ừ bao đời nay, cửa biển không chỉ đơn thuần là nơi giao nhau giữa đất liền và đại dương bao la, mà còn là một không gian văn hóa đặc biệt, lưu giữ những dấu ấn tinh thần sâu sắc của dân tộc. Đi vào những trang thơ của các tác giả trung đại, hình tượng cửa biển đã vượt lên trên ý nghĩa của một cảnh quan thiên nhiên thuần túy để trở thành một không gian nghệ thuật đầy ắp tâm tư. Nơi đây không chỉ ghi dấu những thăng trầm của các triều đại mà còn thể hiện nỗi lòng cùng những chiêm nghiệm sâu sắc của các nhà nho trước cuộc đời và thời cuộc. Chính sự kết hợp hài hòa giữa cảnh và tình, giữa cảm hứng lịch sử và chiều sâu tâm hồn đã biến cửa biển trở thành một đối tượng giúp người đọc khám phá giá trị của những tác phẩm thơ trung đại Việt Nam.
1. Cửa biển và bức tranh sơn thủy kỳ vĩ mà nên thơ
Trong thơ trung đại Việt Nam, cửa biển hiện lên như một nơi gặp gỡ đặc biệt của núi và biển. Vì địa hình nước ta có nhiều dãy núi cao chạy dài ra sát biển nên các nhà thơ xưa đã xây dựng nên một bức tranh phong cảnh đầy nghệ thuật dựa trên sự đối lập: một bên là vách núi đứng yên vững vàng, một bên là sóng biển cuộn trào dữ dội. Qua đó, các tác giả không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp hiểm trở, mạnh mẽ của thiên nhiên đất nước, mà còn mở ra một không gian vô cùng nên thơ và khoáng đạt:
Dục Thúy vũ tình phong tự ngọc,
Đại An triều trướng thủy như thiên.
(Nắng lên Dục Thúy non phơi ngọc,
Triều nối Đại An nước lộn trời).
(Vọng Doanh – Cửa biển Vọng Doanh – Nguyễn Trãi – Trần Trọng Dương dịch)
Câu thơ gợi hình ảnh núi Dục Thúy hiện lên sau cơn mưa với vẻ đẹp tĩnh lặng, thanh khiết. Ngọn núi được ví như một khối ngọc đứng vững chãi giữa đất trời. Ngay sau đó là hình ảnh sóng cuộn dâng lên ở cửa biển Đại An. Ở đây có sự đối lập giữa chuyển động dữ dội của sóng biển với cái yên ả, tĩnh tại của núi biếc.
Thần Phù là một cửa biển cực kỳ hiểm yếu, nổi tiếng với câu ca dao “Lênh đênh qua cửa Thần Phù / Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”. Bức tranh bình minh trên cửa biển hiện lên thật tráng lệ qua nét phác họa của Nguyễn Trung Ngạn:
Nhất thủy bạch tòng thiên thượng lạc,
Quần sơn thanh đáo hải môn không.
(Một dòng nước bạc trên trời rót,
Mấy dãy non xanh đến biển không).
(Thần Phù cảng khẩu hiểu bạc – Sáng sớm đỗ thuyền cảng Thần Phù – Nguyễn Trung Ngạn – Trần Trọng Dương dịch)
Bằng bút pháp chấm phá, tác giả đã thâu tóm trọn vẹn vẻ bao la, trầm mặc của cửa biển Thần Phù. Qua nhãn quan ấy, không gian hiện lên với chiều cao của dòng nước bạc như từ trên trời đổ xuống và chiều rộng của dải núi xanh trùng điệp chạy đến tận sát biển. Cảnh tượng vừa có động, có tĩnh này không chỉ làm hiện lên vẻ hùng vĩ của đất trời mà còn thể hiện rõ niềm tự hào về giang sơn đất nước của một trí thức lớn thời Trần.
Nguyễn Đề – một thi nhân tài hoa đất sông Lam núi Hồng – khi lên bờ cao phóng tầm mắt ra khoảng không gian vô tận của cửa biển Hào Môn đã ghi lại những quan sát rất tinh tế:
Đăng ngạn vọng vô tế,
Hàm thu bích vạn tầm.
Thương mang phù đảo dữ,
Yểm ánh lộng tình âm.
(Lên bờ trông bát ngát,
Biển thu nước muôn trùng.
Nổi nênh hòn đảo biếc,
Lấp lánh nắng mưa giong).
(Hào Môn vọng hải - Ở cửa Hào Môn ngắm biển – Nguyễn Đề - Trần Trọng Dương dịch)
Từ cửa biển Hào Môn, thi nhân nhìn ra xa và thu vào tầm mắt không gian biển lúc vào thu vừa bao la, sâu thẳm với sắc nước xanh biếc, vừa sinh động, hữu tình nhờ sự điểm xuyết của những hòn đảo nổi bồng bềnh và ánh nắng mây trời lấp lánh. Mặt biển làm nền cho những núi – đảo hiện lên với tư thế nâng đỡ, hòa điệu cùng ánh sáng để tạo nên một chỉnh thể giang sơn vừa hùng vĩ, vừa tôn nghiêm. Sự gắn kết giữa các dải núi – đảo và mặt biển mênh mông không chỉ tạo nên một bức tranh thiên nhiên hài hòa mà còn cho thấy sự trân trọng của tác giả trước vẻ đẹp quê hương.
Cảnh cửa biển được nhà thơ Đoàn Nguyễn Tuấn miêu tả một cách chân thực trong bài Quá Hải Vân sơn (Qua núi Hải Vân):
Hải môn viễn sắc khởi nguy phong,
Phong thượng yên hà tiếp thái không.
(Cửa biển xanh mờ núi vút cao,
Đỉnh non khói ráng nối trời xa).
( Trần Trọng Dương dịch)
Câu thơ khắc họa hình ảnh kỳ vĩ, hiểm trở của ngọn núi ngay bên cạnh cửa biển. Núi không trải dài bình lặng mà như một bức tường thành kiên cố, nguy nga vươn thẳng lên không trung. Đỉnh núi cao đến mức như nối liền với trời. Đối diện với vách núi dựng đứng là một không gian biển rộng lớn: “Ba đào dao tẩm thiên căn bích” (Sóng gió xa dầm trời biếc thẳm). Sự kết hợp giữa chiều cao của núi và độ rộng của biển đã tạo nên không gian đối lập mà hài hòa, làm nổi bật vẻ đẹp của cửa biển miền Trung nước ta.
Cửa biển Tư Dung được danh sĩ Ngô Thì Nhậm khắc họa bằng những hình ảnh thực tế mà giàu tính ước lệ, biến cảnh sắc sóng nước thành một phòng tuyến hiểm yếu, vững chãi:ác họa của Nguyễn Trung Ngạn:
Quy xuất giáp văn trình thánh thụy,
Mã loan ất tự hỗ nhung dung.
Sơn hà khâm đái tăng thiên hiểm,
Châu chử quan lan tráng hải xung.
(Rùa nổi hoa văn dâng điềm thánh,
Ngựa vòng dáng uốn, tráng quân hùng.
Núi sông liền dải, trời vun hiểm,
Đầm phá hào trì, biển yếu xung).
(Phụng ứng chế Tư Dung hải khẩu tức cảnh - Vâng mệnh vua làm thơ tức cảnh ở cửa bể Tư Dung – Ngô Thì Nhậm - Trần Trọng Dương dịch)
Tác giả nhìn vào cảnh sắc thiên nhiên ở cửa biển Tư Dung (nay thuộc thành phố Huế) và liên tưởng đến vận nước. Núi Rùa với những đường nét hoa văn tự nhiên như một biểu tượng phong thủy mang lại điềm lành cho bậc minh quân. Núi Ngựa uốn lượn bao bọc lấy cửa biển, tạo thành bức tường thành tự nhiên bảo vệ cho các binh sĩ. Hệ thống núi và biển trùng điệp nối liền nhau làm tăng thêm sự hiểm trở. Các bãi cát, bến bờ dọc cửa biển tạo thế phòng thủ vững chắc. Cửa biển không chỉ mang vẻ đẹp hùng vĩ mà còn là lá chắn bảo vệ giang sơn.
2. Cửa biển và ký ức về những trang sử hào hùng
Trong thơ ca trung đại, cửa biển không chỉ là nơi sông gặp biển mà còn là nơi lưu giữ những ký ức hào hùng của lịch sử. Đây từng là địa điểm hiểm yếu, gắn liền với những trận đánh lớn mang tính quyết định để bảo vệ đất nước. Đứng trước những dấu tích còn lại ở cửa biển, các nhà thơ xưa thường lặng mình suy ngẫm về sự thăng trầm, đổi thay của các triều đại. Sóng nước nơi đây như một cuốn lịch sử mở, âm thầm gìn giữ những vết tích của một thời oanh liệt. Chính điều đó đã khiến cho hình ảnh cửa biển trong thơ trung đại luôn mang vẻ đẹp vừa kỳ vĩ, vừa sâu lắng và đong đầy cảm xúc.
Sông Bạch Đằng là nơi lưu giữ bao chiến công hiển hách của dân tộc. Địa danh này đã trở thành nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhà thơ. Nguyễn Sưởng khi trở lại chiến trường xưa đã có những quan sát và cảm nhận:
Kình quán như sơn thảo mộc xuân,
Hải triều húng húng thạch lân tuân.
(Xác thù chất núi, cỏ xuân tươi,
Vang vọng sóng triều, đá chọc trời).
Bằng những hình ảnh như xác giặc chất cao như núi, dãy núi đá lởm chởm, nước thủy triều dâng ầm ầm, cây cỏ đang xuân… tác giả đã tái hiện không gian cửa biển vừa dữ dội vừa nên thơ. Ngay sau đó là khoảng lặng đầy chiêm nghiệm của một trí thức nho học trước thăng trầm của thời đại:
Thùy tri vạn cổ Trùng Hưng nghiệp,
Bán tại quan hà bán tại nhân.
(Trùng Hưng nghìn thuở ai biết được,
Nửa bởi non sông, nửa bởi người).
(Bạch Đằng giang – Sông Bạch Đằng - Nguyễn Sưởng – Trần Trọng Dương dịch)
Câu thơ gợi nhắc đến chiến thắng trên dòng Bạch Đằng vào thời vua Trần Nhân Tông. Bên cạnh niềm tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc, tác giả đã đưa ra kiến giải về nguyên nhân của chiến thắng: một nửa dựa vào địa thế hiểm trở của non sông, một nửa dựa vào lòng người.
Cửa biển Bạch Đằng – nơi ghi dấu nhiều chiến thắng oanh liệt chống các cuộc xâm lược từ phương Bắc trong lịch sử – cũng đã đi vào thơ Nguyễn Trãi. Ông không chỉ ngợi ca lịch sử bằng âm hưởng hào hùng mà còn gửi gắm vào đó những suy ngẫm sâu sắc về lẽ hưng vong của các triều đại:
Quan hà bách nhị do thiên thiết,
Hào kiệt công danh thử địa tằng.
(Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,
Hào kiệt công danh đất ấy từng).
(Bạch Đằng hải khẩu - Cửa biển Bạch Đằng - Nguyễn Trãi – Nguyễn Đình Hồ dịch)
Trở lại cửa biển này, tác giả không khỏi bồi hồi nhớ tới những bậc anh hùng hào kiệt đã từng lập công danh ở đây. Thế nhưng, trước quy luật nghiệt ngã của thời gian, mọi triều đại rồi cũng đổi thay, các bậc anh hùng hào kiệt cùng công danh của họ cũng lùi vào dĩ vãng để lại một nỗi ngậm ngùi, tiếc nuối khôn nguôi.
Nguyễn Trãi đã từng đứng trước cửa biển để chiêm nghiệm về sự hữu hạn của đời người so với sự vô hạn của thiên nhiên và quy luật khắc nghiệt của lịch sử:
Thiên địa đa tình khôi cự tẩm,
Huân danh thử hội tưởng đương niên.
(Trời đất vô tình, khơi vụng biển,
Công danh gặp hội, nhớ qua thời).
(Thần Phù hải khẩu – Cửa biển Thần Phù – Nguyễn Trãi – Trần Trọng Dương dịch)
Đến cửa biển Thần Phù, thi nhân ngậm ngùi nghĩ về triều đại nhà Hồ với những việc làm như đóng cọc sắt, chở đá lấp khúc sông thông ra cửa biển để chặn thủy quân giặc. Thế nhưng bao nỗ lực đã bị vùi lấp dưới sóng biển. Địa thế hiểm trở của thiên nhiên không giúp được nhà Hồ chiến thắng quân giặc, để lại trong lòng tác giả nỗi xót xa và những suy ngẫm về sự đổi thay khôn lường của thời thế.
Dừng chân ở cửa biển Đại An, danh sĩ Nguyễn Bảo không khỏi có những suy tư về lịch sử, về chiến tranh. Cửa biển Đại An có nhiều di tích thờ Triệu Quang Phục. Nhìn vào miếu thờ ông, tác giả hồi tưởng “Long trảo uy linh không miếu mạo” (Chiếc vuốt rồng uy linh thờ trong miếu suông). Tương truyền, Triệu Việt Vương đã được Chử Đồng Tử trao cho chiếc móng rồng để tăng thêm sức mạnh chống quân xâm lược. Nhà thơ không khỏi bùi ngùi khi nghĩ đến người anh hùng đã có công kế tục Lý Nam Đế đánh đuổi quân Lương để bảo vệ nền độc lập non trẻ của nước Vạn Xuân. Bên cạnh đó, cửa biển Đại An cũng là nơi ghi dấu chiến công vang dội của Giản Định Đế trước giặc Minh:
Miến hoài Hưng Khánh đương niên tiệp,
Kình quán tăng phong phất hải nghê.
(Ai hay Hưng Khánh xưa kì tích,
Xác giặc chất chồng luỵ vợ con).
(Đại An hải khẩu – Cửa biển Đại An – Nguyễn Bảo – Bùi Duy Tân dịch)
Tác giả đứng trước cảnh vật hiện tại nơi cửa biển để hồi tưởng về quá khứ hào hùng và cái giá của chiến tranh. Tưởng tượng cảnh xác giặc chất chồng, tâm hồn nhà thơ bỗng chùng xuống khi nghĩ tới vợ con của họ đã phải chịu nỗi đau mất mát. Chính lòng trắc ẩn này đã đem lại giá trị nhân đạo cho bài thơ.
3. Cửa biển và nỗi lòng của người xa quê
Trong thơ xưa, cửa biển còn là nơi đầy ắp tâm trạng. Đứng trước cửa biển bao la, con người thường có cảm giác xót xa khi phải đối mặt với sự chia li, cách trở. Chính vì thế, không gian này xuất hiện trong nhiều bài thơ như một nơi để gửi gắm nỗi nhớ nhà da diết và lòng thương nhớ, ngóng trông người thân. Giữa sóng nước mênh mông, cửa biển đã trở thành biểu tượng cho nỗi cô đơn và khát vọng đoàn tụ cháy bỏng của những người xa quê.
Trên đường thiên lý trong cuộc hành quân vào Chiêm Thành, khi đóng quân ở cửa biển Điển Du, giữa không gian bao la và dữ dội của biển cả, tâm hồn vua Lê Thánh Tông chợt chùng xuống khi nhớ tới mẹ hiền đang cách xa vạn dặm. Nỗi nhớ mẹ, nhớ gia đình ở đây không khiến hình tượng nhà vua trở nên yếu mềm mà càng làm tăng thêm tính chân thực cho hình tượng một vị vua tài năng và nhân hậu:
Mục đoạn từ vi vạn lý trình,
Tọa tinh húng húng dạ đào thanh.
(Trên đường muôn dặm nhớ từ thân,
Đêm lặng ngồi nghe sóng vỗ gần).
(Trú Điển Du hải khẩu – Đóng quân ở cửa biển Điển Du – Lê Thánh Tông – Ngô Linh Ngọc dịch)
Lương Thế Vinh là một thành viên Hội Tao Đàn và trực tiếp tham gia cuộc hành quân vào Chiêm Thành cùng vua Lê Thánh Tông. Khi đi qua cửa biển Nha Trang, nhà vua làm thơ nhằm động viên, giúp đoàn quân vơi bớt mệt mỏi, gian khổ; các quan theo hầu họa vần. Trong hoàn cảnh đó, vị trạng nguyên tài hoa đã làm một bài thơ giãi bày tâm sự của mình:
Công nghĩa tư tình tiền đắc vô,
Khả lân chích ảnh kính trung cô.
Thùy tri tráng chí trì khu nhật,
Phiên tác nhu trường khiết khoát thu.
(Nghĩa cả tình riêng chẳng thể không,
Thương thay chiếc bóng lẻ trong gương.
Ai biết chí hùng thời rong ruổi,
Lại thành mềm yếu buổi ly hương).
(Nha Trang hải khẩu – Nguyễn Đổng Chi dịch)
Người làm quan luôn mang nặng trách nhiệm với non sông. Nhưng bên cạnh đó, họ còn có gia đình. Một bên là nghĩa vụ với triều đình, đất nước; một bên là tình cảm với cha mẹ, vợ con… tạo nên trạng thái luôn dằn vặt, lo nghĩ. Vẫn biết mang danh nam nhi thì phải để chí ở muôn phương, tác giả vẫn không khỏi có những phút giây chạnh lòng, cảm thấy cô đơn nơi đất khách. Khi rong ruổi trên dặm trường vì việc nước, ai cũng nghĩ người nam nhi ấy phải sắt đá, kiên cường. Nhưng chính những ngày dài lênh đênh trên biển ấy lại khiến lòng người chùng xuống, trở nên mềm yếu và trào dâng nỗi nhớ quê hương. Ông không che giấu mà sẵn sàng thừa nhận sự mềm yếu này. Điều đó giúp cho con người ông trở nên đáng quý và đáng kính trọng hơn.
Trong thơ của Nguyễn Du, cửa biển luôn là không gian khơi gợi nỗi buồn lưu lạc, nỗi cô đơn và nỗi nhớ quê hương sâu sắc nhất. Trong thời gian làm quan ở Quảng Bình, đứng ở cửa biển Ròn, ngắm nước triều dâng với bọt trắng tung lên trời, nhìn thấy đảo nhỏ Hòn Én ngoài khơi trong tiết thu lạnh, ông lại chạnh lòng nhớ quê:
Vọng vọng gia hương tự nhật biên,
Hoành Sơn chỉ cách nhất sơn điên.
Khả liên quy lộ tài tam nhật,
Độc bão hương tâm dĩ tứ niên.
(Ngong ngóng làng quê sát mặt trời,
Đèo Ngang chỉ cách một hòn thôi.
Khá thương đường có ba ngày tới,
Mà nhớ quê luôn bốn tết rồi).
(Nễ giang khẩu hương vọng – Đầu cửa sông Nễ giang trông về quê – Nguyễn Du - Huệ Chi dịch)
Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được nỗi buồn tủi và niềm thương nhớ của một người tha hương, ngày ngày ngóng trông về quê nhà. Dẫu quê nhà chỉ cách một đỉnh núi Hoành Sơn và khoảng ba ngày đi đường, ông đã phải xa quê đến bốn năm trời. Sự mênh mông và lạnh lẽo của sóng triều nơi cửa biển càng làm nổi bật sự nhỏ bé, bất lực và khối sầu vô tận của một con người đang ôm lòng nhớ quê đã bốn năm. Người đọc có thể cảm nhận được nỗi cô đơn cùng tâm trạng u hoài của tác giả trước sự ngăn cách của hoàn cảnh, luôn đau đáu một khát vọng được trở về với gia đình.
Trong hành trình từ Nam ra Bắc, khi đi qua cửa biển Di Luân, đỗ thuyền vào lúc chiều tối, Cao Bá Quát đã có những suy tư sâu lắng:
Quá quan hồn dục tận,
Bán giảm cố hương tình.
(Quảng Bình quan ải mau chân,
Tha hương cũng bớt một phần nhớ quê).
(Độ Di Luân giang bạc mộ tương để Hoành Sơn hạ - Đi qua cửa Di Luân, chiều tối đỗ thuyền, sắp đến dưới chân núi Hoành Sơn - Cao Bá Quát – Trần Trọng Dương dịch)
Cửa Di Luân nằm ngay gần Hoành Sơn là cửa ngõ phân định địa giới. Tác giả ý thức rất rõ mình đang đứng ở vùng đất chịu sự quản lý trực tiếp của triều đình Huế. Lênh đênh trên biển lớn nơi đất khách quê người, nỗi nhớ quê luôn thường trực trong tâm hồn vị danh sĩ tài hoa của đất Bắc. Nhìn thấy con đường qua quan ải sắp hết, sắp tới chân núi Hoành Sơn, tác giả bỗng cảm thấy nỗi nhớ quê nguôi ngoai phần nào. Dường như khi tiến gần vùng đất quen thuộc, sự bình yên của cảnh vật đã vỗ về, làm dịu đi nỗi cô đơn của người lữ thứ.
Trong văn học trung đại, hình tượng cửa biển không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên mà còn là một mã văn hóa đặc biệt, giúp chúng ta thấu hiểu tư duy của người xưa về cương vực đất nước và tâm tư, tình cảm của con người. Từ những góc nhìn ấy, không gian cửa biển đã trở thành nơi kết tinh của cả lòng tự hào dân tộc lẫn những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời. Qua đó, ta thấy được sự gắn bó máu thịt và tình yêu sâu nặng mà các nhà thơ xưa dành cho giang sơn đất nước. Những vần thơ viết về nơi giao thoa giữa đất liền và biển cả ấy mang giá trị vượt thời gian, đồng thời có giá trị lịch sử và văn hóa, góp phần bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước và ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo. Trong bối cảnh hiện nay, các tác phẩm này vẫn vẹn nguyên sức mạnh khơi dậy niềm tự hào, bồi đắp lòng tự tôn và làm phong phú thêm đời sống tâm hồn của mỗi người dân Việt Nam.
Chú thích:
* Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên.
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Trọng Dương, (2021), Hải quốc từ chương – Tùng thư văn học biển đảo Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội.
2. Trần Khánh Thành, (2024), Tình yêu tổ quốc và ý thức chủ quyền trong thơ Việt Nam viết về biển đảo, Tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, số 04/2024, tr. 20 – 25.
3. Đỗ Thị Thu Thủy, (2024), Cảm thức biển đảo trong văn học Việt Nam thời trung đại (thế kỷ X - XIX), Tạp chí Khoa học, số 03, tập 01, tr. 108 – 121.