CĂN TÍNH GIỚI VÀ NHỮNG KHẢ THỂ SÁNG TẠO TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC TÁC GIẢ NỮ VIỆT NAM

Bài viết khảo sát thực tiễn sáng tác của các tác giả nữ Việt Nam từ góc nhìn căn tính giới. Bản sắc giới được xem là một phạm trù mang tính lịch sử, luôn được kiến tạo và biến đổi, qua đó mở ra những khả thể của sáng tạo văn học, đồng thời phản ánh sự tương tác giữa ý thức giới với bối cảnh văn hóa và đời sống văn học.

Căn tính trong nghiên cứu khoa học nhân văn đã được đề cập ở những góc độ khác nhau. Từ điểm nhìn văn chương nghệ thuật, căn tính, căn tính giới được biểu hiện ở những chiều cạnh cho thấy sự chi phối của đời sống xã hội đến văn học, đến cách nhà văn hình dung và tái tạo thế giới đời sống từ điểm nhìn cá nhân của chủ thể sáng tác. Một số nghiên cứu về giới trong văn học đã cho thấy những biểu hiện của căn tính trong sáng tác của người viết nam và người viết nữ, xác lập những phạm trù căn tính mang tính khu biệt, đối lập hoặc giao thoa của chủ thể sáng tác nữ giới và nam giới. Nhìn nhận về người sáng tác nữ và căn tính giới nữ qua những tiếp cận từ tác phẩm văn học, theo hướng xem đời sống là một quá trình luôn dịch chuyển với những mối quan hệ đa chiều, trong đó mỗi cá nhân là một thành tố nằm trong hệ quy chiếu ấy, sẽ mở ra những chiều kích mới trong việc nhận diện và lý giải hoạt động sáng tạo của người viết nữ. Sự phóng chiếu văn học đến các bình diện xã hội, đặt văn học và những kiến tạo thế giới nghệ thuật trong tương tác với đời sống sẽ đem đến cái nhìn không nhất phiến, từ đó vừa nhận diện được những đặc điểm và cơ chế có tính chi phối đối với hoạt động sáng tạo, vừa mở ra nhiều chiều kích trong việc lý giải sáng tác của người viết nữ. Từ điểm nhìn giới trong văn học, việc nghiên cứu phạm trù căn tính trong sáng tác của người viết nữ có thể soi chiếu một số vấn đề của đời sống văn học, về cơ chế sáng tạo của chủ thể sáng tác trong từ trường của bối cảnh văn hóa và đời sống xã hội.

1. Căn tính giới như một phạm trù mang tính kiến tạo

Căn tính là khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, từ đời sống xã hội đến các ngành khoa học, nghệ thuật; từ bình diện cá nhân đến nhóm giới tính. Căn tính vừa là yếu tố cốt lõi của mỗi người để phân biệt với người khác nhưng đồng thời giữa các cá nhân, nhóm giới tính lại có những tương tác và chính quá trình tương tác đó lại là những yếu tố xúc tác để làm nên những phạm trù căn tính rộng hơn đơn vị cá nhân. Căn tính cũng có thể được nhìn nhận ở các bình diện căn tính văn hóa, căn tính dân tộc, căn tính di dân... Các bình diện này luôn được kiến tạo. Chẳng hạn, căn tính dân tộc không chỉ được hình thành từ những nhân tố thuộc về chủng tộc, sắc tộc... mà còn được hình thành từ những nhân tố như điều kiện khí hậu, môi trường, sự phát triển kinh tế, thiết chế văn hóa. Căn tính là đặc điểm làm nên sự độc đáo về hình ảnh, tính cách của một cá nhân cũng như nhóm giới. Căn tính giới là đặc trưng của mỗi nhóm giới tính với những tiêu chí, đặc điểm, tính chất được kiến tạo.

Căn tính giới là một ý niệm được xây dựng trong đó các chuẩn mực xã hội và căn tố cá nhân có vai trò quan trọng. Vị thế của các nhóm giới tính trong xã hội được định vị và chịu sự chi phối bởi các thiết chế văn hóa, xã hội cũng như bối cảnh cụ thể. Phạm trù biểu nghĩa liên quan đến nam tính, nữ tính cũng cho thấy diễn tiến của đời sống, ý thức giới và cơ chế của sự kiến tạo căn tính giới. Nam tính/ nữ tính được xem là những khái niệm then chốt trong nghiên cứu về giới. Jane Pilcher và Imelda Whelehan trong cuốn Khái niệm then chốt trong nghiên cứu giới cho rằng: “Nam tính (masculinity) là tập hợp các thực hành xã hội và trình hiện văn hóa gắn với việc làm một người đàn ông. Người ta cũng dùng nam tính dạng số nhiều (masculinities) để thừa nhận rằng các cách để là một người đàn ông và các trình hiện văn hóa của/ về nam giới là có thay đổi, cả về lịch sử lẫn văn hóa, giữa các xã hội và nhóm nam giới khác nhau bên trong bất kỳ một xã hội nào”1. Từ việc khảo sát khái niệm “gender”, Trần Văn Toàn, trong chương “Quyền lực/ Giới tính và văn học” thuộc công trình Văn học như một diễn ngôn, dẫn lại quan điểm của David Glover và Cora Kaplan về quá trình hình thành và phát triển của thuật ngữ này. “Theo David Glover và Cora Kaplan, thuật ngữ “gender” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1963 trong Sex in Society (Sex trong xã hội) của Alex Comfort – một nghiên cứu thuộc khoa học về giới (sexology) nhưng thuật ngữ này chỉ nhận được sự quan tâm đặc biệt với công trình Sex and Gender: On the Development of Masculinity and Femininity (1968) (Giới và giới tính: về sự phát triển của nam tính và nữ tính) của Robert J. Stoller. Hai năm sau, Kate Millett2 viết lại luận điểm của Stoller: “sex thuộc về sinh vật học, gender thuộc về tâm lí học và vì thế thuộc về văn hóa”3. Sự khu biệt của sex và gender như là sự đối lập giữa tự nhiên và văn hóa sau này được nhiều học giả nhìn nhận với quan niệm giới (gender) thuộc phạm trù văn hóa, là cái được kiến tạo.

Từ điểm nhìn giới có thể thấy sự định giới mang tính quan niệm (nam giới/ nữ giới) sẽ đưa đến những thông tin ban đầu, những kỳ vọng về vai trò và các giả định liên quan đến bối cảnh.

Căn tính giới nhìn từ sáng tác của người viết nữ theo tiến trình lịch sử văn học cho thấy những biểu hiện vừa mang tính lịch sử vừa bộc lộ những dấu ấn thường xuyên được kiến tạo với sự bổ sung những sắc thái mới. Căn tính giới được hình thành từ các yếu tố văn hóa – xã hội, môi trường sống cùng những yếu tố nội tại của chủ thể sáng tác; các yếu tố đó góp phần tạo nên thế giới nghệ thuật với những biểu đạt giới. Quy ước cộng đồng có tính chi phối, đồng thời biểu đạt căn tính giới cũng cho thấy những vận động của quan niệm xã hội và ý thức sáng tạo, ý thức giới của người viết nữ. Những trải nghiệm của cá nhân trên hành trình sống có vai trò quan trọng trong sự kiến tạo căn tính. Tác phẩm văn học là sự thể hiện những trải nghiệm đời sống và nghệ thuật của chủ thể sáng tạo, qua đó bản sắc được hình thành.

Căn tính có thể thay đổi theo thời gian, vừa có những yếu tố nhất quán, vừa có những yếu tố biến đổi. Căn tính vừa được hình thành từ yếu tố nội tại vừa là phương diện chịu những tác động từ các nhân tố bên ngoài như đời sống văn hóa, bối cảnh. Trong đời sống xã hội và văn học có thể thấy quá trình hình thành căn tính cũng là quá trình kiến tạo bản sắc, ở đó, bản sắc, căn tính là phạm trù được kiến tạo và mang tính lịch sử.

2. Thực tiễn sáng tác văn học của các tác giả nữ Việt Nam từ điểm nhìn căn tính giới

Căn tính giới nhìn từ sáng tác của người viết nữ có cơ chế hình thành và những biểu hiện vừa mang tính thống nhất vừa mang tính biến đổi, dịch chuyển trên nền tảng của các nhân tố, tác động của bối cảnh văn hóa xã hội và ý thức cá nhân.

Sáng tác của người viết nữ Việt Nam có một quá trình lịch sử với những diễn tiến theo thời gian. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy sự phát triển theo chiều hướng từ hiếm có sự hiện diện của tác giả nữ (tình trạng mất tiếng nói) đến sự xuất hiện thưa thớt và từng bước khẳng định vị thế. Quá trình này diễn ra từ thời kỳ trung đại dưới sự chi phối của thiết chế Nho giáo đến thời kỳ cận hiện đại, hiện đại và đương đại. Trong suốt thời kỳ trung đại, tiếng nói của người nữ trong văn chương rất ít ỏi. Những tiếng nói như Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm được xem là hiện tượng cá biệt. Đầu thế kỷ XX cùng với những vận động xã hội, các phong trào canh tân, một số tác giả nữ đã có ý thức về việc thể hiện tiếng nói trên diễn đàn báo chí và văn học (Huỳnh Thị Bảo Hòa, Nguyễn Thị Kiêm, Anh Thơ…). Văn học Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh cách mạng 1945-1975 do đặc thù của bối cảnh, số lượng người viết nữ dù có tăng lên so với trước nhưng tiếng nói của người viết nữ chỉ thể hiện ở một số vấn đề nhất định. Từ sau 1975, khi đất nước chuyển từ trạng thái chiến tranh sang hòa bình rồi bước vào giai đoạn đổi mới và hội nhập, sáng tác của người viết nữ đã mở rộng các phạm trù biểu đạt; đồng thời cách nhìn nhận về sáng tác của họ cũng có nhiều thay đổi, tiệm cận hơn với thực tiễn đời sống xã hội. Thực tiễn sáng tác và nghiên cứu sáng tác của người viết nữ cũng đã cho thấy những dịch chuyển theo hướng thay đổi cách tiếp cận và cách nhìn mang tính ấn định. Từ những trình hiện trong văn học Việt Nam đương đại, sáng tác của người viết nữ đã cho thấy những vận động của ý thức nghệ thuật, những biểu đạt giới như là sự kiến tạo căn tính. Đi cùng với sự kiến tạo là những thực hành sáng tác qua đó những quan niệm về giới mang tính khuôn mẫu, bất biến được chất vấn.

Căn tính giới không chỉ được kiến tạo từ những yếu tố nội tại của mỗi cá nhân mà còn chịu sự tác động của các phương diện xã hội. Một cá nhân từ lúc sinh ra, trưởng thành sẽ trải qua hành trình sống, trải nghiệm, tích lũy. Hệ quả của quá trình đó sẽ hình thành nên căn tính cá nhân. Ở phương diện văn học, căn tính giới cũng có những cơ chế của sự hình thành. Sự hình thành, kiến tạo căn tính giới là quá trình lâu dài, liên tục bao gồm cả những nhân tố cá nhân và nhân tố môi trường xã hội. Với tư cách là chủ thể sáng tác, căn tính giới là hệ quả của những căn tố cá nhân cùng với sự tương tác với môi trường xã hội, những yếu tố được hội tụ từ những nhận thức, tri nhận về đời sống. Khả năng sáng tạo của người viết nữ nhìn từ căn tính là có tính lịch sử cụ thể, được bồi đắp theo thời gian. Từ sự vận động của thực tiễn sáng tác theo thời gian có thể thấy những quan niệm cho rằng người nữ ít có khả năng sáng tạo văn học, nghệ thuật đã từng bước được chất vấn và thay đổi. Khả năng sáng tạo văn học của người viết nữ cần được nhìn nhận từ nhiều phương diện, trong đó năng lực, ý thức sáng tạo và bối cảnh, không gian văn hóa là những yếu tố quan trọng thúc đẩy hoạt động sáng tạo. Sự hiện diện đông đảo của người viết nữ, những thành công đáng ghi nhận ở thể loại, thể tài mà người nữ sáng tác, sự đón nhận của cộng đồng độc giả đối với nhiều tác phẩm của người viết nữ (Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Công chúa Đồng Xuân, Từ Dụ thái hậu của Trần Thùy Mai, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê, Hậu thiên đường của Nguyễn Thị Thu Huệ…), những giải thưởng văn học trong và ngoài nước được trao cho người viết nữ đã khiến cho vị thế của người sáng tác nữ trong đời sống văn học đương đại được khẳng định, dần xóa bỏ định kiến về người sáng tác nữ giới trong xã hội hiện đại. Căn tính giới từ góc độ khả năng sáng tạo theo thời gian đã được xác lập theo hướng xóa bỏ những nhìn nhận về sự hạn chế trong việc sáng tạo nghệ thuật của người viết nữ.

Ở thời điểm hiện tại, khoảng cách về năng lực/ thành tựu sáng tạo giữa người viết nữ và người viết nam không còn là vấn đề đặt ra như trước. Đồng thời từ góc nhìn giới, những lợi thế của người nữ trong sáng tạo nghệ thuật ở một số phương diện đặc thù sẽ cho thấy căn tính giới được hình thành như một yếu tố định vị bản sắc giới. Những đặc điểm mang tính riêng (bao gồm cả phạm trù nhóm giới) có thể được xem là những sắc thái thể hiện tính độc đáo và cũng là yếu tố làm phong phú đời sống văn học. Những kinh nghiệm và trải nghiệm gắn với vị thế giới có thể đem lại cho một số người viết nữ những điểm nhìn riêng về các vấn đề như đời sống của phụ nữ trong xã hội hiện đại, như trải nghiệm về thai kỳ, sinh nở (trong sáng tác của Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Vi Thùy Linh…). Từ sau 1975 đã có nhiều tiếng nói nữ giới đóng góp vào tiến trình vận động của đời sống văn học. Đời sống xã hội sau chiến tranh đã tạo tiền đề để người nữ gỡ bỏ những áp chế, những khuôn mẫu giới có tính áp đặt, từ đó gia tăng khả năng lựa chọn và quyết định cả trong đời sống và văn chương. Người nữ đã từng bước khẳng định vị thế trong đời sống xã hội bằng việc tham gia vào nhiều lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, giáo dục... dần xác lập vị thế độc lập trong đời sống, có khả năng tự chủ và tự quyết. Từ những thực hành sáng tác và hoạt động xã hội, nghề nghiệp, các cây bút nữ đã xác lập được tiếng nói trên văn đàn và trên một số diễn đàn xã hội. Thực tiễn sáng tác của người viết nữ theo hướng bộc lộ, thiết lập những đặc điểm mới đã từng bước làm dịch chuyển những nhận thức về người viết nữ, cho thấy những sắc thái ổn định và biến đổi từ bình diện căn tính giới.

Ý niệm về giới nhìn từ thế giới nghệ thuật được kiến tạo, biểu hiện trong tác phẩm (thể hiện rõ nhất ở hình tượng nhân vật) với những cơ chế đặc thù của cá nhân và những tương tác với đời sống xã hội. Trước hết, từ phương diện cá nhân, cái nhìn, ý niệm, sự định hình quan niệm về giới được kiến tạo từ quan niệm của cá nhân đó về giới nam và giới nữ. Trong cùng một bối cảnh văn hóa và dưới tác động của những thiết chế xã hội nhất định, các quan niệm về giới có thể chia sẻ một số điểm chung; tuy nhiên, chúng không hoàn toàn đồng nhất mà luôn có sự khác biệt tùy theo chủ thể, vị thế và điều kiện lịch sử cụ thể. Dưới chế độ mẫu hệ, vai trò của người nữ được đề cao và điều này chi phối đến nhiều phương diện của đời sống xã hội. Chế độ phong kiến với sự chi phối của thiết chế Nho giáo, những quy định hà khắc của lễ giáo phong kiến đã khiến người nữ trở thành đối tượng tòng thuộc trong mối quan hệ với người nam; đồng thời trong đời sống xã hội người nữ thường đóng vai trò thứ yếu trong sự kiến tạo giá trị của gia đình và xã hội. Có thể thấy, “Trong nhận thức của nhân loại từ xa xưa, các diễn ngôn nam quyền đã luôn đè nén và áp chế người nữ nhằm khẳng định vị thế trung tâm của bản thân mình trong vai trò quyết định và làm chủ xã hội. Bằng quyền lực của mình, giới nam đã kiến tạo nên trường tri thức để ủng hộ và bảo vệ địa vị của bản thân trong tâm thức nhân loại nhằm đẩy lùi giới nữ sang phía ngoại biên, với những lý do viện dẫn về mặt tự nhiên sinh học. Nhưng trong thế kỷ XX, những nhà nữ quyền đã đặt ra các câu hỏi phản tư về quan điểm tự nhiên luận về địa vị giới nữ, họ nhìn ra sự viện dẫn nam quyền trong việc kiến tạo địa vị phái tính xã hội, họ nhận thức được rằng nơi ngoại biên mình đang “ở” không phải vì bản thân mình “sinh ra là phụ nữ” mà vì đã “trở thành phụ nữ” trong ý niệm kiến tạo xã hội của chế độ nam quyền bất công đè nén con người. Họ chủ trương nhìn nhận lại vị thế của giới mình không từ quan điểm tự nhiên luận như trước đây mà từ quan điểm kiến tạo luận, tức là giới tính mang bản chất kiến tạo của xã hội, mang đậm tính xã hội do chế độ nam quyền chi phối”4. Trong văn học Việt Nam, sự thể hiện hình ảnh nữ giới và nam giới có sự chi phối của quan niệm xã hội và sự phân công lao động (bao gồm cả vai trò xã hội đảm nhiệm cũng như hoạt động tinh thần, sáng tạo nghệ thuật). Ý niệm về người nữ có tính lịch sử cụ thể, đồng thời được hình thành theo thời gian, biểu hiện qua sự diễn tiến của đời sống văn hóa, văn học. Hình ảnh, sự kiến tạo về người nữ được thể hiện qua những di sản văn hóa vật chất và phi vật chất; được chuyển hóa trong những hình thức khác nhau như điện ảnh, hội họa, âm nhạc, điêu khắc, văn học. Hình tượng người nữ trong văn học theo thời gian cũng đã có nhiều thay đổi. Trong quan niệm về hôn nhân, người nữ từ chỗ thụ động trong tình yêu, dễ thất vọng trong tình yêu đã đi đến trạng thái chủ động tìm kiếm tình yêu hoặc xem những bất toàn trong tình yêu và hôn nhân là những thức nhận quý giá trên hành trình sống và trải nghiệm (nhân vật nữ trong sáng tác của Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Phan Việt...). Những hụt hẫng trong tình yêu và hôn nhân không bị coi là thất bại mà là những trải nghiệm trên hành trình sống của người nữ (nhân vật nữ trong tác phẩm của Phan Việt). Từ phía chủ thể sáng tác, người nữ sẵn sàng tham dự vào đời sống một cách chủ động, đi và viết về nhiều vùng đất, bộc lộ chủ kiến và khả năng tái hiện những phạm trù trước đây ít được nhìn nhận như một phạm vi sáng tác của phụ nữ (du ký của các tác giả nữ như Di Li, Dương Thụy...).

Các vấn đề của đời sống con người được thể hiện trong tác phẩm luôn được mở rộng từ những vấn đề của cá nhân, thân phận người phụ nữ đến những không gian hiện thực trước đây thường là phạm vi hiện thực bị giới hạn trong sáng tác của người viết nữ như chiến tranh, lịch sử. Các sáng tác về chiến tranh và lịch sử của Lê Minh Khuê, Trần Thùy Mai, Trần Thanh Hà, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Kim Hòa... đã đem đến những nhìn nhận về sự thay đổi, mở rộng đề tài sáng tác từ thực tiễn sáng tác của người viết nữ. Từ viết về nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến hải đảo (các sáng tác của Đoàn Lê, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Nguyễn Thị Kim Hòa...) đều cho thấy những dịch chuyển cả về không gian lẫn những mối quan tâm của người viết nữ trong bối cảnh đương đại.

Nhìn từ thế giới nghệ thuật, có thể thấy người viết nữ thường có những đặc điểm chung về giới sáng tạo như lựa chọn nhân vật nữ là nhân vật trung tâm, nhân vật thường xuyên được khắc họa trong tác phẩm. Điều này cũng thể hiện sự chiếm lĩnh thế giới đời sống theo cách người nữ trải nghiệm, từ đó, việc thể hiện những vấn đề của bản thể người nữ vừa gần gũi, vừa là một lợi thế. Từ thế giới nghệ thuật được khắc họa, có thể thấy trong sáng tác của người viết nữ có những không gian nghệ thuật thể hiện bản sắc giới nhưng bản sắc vẫn là một khái niệm được kiến tạo, được bồi đắp theo thời gian. Khi viết về kiểu loại nhân vật mà bản thân có nhiều lợi thế thì người viết sẽ phát huy được những khả năng sáng tạo và theo đó dễ có được những thành công nghệ thuật. Dù viết về chiến tranh, lịch sử, nông thôn hay đô thị, miền núi... thì nhân vật hiện diện chủ đạo, được tập trung khai thác vẫn thường là nhân vật nữ (dĩ nhiên, vẫn có những tác phẩm của người viết nữ nhân vật nam giới là trung tâm). Một số phương diện thường gắn với trải nghiệm giới của người nữ như bản năng, khát khao làm mẹ, những xúc cảm giới tính vẫn thường được đề cập như những phương diện sáng tác được người viết nữ khai thác thành công, cho thấy những gặp gỡ trong mối quan tâm và khả năng sáng tạo của họ. Thực tiễn sáng tác văn học theo tiến trình lịch sử cũng như diễn tiến hoạt động sáng tác văn học của người viết nữ trong bối cảnh đương đại cho thấy trong sự chuyển đổi mang tính bước ngoặt theo hướng cởi mở cách nhìn về vai trò, vị thế của người nữ, những biểu hiện của đời sống sáng tác vừa mang tính tự thân vừa là hệ quả của những biến đổi về nền tảng xã hội và quan niệm về giới. Viết văn, với người nữ được xem là nhu cầu tất yếu xuất phát từ điều kiện cá nhân, ý thức của chủ thể sáng tác và thực tại xã hội.

3. Định vị bản sắc, kiến tạo căn tính và những khả thể của sáng tạo văn học

Trong sáng tác của người viết nữ có những biểu hiện mang tính gặp gỡ, lặp lại và phổ biến, cho thấy những mối quan tâm chung. Tính gặp gỡ và tính lặp lại này là nhân tố hình thành bản sắc giới trong sáng tác của người viết nữ.

Về đặc trưng của phản ánh nghệ thuật, đã có quan niệm cho rằng: văn học là sự phản ánh đời sống, là sự khúc xạ những vấn đề của hiện thực qua lăng kính của chủ thể sáng tạo. Chính sự can dự vào đời sống và những đặc trưng về giới sẽ chi phối sáng tác của họ. Ở phương diện đề tài, nhìn từ văn học hậu chiến (sau 1975) từng ghi nhận nhiều sáng tác thành công khi viết về chiến tranh của các nhà văn nam giới; mật độ sáng tác về đề tài này cũng dày hơn và theo đó họ cũng dễ có nhiều tác phẩm thành công. Với người sáng tác nữ, họ lại thể hiện sự quan tâm và những sắc thái thẩm mĩ riêng. Chẳng hạn, chưa thấy nhiều cây bút nữ viết về chiến tranh theo cách thức dàn dựng tác phẩm theo khung khổ của các trận đánh, khác với những người viết nam giới. Đã có nhiều sáng tác của các cây bút nữ thời kỳ hậu chiến viết về sự chia xa trong chiến tranh, do chiến tranh, nỗi đau của người mẹ mất con, niềm khát khao đợi chờ của những người phụ nữ khi có người thân ra chiến trận. Từ góc nhìn giới có thể thấy những kinh nghiệm đời sống và vùng thẩm mĩ khác nhau sẽ quy định cách họ phản chiếu những vấn đề của đời sống và hiện thực trên trang viết. Người nữ thường quan sát và thể hiện đời sống từ nỗi đau thân phận, nỗi đau đàn bà. Những khắc khoải và sự bộc lộ khát khao bản năng mang sắc thái giới tính trong những thời khắc, hoàn cảnh chiến tranh là những sắc thái dễ được người viết nữ đi sâu khai thác (Võ Thị Xuân Hà với Đàn sẻ ri bay ngang rừng, Võ Thị Hảo với Người sót lại của rừng cười, Dạ Ngân với Trên mái nhà người phụ nữ). Khi người viết nữ viết về chiến tranh, việc khắc họa thân phận người nữ và những vấn đề của đời sống trong chiến tranh đã mang đến một diện mạo đầy đủ hơn, bổ sung những góc nhìn về chiến tranh trong văn học. Nhiều phương diện của chiến tranh được soi tỏ, nhiều trải nghiệm từ những góc khuất của người nữ được phơi trải.

Trong đời sống xã hội và nghệ thuật luôn diễn ra những chất vấn các định nghĩa về nữ giới. Trong thực tiễn đời sống xã hội và sáng tạo nghệ thuật, ở nhiều thời điểm và hoàn cảnh, người nữ không tránh khỏi trạng thái giằng co giữa các thiết chế, quan niệm xã hội và những khát vọng, ước muốn, giá trị tự thân của mình. Kiến tạo căn tính giới mang tính lịch sử, trong đó bản sắc giới là phương diện cần và có thể được nhận diện. Xác lập căn tính từ những yếu tố thuộc về căn tố cá nhân, những yếu tố nền tảng được bồi đắp (trong nhiều trường hợp là kháng cự những định kiến, những áp đặt, khuôn mẫu) có thể tạo nền tảng thúc đẩy sự thể hiện bản sắc cá nhân, cũng như thúc đẩy hoạt động sáng tạo. Bản sắc cá nhân, bản sắc giới sẽ làm phong phú thêm cho đời sống văn học với những trải nghiệm đa dạng, nhiều chiều kích nhưng cũng cần thấy rằng “Với tư cách là “bức tranh điển hình” về một nhóm xã hội, khuôn mẫu có thể là tiêu cực hoặc tích cực, chính xác hoặc không chính xác, hợp lý hoặc phi lý”5. Trong lịch sử nhận thức về giới từng duy trì những ý niệm khuôn mẫu tiêu cực, không chính xác, “yếu tố được chia sẻ này về nội dung của khuôn mẫu làm cho người ta có thể nhận diện một số khuôn mẫu giới dễ dàng được công nhận. Chẳng hạn phụ nữ dễ xúc động và rất khó đoán, là những người lái xe tồi và thích sô cô la, hoặc đàn ông có lý tính và chủ động, không giỏi làm việc nhà và thích thể thao”6. Sự công nhận dễ dàng mang tính áp đặt về đặc tính, thiếu cơ sở sẽ dẫn đến hạn chế sự nhìn nhận về đời sống của nữ giới cũng như sức sáng tạo của người viết nữ. Có thể đặt ra câu hỏi: Liệu văn chương có khả năng tái định hình bản ngã cá nhân và tập thể, vượt lên những định kiến và áp đặt lịch sử?

Một phương diện đáng chú ý là quan điểm tự nhiên luận, quy chất luận về giới được xem là ít khả thi khi nghiên cứu về giới trong khoa học nhân văn. Điều này sẽ dẫn đến những hạn chế trong việc nhìn nhận nhiều vấn đề về sự biểu hành giới. Nhìn nhận vị thế giới từ quan điểm kiến tạo luận là nhấn mạnh tính xã hội và tính lịch sử của giới, thay vì xem các đặc điểm giới như những thuộc tính cố hữu, bất biến. Nhiều nghiên cứu về vấn đề giới trong sáng tạo văn học, nghệ thuật không áp dụng thuyết quy chất luận, chẳng hạn: “Thay cho quan điểm quy chất luận, nam tính được lập luận là nảy sinh từ bối cảnh xã hội trong đó những người đàn ông sống, chẳng hạn, từ vị trí của họ trong các định chế và tổ chức khác nhau và/ hoặc trong văn cảnh của các diễn ngôn sẵn có về giới trong xã hội”7. Giới được nhìn nhận là mang “ý nghĩa văn hóa mà cơ thể có giới tính đảm nhận”8 và không phụ thuộc vào giới tính sinh học một cách cứng nhắc.

Định vị bản sắc, kiến tạo căn tính là những phạm trù của hoạt động sáng tạo. Văn học nói riêng và các loại hình sáng tạo nghệ thuật nói chung luôn cần những kiến tạo bản sắc để tạo nên những giá trị. Từ phương diện nhóm giới tính (cụ thể là người viết nữ), việc định vị bản sắc mang tính tất yếu. Điều này có thể được ý thức như là chủ định của người viết nữ đồng thời cũng có thể được tạo nên từ những điều kiện căn cốt mang tính nền tảng cá nhân và trở thành hành động viết mang tính tự thân. Với mỗi người viết, bản sắc cá nhân là yếu tố được kiến tạo dựa trên những căn tố cá nhân và sự tích lũy, những trải nghiệm đời sống và nghệ thuật. Bởi vậy, từ thực tiễn sáng tác của người viết nữ có thể thấy những khả thể của hoạt động sáng tạo. Đời sống và ý thức cá nhân luôn dịch chuyển; trải nghiệm và nhận thức về giới ngày càng được mở rộng, khiến những kiến tạo về giới cũng không ngừng biến đổi theo hướng ngày càng ít bị lệ thuộc bởi những khuôn mẫu.

4. Kết luận

Qua việc nhìn nhận vấn đề căn tính giới như một đặc tính của quá trình sáng tạo từ phương diện đồng đại và lịch đại có thể lý giải được những vận động, biến chuyển đa chiều trong sáng tác của các tác giả nữ. Thực tiễn sáng tác sinh động, nhiều biến chuyển của người viết nữ những thập niên gần đây đã đặt ra một số vấn đề về việc tiếp cận nghiên cứu văn học nữ giới. Thực tiễn sáng tạo văn học của người viết nữ theo tiến trình lịch sử đã từng bước làm thay đổi những nhận thức giới. Trong lĩnh vực nghiên cứu giới, điều này thể hiện ở sự mở rộng phạm vi nghiên cứu, những phương diện tiếp cận mang tính liên ngành; từ đó tiếp tục xác lập những hình dung về sáng tác của người viết nữ. Trong điều kiện tri thức liên ngành được cập nhật, việc nghiên cứu văn học, nghiên cứu giới trong văn học không tách rời khỏi các vấn đề xã hội đã hướng đến nhận diện sự tương thích giữa thực tiễn văn học và đời sống văn hóa – xã hội.

 

 

 

Chú thích:
1, 5, 6, 7 Jane Pilcher và Imelda Whelehan (2022), Khái niệm then chốt trong nghiên cứu giới, NXB. Phụ nữ, tr. 217, 175, 176, 218.
2, 3 Xem thêm Trần Văn Toàn (2024), Văn học như một diễn ngôn: lý thuyết diễn ngôn của M. Foucault và văn học sử Việt Nam, NXB. Đại học Sư phạm, tr. 192.
4 Trần Đức Dũng, Nguyễn Thị Hạnh Chi (2025): “Sự “ghì đè” của thiết chế nam quyền lên giới nữ trong văn học trung đại Việt Nam qua trường hợp Hải khẩu linh từ, Vân Cát thần nữ truyện, An ấp liệt nữ lục của Đoàn Thị Điểm”, Tạp chí Khoa học Đại học Thủ đô Hà Nội, số 101, tháng 10.
8 Judith Butler (2022), Rắc rối giới (Nguyễn Thị Minh dịch), NXB. Phụ nữ, tr. 79.

Bình luận

    Chưa có bình luận