất nhanh trên thảo nguyên, gió từ núi thổi về lạnh buốt…”17. Cái lạnh cắt da của ngọn gió ngàn và bóng tối đổ ập nhanh chóng của đất trời chính là hiện thân cho sự trống rỗng, cô đơn cùng cực của một tâm hồn lầm lạc đang đứng lặng lẽ bên lề hạnh phúc vĩnh viễn mất đi.

Không gian thảo nguyên và những cung đường đèo hiểm trở vùng Thiên Sơn lại mang ý nghĩa biểu tượng về hành trình tìm kiếm tình yêu, những sai lầm tuổi trẻ và sự thức tỉnh muộn màng. Thảo nguyên trong tác phẩm gắn liền với buồng lái xe tải của chàng tài xế trẻ Ilyas, một không gian động, dịch chuyển liên tục, tượng trưng cho tính cách phóng khoáng, tự cao và thích chinh phục của tuổi trẻ. Chính trên cung đường thảo nguyên bao la ấy, Ilyas đã gặp Asel cô gái nhỏ nhắn quấn chiếc khăn đỏ, hiện thân cho vẻ đẹp thuần khiết, dịu dàng của hoa cỏ thảo nguyên. Không gian thảo nguyên lộng gió và những thung lũng xanh mướt ban đầu là thánh đường của một tình yêu lãng mạn, khi Ilyas đón Asel trốn chạy khỏi gia đình để xây dựng tổ ấm. Thế nhưng, khi Ilyas đánh mất mình vì sự kiêu ngạo, gây ra tai nạn trên đèo dốc và phản bội lòng tin của vợ, không gian thảo nguyên bỗng chốc co hẹp lại, trở nên lạnh lẽo và đầy bão tuyết. Sự cô đơn của Ilyas khi mất Asel hiện hình qua những chuyến xe đơn độc lao đi trong đêm thâu trên thảo nguyên mịt mùng bụi đỏ. Hình ảnh cây phong non trùm khăn đỏ đứng trơ trọi giữa đất trời thảo nguyên không chỉ là biểu tượng của Asel kiên cường bước qua đau thương, mà còn là biểu tượng cho nỗi hoài niệm, sự sám hối khôn nguôi của Ilyas. Thảo nguyên ở đây đã chứng kiến trọn vẹn bi kịch của hạnh phúc: nó bao dung mở ra lối đi cho tình yêu nhưng cũng nghiêm khắc ghi lại những vết rạn vỡ do chính con  người tạo ra.

Trong truyện vừa Mắt lạc đà, không gian thảo nguyên Anarkhai (Thung lũng Chết) hiện lên ở lớp nghĩa hiện thực là một vùng đất vô cùng khắc nghiệt, khô cằn và hoang vu, nhưng ở lớp nghĩa biểu tượng, nó chính là trường đoạn thử thách bản lĩnh, khát vọng cống hiến và sự trưởng thành của thế hệ trẻ. Rời bỏ thủ đô phồn hoa, chàng thanh niên Kemen bước ra thảo nguyên bao la với lý tưởng của một trí thức trẻ muốn thuần phục tự nhiên. Không gian nơi đây đầy nắng cháy, gió bụi và những cơn bão cát dữ dội, đối lập hoàn toàn với cuộc sống êm đềm trước đó của cậu. Biểu tượng trung tâm của không gian này chính là suối nguồn “Mắt lạc đà”, giọt nước hiếm hoi, trong vắt giữa lòng thảo nguyên khô khốc18. Nguồn nước ấy vừa là sự dung dưỡng của thiên nhiên, vừa là nơi chứng kiến cuộc đụng độ nảy lửa về mặt tư tưởng giữa một Kemen chính trực, tràn đầy lý tưởng và một Abakir ích kỷ, mang nặng đầu óc tư hữu, tàn nhẫn. Khi Abakir độc chiếm nguồn nước và đẩy Kemen vào thế cô độc giữa cái nắng cháy da thịt của thảo nguyên, không gian ấy biến thành một pháp trường tâm lý khốc liệt. Thế nhưng, chính sự bao la, cô quạnh của thảo nguyên Anarkhai đã không quật ngã được Kemen. Ngược lại, nó tôi luyện cho cậu một ý chí sắt đá. Việc Kemen quyết tâm bám trụ, bảo vệ con suối và tiếp tục lái máy cày “lật từng vạt đất thảo nguyên”19 đã nâng tầm không gian nơi đây thành biểu tượng của sự chiến thắng của cái thiện, của khát vọng lao động chân chính trước sự khắc nghiệt của tự nhiên và sự tha hóa của con người. Sự phản chiếu tâm trạng được dồn nén trong khoảnh khắc nhân vật Kemen đối diện với sự đơn độc và thô bạo của lòng người giữa thảo nguyên tĩnh mịch. Khi nỗi đau khổ dâng tràn khiến anh phải “ngồi xuống và bỗng bật lên khóc... những tiếng nấc nghẹn ngào làm người tôi rung lên”20, chính không gian tĩnh lặng của sa mạc bao la đã xoa dịu vết thương thể xác, lau đi những giọt nước mắt của anh để gạn đục khơi trong cho một ý chí sắt đá chuẩn bị trỗi dậy.

Không gian thảo nguyên trong văn xuôi Aitmatov còn vận hành như một sự mở rộng, kéo dài mang tính bản thể của đời sống tinh thần và tư duy triết luận ở con người. Lúc này, ranh giới giữa bản ngã chủ quan và thế giới địa lý khách quan hoàn toàn bị xóa nhòa, biến cái bao la của đất trời Trung Á thành một chiều kích sinh động để nhân vật định hình nhân sinh quan và lý tưởng sống vượt lên trên những vui buồn cá nhân. Ý niệm thi pháp học này trước hết kết tinh qua sự bừng tỉnh của thiên tài hội họa trong nhân vật cậu bé Seit ở truyện vừa Giamilia. Tiếng hát ngút ngàn của Daniyar không chỉ chiếm lĩnh không gian vật lý mà đã trực tiếp tái cấu trúc thế giới tinh thần của Seit, biến thảo nguyên quen thuộc thành không gian của tư duy thẩm mĩ và nghệ thuật, nơi cậu nhận ra “trái tim mình bỗng chốc trở nên chật chội trước giai điệu này”21. Không gian thảo nguyên rộng lớn đã phá vỡ sự chật hẹp trong tư duy cũ, đóng vai trò là chiếc nôi khai phóng để Seit bước ra khỏi bản làng, dấn thân vào hành trình của một họa sĩ chuyên nghiệp mang tầm vóc thời đại. Đối với Giamilia, việc cô quyết định dứt áo ra đi cùng Daniyar giữa đêm tháng tám không đơn thuần là sự lựa chọn theo tiếng gọi con tim mà là hành vi chủ động “nới rộng biên giới sống” của tinh thần22. Cô từ bỏ không gian khép kín, ngột ngạt để chọn không gian vô định của thảo nguyên; đây là nơi duy nhất chấp nhận bản ngã tự do và khát vọng bình đẳng của người phụ nữ mới.

Trong thế giới nghệ thuật của tập truyện Giamilia, ngoài không gian thiên nhiên, không gian sinh hoạt của bản làng Kurkureu không đơn thuần là nơi cư ngụ, mà là một thực thể văn hóa - xã hội. Một mặt, nó là chiếc nôi lưu giữ những tập quán, tình cảm gia đình truyền thống tốt đẹp của người dân thảo nguyên Kyrgyzstan. Mặt khác, dưới áp lực của chiến tranh và tàn dư ý thức cũ, không gian sinh hoạt này lại trở thành một không gian đóng kín, bao bọc bởi những hệ giá trị gia trưởng, luật lệ dòng họ hà khắc, tạo nên những xiềng xích vô hình kìm hãm tự do của con người, đặc biệt là người phụ nữ. Không gian này trái ngược hẳn với không gian thiên nhiên rộng lớn, bản năng và tự do.

Không gian sinh hoạt trước hết hiện lên qua nếp sống, phong tục và trật tự gia đình truyền thống vùng Kurkureu. Đó là một đại gia đình du mục lớn gồm hai nhà chung một sân, vận hành nghiêm ngặt dưới sự điều hành của “Bà mẹ vĩ đại”23. Ngôi nhà đất nện của gia đình Giamilia là một không gian điển hình của văn hóa Trung Á: “Nhà chúng tôi gồm hai hộ chung nhau một cái sân rộng, quây quanh bằng tường đất nện... Hai gia đình sống rất hòa thuận, cùng chia ngọt sẻ bùi”24. Tập quán truyền thống in đậm qua cách phân công lao động thời chiến, khi phụ nữ và trẻ nhỏ ở nhà gánh vác việc đồng áng theo sự phân xử của các bô lão. Ý thức dòng tộc và nghĩa vụ cộng đồng thấm đẫm vào từng nếp sinh hoạt: từ việc nghe lời người già, giữ gìn danh giá cho người chồng nơi tiền tuyến, đến thói quen quây quần bên bếp lửa trao nhau thư từ mặt trận. Chính không gian sinh hoạt tập thể này đã tạo nên sự ổn định, giúp bản làng trụ vững qua những năm tháng Chiến tranh Vệ quốc khốc liệt.

Tuy nhiên, nhìn sâu vào cấu trúc, không gian sinh hoạt tại bản Kurkureu chứa đựng những hủ tục gia trưởng nặng nề. Aitmatov mô tả ngôi nhà và bản làng như một cơ chế giám sát cá nhân, nơi danh dự người phụ nữ bị định đoạt bởi dư luận tập thể25. Họ không có quyền tự quyết, bị xem như “tài sản” phục vụ nhà chồng26, khiến Giamilia bị giam hãm trong căn buồng vắng, lao động nhọc nhằn và chịu sự phán xét. Sự ràng buộc này hiện rõ qua thư từ tiền tuyến của Sadok, khi tên cô luôn bị đẩy xuống cuối cùng sau cả gia súc, họ hàng: “Cuối thư, Sadok mới gửi lời hỏi thăm đến vợ mình, như một thứ nghĩa vụ bổ sung nhạt nhẽo”27. Khi nhận thư, cô chỉ mỉm cười cay đắng rồi cất đi. Việc cô không có niềm vui nhớ chồng cho thấy không gian này chối bỏ quyền mưu cầu hạnh phúc của họ.

Sự ngột ngạt đẩy lên đỉnh điểm vào đêm Giamilia và Daniyar trốn chạy. Không gian sinh hoạt lập tức biến thành một pháp trường định kiến. Người anh chồng và dòng họ chửi rủa: “Nó đã bôi nhọ thanh danh của gia đình ta! Một đứa con dâu phản bội không có chỗ đứng dưới mái nhà này”28. Cả bản làng náo động bàn tán, chế giễu và sỉ vả cô. Qua đó, tác giả bóc trần bản chất lạc hậu của không gian truyền thống khi nó biến thành nấm mồ chôn vùi cá tính, buộc những linh hồn muốn sống thật như Giamilia và Daniyar phải thực hiện cuộc tự giải thoát cho chính mình, tạo ra không gian mở của thảo nguyên bao la.

Trong Người thầy đầu tiên, không gian sinh hoạt của bản làng Kurkureu hiện lên như một pháo đài kiên cố của hủ tục và định kiến phong kiến cũ. Người dân bộ tộc lúc bấy giờ coi thường chữ nghĩa, buông lời chế giễu nhà trường của Duysen chỉ là “cái chuồng ngựa cũ” và việc học hành của con trẻ là “vô bổ”29. Sự ràng buộc và tàn nhẫn của tập tục cũ tập trung toàn bộ vào bi kịch của cô bé mồ côi Antunai. Tại ngôi nhà của người thím họ, Antunai ngày ngày phải chịu những trận đòn roi và bị bóc lột sức lao động nặng nề30. Đỉnh điểm là cảnh tượng Antunai bị toán người cưỡng bức, bắt cóc ngay tại lớp học diễn ra trước sự chứng kiến dửng dưng của dân bản, bởi họ xem việc “bắt vợ” này là tập tục hợp pháp từ ngàn đời. Khi thầy Duysen lao vào chống trả để bảo vệ học trò, anh liền bị chúng đánh gãy tay và bị cả bản làng cô lập. Sự bạo tàn của hủ tục khép lại bằng chi tiết Antunai bị giam cầm, bị chà đạp tàn nhẫn về thể xác lẫn nhân phẩm trong dinh thự của tên chúa đất. Qua các chi tiết khốc liệt này, C. Aitmatov đã bóc trần bộ mặt bạo lực của không gian sinh hoạt cũ, biến hành trình đem con chữ về bản của Duysen thành một cuộc chiến giải phóng con người thực sự.

3. Ý nghĩa biểu tượng của không gian thảo nguyên

Trong thế giới nghệ thuật của tập truyện Giamilia, không gian thảo nguyên không dừng lại ở những tọa độ địa lý tả thực mà đã được nâng tầm trở thành một hệ thống cấu trúc mang tính biểu tượng. Không gian thảo nguyên bao la, lộng gió của vùng Trung Á trong tập truyện vận hành như một mã biểu tượng thẩm mĩ, phản ánh khát vọng tự do và quá trình giải phóng con người khỏi các ràng buộc xã hội truyền thống.

Thảo nguyên trước hết là biểu tượng tuyệt đối cho tự do và khát vọng sống mãnh liệt của con người, hoàn toàn đối lập với không gian đóng, tù túng của những định kiến phong kiến nơi bản làng. Nếu cuộc sống quần cư tại Kurkureu trói buộc Giamilia trong những bổn phận nhạt nhẽo và sự cô đơn của một người vợ có chồng ra trận thì thảo nguyên mênh mông lại là nơi giải phóng bản ngã của cô. Khi bước ra không gian mở này, Giamilia không còn là nàng dâu ngoan ngoãn cúi đầu; cô trở thành một người phụ nữ tràn đầy sức sống, dám cất tiếng cười giòn giã và  cưỡi ngựa hiên ngang không kém cạnh nam giới.

Không gian thảo nguyên bao la chính là bệ đỡ hoàn hảo cho một tình yêu nổi loạn, vượt thoát khỏi lễ giáo bộ tộc. Chính tại nơi đây, giữa những đêm thảo nguyên “lung linh ánh trăng và nồng nàn mùi cỏ khô”31, tiếng hát của Daniyar đã vang lên. Tiếng hát ấy không bị giới hạn bởi bất kỳ bức tường ngăn cách nào, nó “bay vút lên bầu trời cao rộng”, đánh thức khát vọng yêu và được yêu đang bị kìm nén trong lòng Giamilia32. Cuộc đào thoát cuối cùng của Giamilia và Daniyar vào sâu trong lòng thảo nguyên giữa đêm giông bão là minh chứng hùng hồn nhất cho ý nghĩa biểu tượng này. Thảo nguyên đã dang rộng vòng tay chở che cho những linh hồn dũng cảm, những con người dám đạp đổ mọi xiềng xích hủ tục để đi theo tiếng gọi của tự do và hạnh phúc đích thực.

Bên cạnh biểu tượng của tự do, thảo nguyên còn là hiện thân cho vẻ đẹp hoang dại, kỳ vĩ của thiên nhiên và chiều sâu văn hóa lâu đời của con người Kyrgyzstan. Qua lăng kính của chú bé Seit, một họa sĩ tương lai, thảo nguyên hiện lên như một bức tranh sơn dầu lộng lẫy và giàu chất thơ. “Đó là màu vàng rực của những cánh đồng lúa mì chín rộ vào mùa gặt”33, “màu đỏ thẫm như lửa của ánh hoàng hôn buông xuống rặng núi Alatau”34, hay “ánh bạc lung linh của dòng sông chảy trôi dưới đêm trăng”35. 

Vẻ đẹp ấy không hề tĩnh lặng mà thấm đẫm linh hồn và căn tính của nền văn hóa du mục Trung Á. Bản sắc văn hóa này được kết tinh trọn vẹn trong tiếng hát sử thi của Daniyar trên thảo nguyên. Khúc hát của anh không chỉ là giai điệu thuần túy mà là tiếng lòng của đất đai, là hơi thở của ngọn gió, là lịch sử và tâm hồn của cả một dân tộc được chắt chiu qua bao đời: “Đó là tiếng hát của thảo nguyên mênh mông, tiếng ca của tổ tiên ta xưa kia, ngân vang kiêu hãnh giữa đất trời”36. Thảo nguyên vì thế đã trở thành một không gian văn hóa thiêng liêng, nơi lưu giữ vẻ đẹp thuần khiết, nguyên bản và sức sống bất diệt của con người vùng đất Trung Á trước những thăng trầm của lịch sử và thời đại.

Thảo nguyên mang ý nghĩa biểu tượng về không gian hòa hợp, kết nối con người với thiên nhiên thành chỉnh thể không thể tách rời. Sự kết nối này hiện rõ qua cách nhân vật tương tác với ngoại cảnh. Daniyar người chiến sĩ mang thương tích thể xác lẫn tâm hồn từ chiến trận chỉ thực sự được chữa lành khi gieo mình vào lòng thảo nguyên bao la. Anh am hiểu từng lối mòn, biết lắng nghe tiếng thì thầm của gió và giao cảm với thiên nhiên bằng sự trân trọng tuyệt đối. Sự hòa hợp này còn đạt đến đỉnh cao khi thiên nhiên thảo nguyên đồng điệu, cộng hưởng sâu sắc với từng nhịp đập trái tim của tình yêu đôi lứa. Đêm thảo nguyên dường như cũng nín thở, nghiêng mình chứng kiến cái nắm tay đầu tiên, giọt nước mắt hạnh phúc và lời thề ước thầm lặng của Giamilia và Daniyar. Không gian kết nối ấy đã nâng đỡ con người vươn tới cái cao cả, giúp họ tìm lại bản tính tự nhiên thuần khiết nhất của mình, đồng thời khẳng định một triết lý nhân sinh sâu sắc của Aitmatov: con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc chân thực và sức mạnh vĩ đại khi biết sống hòa hợp, thủy chung với đất đai quê hương.

Trong Người thầy đầu tiên, sự kết nối giữa con người và tự nhiên đạt đến độ cảm động thông qua hình ảnh thầy Duysen và các học trò nhỏ. Giữa mùa đông thảo nguyên buốt giá, khi dòng suối đóng băng và những cơn gió tuyết gào rú cố gắng ngăn cản bước chân con người, Duysen đã lấy thân mình làm bệ đỡ, bế từng đứa trẻ lội qua làn nước lạnh ngắt để đến lớp. Tình người sưởi ấm ngoại cảnh, và ngược lại, hai cây phong trên đồi cao cũng dang rộng tán lá chở che, trở thành người bạn tinh thần tri âm kết nối tâm hồn cô bé Antunai với thế giới bao la bên ngoài thảo nguyên. Trong Mắt lạc đà, mối quan hệ giao cảm giữa con người và tự nhiên ở đây mang tính chất sinh tồn và tôi luyện. Chàng trí thức trẻ Kemen không nhìn thảo nguyên Anarkhai như một kẻ thù cần chinh phục mà cậu thấu cảm với sự khát khao của đất đai. Sự kết nối ấy thể hiện qua hành động Kemen gieo mình xuống dòng nước mát của suối Mắt lạc đà sau giờ lao động, hay việc cậu kiên cường ngồi trên cabin máy cày, lật từng vạt đất cằn dưới cái nắng thiêu đốt để đánh thức sự sống của thảo nguyên. Thiên nhiên khắc nghiệt đã ôm trọn, thử thách và giúp con người nhận ra sức mạnh vĩ đại nội tại của chính mình.

Trong Cây phong non trùm khăn đỏ, không gian thiên nhiên trong tác phẩm đồng điệu một cách kỳ lạ với hành trình thức tỉnh của nhân vật Ilyas. Khi tình yêu giữa anh và Asel chớm nở, thảo nguyên mở ra những thung lũng đầy nắng, những cung đường êm ả nâng đỡ buồng lái xe tải. Nhưng khi Ilyas phản bội và đánh mất gia đình, không gian lập tức biến đổi thành những đêm bão tuyết mịt mùng trên đèo cao, vây hãm chiếc xe đơn độc của anh. Hình ảnh cây phong non trùm khăn đỏ đứng trơ trọi giữa đất trời thảo nguyên lộng gió cuối truyện chính là biểu tượng cho sự hòa nhập giữa nỗi đau con người và sự cô quạnh của tự nhiên, nơi đất trời cùng chung nỗi hoài niệm khôn nguôi với nhân vật37.

4. Kết luận

Thông qua việc khảo sát một cách hệ thống các bình diện thi pháp học, có thể khẳng định rằng không gian thảo nguyên giữ một vai trò quan trọng, là cốt lõi thẩm mĩ kiến tạo nên chỉnh thể về thế giới nghệ thuật độc đáo cho toàn bộ tập truyện Giamilia – Truyện núi đồi và thảo nguyên. Không gian ấy không tồn tại rời rạc như một khung địa lý, cũng không dừng lại ở việc khắc hoạ hiện thực đời sống, mà đã thực sự trở thành một sinh thể nghệ thuật đa tầng, một nhân vật đặc biệt mang tiếng nói triết lý sâu sắc, gắn kết mật thiết với những chuyển biến tâm lý của con người. Không gian thảo nguyên Trung Á chính là cái nôi thử thách và thanh lọc phẩm giá, nâng đỡ cho khát vọng tự do của Giamilia, ý chí khai sáng vĩ đại của thầy Duysen, hay bản lĩnh giữ gìn lý tưởng đạo đức của Kemen trước cái ác. Không gian thảo nguyên chính là sự vươn dài và mở rộng trực tiếp của đời sống tinh thần nhân vật, nơi con người học cách phá vỡ các định kiến để tự quyết định số phận của chính mình. Đây chính là những cách tân nghệ thuật lớn và có tính bước ngoặt của Chingiz Aitmatov trong việc xây dựng hình tượng thiên nhiên trong văn xuôi hiện đại. Nhà văn Kyrgyzstan đã xóa nhòa biên giới giữa vũ trụ và con người, khẳng định cái đẹp, nghệ thuật và tình yêu chân chính sẽ nở hoa kết trái ngay trên những dải đất tưởng chừng như cằn cỗi nhất. Sức sống bền vững và giá trị nhân văn vượt thời gian của tập truyện trong dòng chảy văn học nhân loại chính là minh chứng đắt giá nhất cho ngòi bút vĩ đại của Aitmatov - người đã dệt nên một bản anh hùng ca về sức mạnh tinh thần con người hòa quyện cùng linh hồn của núi đồi và thảo nguyên bao la.

 

 

 

Chú thích:
1 Joseph P. Mozur (1994), Parables from the Past: The Narrative Art of Chingiz Aitmatov, NXB. Indiana University Press.
2 G. D. Gachev (1982), Chingiz Aitmatov (Trong thế giới nghệ thuật), NXB. Văn học Xô viết, tr. 82-156.
3 Nguyễn Hải Hà (2002), Văn học Nga sự thật và cái đẹp, NXB. Giáo dục, tr. 112-118.
4 Phan Hồng Giang (2005): “Chingiz Aitmatov và giá trị nhân văn trong văn học hiện đại”, Tạp chí Văn học, 7 (1), tr. 45-52.
5 Nguyễn Thị Vân (2016): “Hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Chingiz Aitmatov”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 9 (2), tr. 71-79.
6 Trần Bảo Thụy (2018): “Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Chingiz Aitmatov”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội, 63 (4),  tr. 88-96. 7 Trần Đình Sử (2008), Dẫn luận thi pháp học văn học, NXB. Giáo dục, tr. 114.
8, 9, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37 Chingiz Aitmatov (1958), Giamilia – Truyện núi đồi và thảo nguyên, NXB. Văn học, tr. 234, 45, 222, 216, 225, 238, 250, 218, 72, 165, 210, 189, 24, 43, 12, 14, 32, 35, 28, 94, 235, 242, 52, 64, 38, 45, 72,  61, 395.
10 Phương Lựu (Chủ biên, 2012), Lý luận văn học, NXB. Giáo dục Việt Nam, tr. 289.

Bình luận

    Chưa có bình luận