CĂN CƯỚC VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN THỊ BÍCH NGA, LÊ MINH HÀ VÀ NGUYỄN PHAN QUẾ MAI

Bài viết phân tích căn cước văn hóa Việt Nam trong sáng tác của Nguyễn Thị Bích Nga, Lê Minh Hà và Nguyễn Phan Quế Mai qua ký ức, ngôn ngữ, gia đình, giáo dục và tiếp xúc văn hóa; từ đó làm rõ vai trò của tiếng Việt trong lưu giữ và tái tạo cội nguồn.

"Tôi như một cái cây đã bắt rễ thật sâu vào Việt Nam”1 - lời tự bạch của Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ là một chia sẻ mang tính cá nhân mà còn gợi mở một kinh nghiệm hiện sinh và thẩm mĩ phổ quát của nhiều nhà văn Việt Nam ở nước ngoài: càng sống trong dịch chuyển, ý thức về cội nguồn càng trở nên mãnh liệt; càng ở xa, nhu cầu gìn giữ và biểu đạt căn cước văn hóa càng trở thành một thôi thúc sáng tạo. Trong ý nghĩa đó, văn học Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là diễn ngôn của ký ức, lưu lạc hay hoài hương, mà còn là không gian tái cấu trúc căn cước văn hóa Việt Nam trong bối cảnh xuyên quốc gia. Theo Stuart Hall2, căn cước văn hóa không phải là một bản chất cố định, vĩnh cửu hay một “cái tôi đích thực duy nhất” nằm ngoài lịch sử chờ đợi được khám phá [tr. 223]. Ngược lại, nó là một quá trình sản xuất không bao giờ hoàn tất [tr. 222], một sự định vị thuộc về tương lai nhiều như thuộc về quá khứ [tr. 225]. Căn cước văn hóa là sự đan xen giữa việc “tồn tại” và không ngừng “trở thành” dưới tác động của những đứt gãy lịch sử, văn hóa và không gian địa lý3. Sáng tác của ba nhà văn nữ Việt Nam ở nước ngoài: Nguyễn Thị Bích Nga, Lê Minh Hà và Nguyễn Phan Quế Mai, cho thấy rõ hơn luận điểm này. Nguyễn Thị Bích Nga sinh năm 1961 tại Sài Gòn, hiện đang định cư tại California (Mĩ); nhà văn Lê Minh Hà sinh năm 1962 ở Hà Nội, hiện đang định cư ở Đức; Nguyễn Phan Quế Mai sinh năm 1973 tại Ninh Bình, năm 1979 di cư vào Bạc Liêu, năm 1992 tốt nghiệp Đại học Monash, sau khi lập gia đình, chị sinh sống tại nhiều quốc gia như Bangladesh, Philippines, Bỉ, Indonesia. Dù sinh trưởng ở những vùng miền khác nhau của dải đất hình chữ S, định cư tại những không gian văn hóa khác biệt và mang những trải nghiệm di cư không đồng nhất, họ vẫn gặp nhau ở một “mẫu số chung” của ý thức nguồn cội cùng sự gắn bó bền bỉ với văn hóa Việt. Khoảng cách địa lý, thay vì làm mờ nhạt căn cước dân tộc, lại trở thành chất xúc tác khiến ký ức văn hóa kết tinh đậm đặc hơn trong sáng tác, biến văn chương thành phương thức lưu giữ, thương lượng và tái tạo văn hóa. Đọc Tháng ngày ê a (Lê Minh Hà), Những ngôi sao trên bầu trời thành phố (Nguyễn Phan Quế Mai) và Đừng giẫm lên cỏ (Nguyễn Thị Bích Nga), có thể nhận ra điểm gặp gỡ đáng chú ý. Đấy đều là những tác phẩm do Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành. Điều quan trọng là, từ những trú xứ xa xôi, các nhà văn không chỉ sử dụng tiếng Việt như một mỏ neo ngôn ngữ để lưu giữ ký ức và hồn cốt dân tộc mà còn kiến tạo trong tác phẩm những biểu hiện đa dạng của căn cước văn hóa Việt Nam.

1. Tháng ngày ê a4: Căn cước Hà Nội và giáo dục nhà trường

Lê Minh Hà được cho là người sinh ra để viết về Hà Nội5. Hoài niệm về Hà Nội xao xác những trang văn của chị, xao xác cả Tháng ngày ê a. Trong tác phẩm, dòng hồi ức linh hoạt chuyển dời giữa các vùng không gian. Trong hồi ức của tác phẩm, chuỗi ngày đi sơ tán ở vùng quê ngã ba sông Đáy, sông Nhuệ lại hiện lên với sắc thái phơi phới lạ thường. Sông hồ, ao đầm, vườn ruộng trở thành “sân chơi sinh thái tuyệt vời nhất cho tuổi thơ” [tr. 17]. Những đứa trẻ đã thực sự sống từng ngày với những trò đánh khăng, nhảy ngựa, trốn tìm, bẻ trộm ngô non, rứt lúa nếp, trước khi trở về Hà Nội. Có những thời điểm Thủ đô không một bóng trẻ, những giấc ngủ “bị cắt vụn” bởi còi báo động, trời Hà Nội rền tiếng súng... Tác giả còn chạm vào những mảng ký ức túng thiếu nhất để vẽ nên một Hà Nội “dịu dàng nhưng nhọc nhằn” thời hậu chiến [tr. 134]. “Thời gian luôn phủ lên ký ức từng người một lớp sa mờ bí ẩn, làm tất cả mềm mại lại, dịu dàng hơn” [tr. 26]. Vậy mà Lê Minh Hà lại chọn một gương mặt thời gian khác, một kiểu thời gian không tô hồng mà đóng vai trò là thuốc rửa ký ức. Chị miêu tả chân thực những ngày tháng “đời sống khó khăn chưa từng thấy với toàn gạo hẩm, bo bo, khoai tây vừa bé vừa thối, rau héo”, đặc biệt là món “đậu phụ mậu dịch có cái mùi thụm thủm” [tr. 98]. Giữa sự bủa vây của cái đói, bữa ăn thường nhật của một con người bám trụ lại Thủ đô quẩn quanh với “cơm gạo mốc, rau lạc mùa nấu suông, bo bo hầm là món chính” [tr. 106]; “gạo vàng hơn hôi hơn nhiều sạn và cứt gián hơn”, đến mức “buổi tối nhà nào cũng phải cặm cụi ngồi nhặt sạn để sáng sớm kịp nấu cơm mang đi làm” [tr. 134]. Sự gai góc trong ngòi bút của tác giả đã đập vỡ những lăng kính lãng mạn hóa quá khứ, buộc người đọc phải trực diện đối mặt với cái xót xa, trần trụi nhất của phận người sau chiến tranh. Đằng sau những mâm cơm đạm bạc ấy là sự túng quẫn của cuộc sống thời bao cấp với các mức “tiêu chuẩn tem phiếu” [tr. 102]. Sự phân hóa ấy tạo ra những ranh giới vô hình, khi “nhân dân thì chỉ được ăn bìa nhân dân, tiêu chuẩn tem phiếu không bằng người nhà nước” [tr. 102]. Theo cách tái hiện của tác giả, cơ chế phân phối ấy khiến việc bảo đảm những nhu cầu ăn, mặc trở thành nỗi nhọc nhằn thường trực trong đời sống. Trong hoàn cảnh ấy, nhân vật tôi sống với nhiều nỗi sợ, trong đó có nỗi sợ khi “đặt gạch ở cửa hàng gạo và rau mậu dịch”. Không phải vì mệt mỏi mà vì sự thương cảm khi phải đối diện với hình ảnh cô giáo quần ống thấp ống cao hớt hải trong hàng người chen lấn và còn bị “lũ ranh con nói hỗn” [tr. 136]. Trong dòng ký ức, tác giả cũng nhắc đến thời khắc chuyển đổi khỏi cơ chế bao cấp. Sự kiện bước ngoặt ấy qua lăng kính của Lê Minh Hà không đơn thuần là sự chuyển đổi về cơ chế kinh tế mà còn là khoảnh khắc “xóa đi cái biểu tượng tươi đẹp của một lý tưởng xã hội trên cả tuyệt vời: làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” [tr. 98]. Lời nhận xét này cho thấy cái nhìn phản tỉnh của Lê Minh Hà về khoảng cách giữa lý tưởng và thực tiễn đời sống trong ký ức cá nhân. Với cách viết này, Lê Minh Hà cho thấy viết về quá khứ không chỉ đơn thuần là giải tỏa nỗi nhớ mà chính là một sự tái thiết. Lê Minh Hà đang dựng lại một không gian văn hóa của quá khứ, biến những mảnh vỡ ký ức riêng lẻ thành một tài sản tinh thần chung, giúp người đọc - trong đó, hẳn có cả những người xa xứ - tìm lại được căn cước của mình, của quê hương mình trong dòng chảy thời gian.

Trong tác phẩm, Lê Minh Hà không kiến tạo căn cước Hà Nội chỉ từ sự nhọc nhằn của thời hậu chiến. Đan cài giữa thế giới túng quẫn đến mức “cái gì cũng thiếu trừ sự thiếu” [tr. 134], thành phố vẫn kiêu hãnh toát lên một nét thơ mộng, tráng lệ rất riêng. Ở một vài khoảnh khắc, tác giả đã thiết lập một phép đối lập giàu sức gợi giữa sự bần hàn của vật chất với sự bừng nở rực rỡ của thiên nhiên. Tâm hồn người thị dân vẫn không đánh mất đi nhịp rung động tinh tế trước “vòm hoa sưa như mây trắng dâng phía Nhà hát Lớn mỗi ban sớm tới trường” [tr. 176]. Hà Nội bừng lên với những dải màu và hương thơm mang sức sống mãnh liệt. Ngọn cây gạo phía Đài Nghiên, Tháp Bút trổ một màu đỏ đầy hối thúc; từng góc phố, hương loa kèn “níu kéo xót xa” [tr. 176]. Sắc trắng thanh khiết của hoa sưa, sắc đỏ rực rỡ của hoa gạo và làn hương dịu vợi của hoa loa kèn không chỉ là bức phông nền trang trí. Hơn thế, chúng đóng vai trò như một liều thuốc tinh thần, xoa dịu sự ác liệt của chiến tranh vẫn ngày ngày hiện diện trên mặt báo. Hình ảnh ngọn hoa gạo trổ màu đỏ “đầy hối thúc, tới những phương trời không biết ở đâu nhưng chắc chắn là phải có” [tr. 176] là sự vẫy gọi của hi vọng, là khát vọng vươn lên hướng tới những chân trời tri thức rộng mở. Dẫu thể xác bị vắt kiệt trong những “bữa ăn một mình thiếu chất”, phẩm giá trí thức của người Hà Nội vẫn không hề tàn lụi [tr. 106]. Đứa trẻ mang tên Lê Minh Hà đối diện với nồi bo bo hầm không bằng sự gục ngã mà bằng việc vùi đầu vào sách, vào các kiệt tác văn chương như Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy. Sách và văn chương kinh điển đã hóa thành nguồn nâng đỡ tinh thần, trở thành thứ “gia vị” kỳ diệu cho những bữa ăn mốc meo [tr. 106]. Chính sức mạnh  của chữ nghĩa và nền tảng văn hóa vững vàng đã giúp Lê Minh Hà ngay từ thời thơ ấu tự thiết lập một màng lọc tinh thần, đi qua tận cùng của sự đói kém vật chất, sự cô độc, thiếu thốn tình thân vì mất mẹ ở tuổi 13 và tình trạng “cả đời thiểu lực” để giữ cho tâm hồn mình mãi mãi tự do và toàn vẹn.

Từng là giáo viên chuyên Văn tại Trường Trung học phổ thông Hà Nội - Amsterdam trước khi sang Đức định cư, Lê Minh Hà mang trong mình những trăn trở sâu sắc về nghề giáo. Trong tấm căn cước mang tên Hà Nội, trí thức xa xứ từng đứng trên bục giảng không thể không ngẫm ngợi về nghề. Soi chiếu về quá khứ, nỗi nhớ Hà Nội của chị luôn gắn liền với hình bóng những người thầy cũ giữa thời đạn bom và bao cấp thiếu thốn. Đó là ông giáo làng thanh bần, người thầy đầu tiên thời sơ tán mang nét suy tư trước bức tượng Phật, người đã “đánh thức trí nhớ ở đứa trẻ lên bốn” [tr. 13]. Đó còn là cô Yến với mái tóc phi dê ngắn, dáng vẻ dịu dàng mang “phần xuất thân dù ở vị thế xã hội không xoàng” của phụ nữ Hà Nội [tr. 26]. Đó còn là cô Hằng Nga mang một vẻ đẹp “độc bản và giản dị”, giống như “chủ nhân mới của Hà Nội” [tr. 30]. Thông qua sự trân trọng dành cho những thế hệ nhà giáo đi trước - những người “thật lòng vì học trò” và kiên định dạy học sinh “phải trung thực” [tr. 33] - Lê Minh Hà đã đúc kết nên một triết lý giáo dục đầy tính nhân bản. Đồng thời, chị chiếu “một thứ ánh sáng khác lạ” vào nền giáo dục nhà trường. Lê Minh Hà không ngần ngại chỉ thẳng vào những mảng tối như sự lạm dụng quyền uy của người lớn, thói áp đặt khiến học trò mất đi khả năng tự vệ. Lời cảnh tỉnh “Nghề giáo không giết được ai, nhưng nghiền nát đời một người thì không khó” [tr. 257] cho thấy một thái độ thẳng thắn, trực diện. Từ sự phản biện gay gắt đó, nhà văn cho rằng giáo dục không phải là nhào nặn ra những siêu nhân hay công cụ ngoan ngoãn, mà là tạo nên những con người bình thường, có cảm xúc thông thường, trung thực, có khả năng tích cóp kiến thức để chọn lựa và chịu trách nhiệm cá nhân. Đi sâu hơn vào thiên chức của người thầy, Lê Minh Hà quan niệm đỉnh cao của nghề giáo không nằm ở việc nhồi nhét kiến thức, mà là dạy cách xử lý thông tin, dạy cách tự mở lối mà học, dạy cách khát khao vượt ra ngoài giới hạn của những trang sách [tr. 181]. Việc nhà văn thẳng thắn nhìn lại những lầm lỗi của chính mình thuở trẻ đã làm nổi bật một quan niệm giáo dục giàu tính tự vấn: Giáo dục đích thực phải bắt đầu từ sự trung thực và lòng dũng cảm đối diện với sự thật.

Đọc Tháng ngày ê a, có thể nhận thấy tính chân thực trong cách kiến tạo căn cước Hà Nội. Với kết cấu liền mạch, đan xen những khoảng trắng để độc giả suy tưởng, cuốn sách mang đậm dáng dấp của một cuốn hồi ký. Ở đó, Lê Minh Hà lần đầu tiên biến chính mình thành nhân vật trung tâm để thực hiện một cuộc tự vấn gay gắt. Không mưu cầu sự thanh minh hay biện hộ cho bản thân, tác giả kiêu hãnh bộc bạch: “Tôi chẳng ngại nói về lầm lỗi, điều mà đa số người viết hồi ký thường vô thức hoặc chủ ý tìm cách gạt đi”6. Ngòi bút ấy thẳng thắn nhìn lại sự xốc nổi, vô tâm của tuổi trẻ, điển hình như lời tự thú đầy dằn vặt về một lá thư hời hợt từng gửi cho người lính ở biên giới. Bằng sự chuyển mạch tự nhiên từ việc tái hiện thời đại sang tự vấn nội tâm, Lê Minh Hà đã mở rộng chiều sâu của tác phẩm, tạo nên một cuộc đối thoại về nhân cách và phận người trong những tháng năm khốc liệt.

2. Những ngôi sao trên bầu trời thành phố7: Căn cước làng quê và giáo dục  gia đình

Nếu Lê Minh Hà dùng góc nhìn sắc sảo của một nhà giáo để phân tích những vấn đề của giáo dục nhà trường nơi đô thị thì Nguyễn Phan Quế Mai tiếp cận căn cước làng quê thông qua phương thức giáo dục gia đình. Môi trường giáo dục ở đây không diễn ra trên bục giảng mà thu bé lại ngay trên chiếc giường ngủ của gia đình qua 34 câu chuyện kể hằng đêm, đóng vai trò như những bài học vỡ lòng về bản sắc. Vượt lên trên chức năng giải trí thuần túy trước giờ đi ngủ, Nguyễn Phan Quế Mai đã biến 34 câu chuyện trong Những ngôi sao trên bầu trời thành phố thành một màng lọc văn hóa. Chị viết bằng trái tim của một người mẹ đang khao khát ru con vào giấc ngủ bình yên, đồng thời trao truyền cho đứa trẻ một điểm tựa tinh thần. “Những câu chuyện không chỉ mở ra trước mắt con một làng quê êm ả, chúng còn nuôi dưỡng tâm hồn đứa trẻ để chúng biết có một nơi trên trái đất này đầy yêu thương, đầy êm ái, đó chính là những góc làng quê”8. Ý thức bảo tồn cội nguồn ấy được thể hiện khéo léo qua cấu trúc tự sự của cuốn sách, trong đó điểm nhấn chính là câu kết lặp đi lặp lại ở hầu hết cuối mỗi chương: “À, à ơi…”. Đấy là thanh âm quen thuộc của những bài hát ru - một phương thức giáo dục gia đình mang tính thẩm mĩ lâu đời của dân tộc. Bằng việc khép lại mỗi câu chuyện đồng quê bằng cụm từ này, Nguyễn Phan Quế Mai đã tạo ra một nhịp điệu tự sự đầy tính ru vỗ. “À, à ơi…” đóng vai trò như một tín hiệu chuyển giao trạng thái. Nó đánh dấu khoảnh khắc câu chuyện khép lại, cũng là lúc đứa trẻ chuyển từ trạng thái tỉnh thức sang giấc ngủ. Những bài học về sự nhọc nhằn của ông bà, về tình yêu thương vạn vật hay về mùi hương của lúa non sẽ theo thanh âm ấy len lỏi vào tầng sâu nhất của tiềm thức. Nhờ đó, các giá trị văn hóa không chỉ dừng ở nhận thức lý trí mà còn được chuyển hóa thành những giấc mơ và phản xạ vô thức. Phan Hồ Điệp tin rằng, việc nuôi dưỡng tâm hồn bằng những câu chuyện đồng quê sẽ giúp con lớn lên khỏe mạnh về tinh thần, để mai này dù con “có đi chân trời góc bể, một sớm mai nào đó khi thức giấc, con được những lời nói tự tâm hồn gọi mời về với cánh đồng xanh mướt mát”9. Qua lời kể của “người bí mật” mang tên bóng đêm, người đọc biết thêm những chi tiết thú vị. Thì ra, chuyện kể hằng đêm của người mẹ luôn bắt đầu bằng việc đứa trẻ cuộn tròn trong chăn như một cái kén và cất tiếng gọi thân thương: “Mẹ ơi, mẹ, con sẵn sàng rồi ạ!” [tr. 9]. Bằng giọng kể thủ thỉ, người mẹ xa quê bắt đầu dắt tay con lách qua những khe cửa hẹp của không gian đô thị ngột ngạt để quay về vòm trời ấu thơ. Những câu chuyện kể trong đêm không phải là những đoạn độc thoại một chiều của mẹ. Những câu hỏi gợi mở như: “Con có biết câu ca dao nào về chuồn chuồn nhỉ?” [tr. 70], “Lần trước, nhà mình về quê lúc nào con nhỉ?” [tr. 17], “Thế con nghĩ, ở làng mình, cái gì đã nuôi sống con người?” [tr. 103] là một thủ pháp tự sự mang tính sư phạm mềm mại. Bằng cách đặt câu hỏi, người mẹ trao cho đứa trẻ quyền được tham gia vào câu chuyện, kích thích sự tò mò và khả năng tư duy độc lập của con. Quá trình hỏi - đáp này chính là quá trình gieo hạt, giúp những mảnh ghép của căn cước làng quê bắt rễ một cách tự nhiên và sâu sắc vào nhận thức của đứa trẻ.

Dưới ngòi bút đậm chất thơ của Nguyễn Phan Quế Mai, căn cước làng quê lấp lánh qua những hình ảnh đậm phong vị nông thôn Việt Nam. Làng quê như một vũ trụ sinh thái kỳ diệu, nơi vạn vật đều có linh hồn và mang chức năng che chở con người. Trải dài qua các đêm kể, thế giới tự nhiên lấp lánh hiện về qua hình ảnh chiếc ao làng trong trẻo như một chiếc “gương trời” [tr. 63], hình ảnh “giếng ngọc” rêu phong cùng năm tháng, nước giếng quyện nước bồ kết, nồng nàn và sóng sánh suốt một thời ấu thơ [tr. 134] hay hình ảnh cánh đồng làng xanh ngắt màu lúa non, vàng óng màu lúa chín, mơn mởn và khỏe khoắn màu của ngô khoai và lạc [tr. 105]. Căn cước sinh thái làng quê còn được dệt bởi những rặng tre vươn cao che rợp đường làng, không chỉ làm lũy bảo vệ mà còn là “loài cây hát ru” rì rào trong gió [tr. 42]. Đó còn là thế giới của những sinh thể bé nhỏ nhưng nhiệm màu như đàn đom đóm. Tác giả miêu tả loài côn trùng nhỏ bé ấy bằng một thứ ngôn ngữ đẹp đến mê hoặc: “Mỗi con đom đóm là một bông hoa ánh sáng, xòe nở trong đêm. Nở bung, tắt lịm rồi lại nở bung, theo một nhịp điệu lặng thầm của cả đàn đom đóm” [tr. 79]. Hình ảnh những “bông hoa ánh sáng” lập lòe bay qua sân nhà mẹ, rồi đậu xuống những tàng cây tối thẫm chính là một câu chuyện cổ tích có thật, gieo vào lòng trẻ thơ những rung cảm tinh tế trước vẻ đẹp tĩnh lặng của thiên nhiên. Người mẹ cẩn trọng tái hiện thiên nhiên nguyên sơ để khơi gợi trong đứa trẻ tình yêu vạn vật và sự trân trọng môi trường sống nơi cội nguồn.

Tấm căn cước làng quê còn được định hình bởi những trải nghiệm ấu thơ lấm lem bùn đất. Đó là những lần lội bùn thò tay vào hang sâu để bắt cua hay trò chơi ngây ngô rủ nhau cho chuồn chuồn cắn rốn. Những chi tiết chân thực này không làm giảm đi sự thi vị của tuổi thơ; ngược lại, chúng dạy đứa trẻ về sự kiên nhẫn và lòng can đảm. Ký ức dở khóc dở cười ấy chính là tấm vé thông hành đưa những đứa trẻ hiện đại chạm tay vào một không gian văn hóa dân gian giàu nét ngộ nghĩnh mà chốn đô thị phồn hoa không có được. Cùng với đó, các trò chơi truyền thống cũng liên tục được điểm xuyết. Bức tranh tuổi thơ bừng sáng với những buổi chiều hò reo quanh vòng quay tít của con quay đẽo từ gỗ xoan [tr. 141], tiếng lách cách của trò đánh khăng trên bãi đất phẳng [tr. 143], hay những trận chọi cỏ gà dũng mãnh, đầy kiêu hãnh vút lên giữa triền đê lộng gió [tr. 166, 167]. Dù thiếu thốn nhiều tiện nghi vật chất, chính những trò chơi lấm lem mùi bùn đất và ướt đẫm mồ hôi ấy lại hóa thành một thứ “chất keo” vô hình mà bền chặt. Chúng kết dính những tâm hồn bé dại, định hình nên một nếp sống cộng đồng hồn nhiên, đùm bọc - thứ di sản tinh thần quý giá mà làng quê đã lặng lẽ chắt chiu và gìn giữ qua bao thăng trầm của lịch sử.

Trong Những ngôi sao trên bầu trời thành phố, làm nên chiều sâu căn cước làng quê chính là những phận đời, phận người chìm nổi giữa dòng chảy lịch sử. Có lúc làng quê mang gương mặt bầm trầy của sự nghèo khó và thiên tai, nơi bóng dáng ông bà ngoại gầy đét, đen nhẻm phải vắt kiệt sức cõng từng thùng nước cứu những cây lúa thoi thóp giữa đợt hạn hán “rừng rực như một cái chảo lửa” [tr. 25, 27]. Đó là những kiếp người lam lũ đã kiên cường bước qua trận đói năm Ất Dậu 1945 và bao trận “bom rơi, đạn nổ của chiến tranh” để cắm rễ sinh tồn trên mảnh đất cội nguồn [tr. 28]. Sự hi sinh lặng thầm của người dân quê còn hiện diện qua biểu tượng chiếc đòn gánh “trĩu xuống những đôi vai gầy bé nhỏ bao lam lũ, nhọc nhằn” vì cõng bao nhiêu mùa cốm, mùa sen, mùa mận, mùa loa kèn, mùa hoa cúc và cả những ban mai vàng ươm và hoàng hôn tím ngát [tr. 124, 125]. Tấm căn cước làng quê cũng trở nên rưng rưng khi vết thương chiến tranh lướt qua trong ký ức. Đó là hình ảnh bà Toàn - người mẹ hiền từ mỏi mòn ngóng trông ra ngõ dẫu hai người con đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường từ hơn bốn mươi năm trước [tr. 33]. Hay như ông Khương, từ một thanh niên khôi ngô, cường tráng, trở về sau cuộc chiến với “những vết sẹo chằng chịt trên mặt” và một cánh tay đã cụt [tr. 34]. Tuy nhiên, chính từ những mất mát và bi kịch ấy, cốt cách của làng quê lại bừng sáng. Làng quê cưu mang những mảnh đời bằng nếp sống “Lá lành đùm lá rách”, “Tối lửa tắt đèn có nhau” [tr. 31]. Vượt lên nỗi đau thể xác, ông Khương thương binh vẫn giấu kín trong chiếc túi áo rỗng những mẩu chuyện cổ tích để đổi lấy tiếng cười giòn tan, sự há hốc miệng “lặng phắc lắng nghe” của lũ trẻ nghèo [tr. 34]. Có thể thấy, thông qua lăng kính của những phận người nhọc nhằn mà vị tha ấy, Nguyễn Phan Quế Mai đã thổi vào tấm căn cước làng quê sức nặng nhân văn. Quê hương không chỉ đơn thuần là nơi chốn để nhớ về mà thực sự hóa thành một bệ đỡ tinh thần thiêng liêng, nhắc nhở những đứa trẻ xa xứ bài học về lòng biết ơn, sự thấu cảm và sức sống bền bỉ của cộng đồng.

Trong nỗ lực phục dựng bản sắc, tác giả cũng đã hữu hình hóa ký ức thông qua hệ thống các giác quan. Người mẹ xa xứ tha thiết nhớ về món canh cua nấu với rau rút và khoai sọ, món cua rang thơm ngát lá chanh vườn nhà [tr. 92]. Nỗi nhớ quê hương thậm chí còn được cô đặc thành những “mùi làng quê” [tr. 196]. Thông qua trò chơi bịt mắt, toàn bộ phần hồn của quê mẹ được đánh thức từ “mùi hương thoang thoảng, dịu dàng của hàng triệu thân lúa xanh ngắt” đến mùi của sự lam lũ như “mùi bùn non... mùi mồ hôi ướt đẫm áo bạc màu của ông bà” [tr. 197, 198]. Nỗi nhớ thương của nhà văn vướng vít thật lâu ở hình ảnh những đống rơm rạ được ví là “lụa thiên nhiên” [tr. 145]. Rơm ủ ấm những mùa đông lạnh giá, làm dịu mát những ngày hè. Tuổi thơ cuộn mình trong hương thơm dìu dịu của rơm để đùa chơi và kiếm tìm giấc ngủ [tr. 146]. Tất cả những mùi vị ấy hòa quyện, tạo thành một dấu ấn không thể phai mờ trong tâm thức của người đi xa. Trong tác phẩm này, điểm dừng chân cuối cùng mà Nguyễn Phan Quế Mai chọn lựa chính là mùa xuân. Tác giả đã tiếp nhận quy luật đất trời bằng một cái nhìn đầy bao dung và ấm áp: “Nhìn con người quanh năm làm lụng, Ông Trời rủ lòng thương. Mỗi khi mùa đông sắp qua, Người lại thả xuống hạ giới những chùm hoa chúm chím, thúc giục con người nghỉ ngơi, đón mùa xuân bằng một cái Tết đầm ấm” [tr. 199]. Khát vọng ngóng chờ Tết của đứa trẻ không chỉ là để được đi chơi và được mừng tuổi mà sâu xa hơn là được về thăm ông bà, thăm họ hàng. Bằng cách neo đậu câu chuyện cuối cùng vào cái Tết cổ truyền, nhà văn như muốn nhắn nhủ rằng, sự trở về là một đích đến thiêng liêng của hành trình ly hương. Làng quê không chỉ là nơi lưu giữ những ký ức tuổi thơ lấm lem mà còn là bến đỗ bình yên, nơi tình cảm gia đình và đạo lý uống nước nhớ nguồn được thắp sáng rực rỡ nhất trong những ngày đầu năm mới.

Như vậy, với 34 chuyện kể, người mẹ xa xứ đã tạo nên một “màng lọc văn hóa”. Ở phần Vĩ thanh, Nguyễn Phan Quế Mai trực tiếp khẳng định: “Không có quê hương bản xứ, con người sẽ là một cái cây không có gốc, một con chim không còn tổ” [tr. 206]. Chị hạnh phúc tự nhận mình là người may mắn vì vẫn còn quê hương bản xứ. Tìm về một không gian làng quê truyền thống và mang chiều sâu văn hóa, Nguyễn Phan Quế Mai đã thành công trong việc “đóng gói” cả một bầu trời tuổi thơ thuần khiết, ghim vào tâm hồn thế hệ công dân toàn cầu gốc Việt một nỗi nhớ thương và lòng tự hào về nơi chốn cội nguồn. Chính nhờ bề sâu của lớp phù sa văn hóa ấy, Những ngôi sao trên bầu trời thành phố đã vượt thoát khỏi khuôn khổ của một cuốn truyện thiếu nhi thông thường để tạo ra một hiệu ứng tiếp nhận đa chiều. Tác phẩm không chỉ dành cho các em bé lớn lên nơi đất khách mà còn “ru” cả mẹ, “ru” những thế hệ ông bà, cha chú - những người đã từng sinh ra và lớn lên ở làng quê10. Chuyến hành trình của chữ đã tạc nên một nhịp cầu giao cảm tuyệt đẹp giữa các thế hệ. Đúng như lời nhận định của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: “Những câu chuyện của chị đã biến tôi thành một đứa trẻ trở về làng quê của mình” [tr. 210]. Dưới vòm trời ký ức ấy, những người lớn bộn bề với cuộc mưu sinh xa xứ bỗng được phép cởi bỏ lớp áo của sự trưởng thành, được dắt tay trở lại với “một góc hồn làng thiêng liêng và quyến thuộc” [tr. 5]. Tác phẩm vì thế thực sự trở thành một chốn nương náu bình yên để những tâm hồn di hương tìm về và tìm lại sự bình yên.

3. Đừng giẫm lên cỏ11: Căn cước di dân và giáo dục sinh thái

Không chọn bối cảnh Việt Nam như Lê Minh Hà hay Nguyễn Phan Quế Mai, Nguyễn Thị Bích Nga mang đến một góc nhìn hoài hương khác biệt qua lăng kính của di dân. Xuyên suốt cuốn sách, độc giả như được bước vào một chuyến du hành viễn xứ, rong ruổi qua những biểu tượng đặc trưng của thiên nhiên và xã hội Mĩ. Đó là chú cá sấu Monster phơi mình trên sân golf ở Miami đầy nắng, đôi đại bàng đầu bạc kiêu hãnh làm tổ trên nóc tòa nhà Quốc hội ở thủ đô Washington D.C., chú gấu Bắc cực Roy trong sở thú Big Bear, hay trải nghiệm xê dịch đầy tự do của một người tài xế xe tải trên những chuyến hàng xuyên bang... Tuy nhiên, đằng sau bức tranh phương Tây rộng lớn và xa lạ ấy, bóng dáng và tâm thức Việt Nam vẫn liên tục được hiển lộ qua những nét chấm phá tâm lý đầy tinh tế.

Căn cước văn hóa ấy trước hết được thể hiện qua phản xạ so sánh vô thức của một người luôn mang theo hình bóng quê hương trong hành trang tinh thần. Bàn về văn học Việt Nam ở nước ngoài, Thư Vũ cho rằng nhà văn di dân thường xuyên đứng giữa những xung đột cũ và mới khi tiếp xúc với nền văn hóa tái định cư12. Những liên hệ giữa “quê gốc” và “trú xứ” cũng hiện diện trong tác phẩm của Nguyễn Thị Bích Nga. Khi chiêm ngưỡng hệ thống đường cao tốc khổng lồ, đan cài chằng chịt khắp nước Mĩ, nhân vật của chị lập tức liên tưởng và đối chiếu với quê nhà, nhận thấy ở đây không có tình trạng lấn qua lấn lại hoặc chạy hàng đôi, hàng ba “nhìn thấy ớn” như trên mấy con đường quốc lộ ở Việt Nam. Sự quy củ của những xa lộ xứ cờ hoa làm bật lên nỗi nhớ về cách đi lại có phần lộn xộn trên một số tuyến đường quen thuộc ở Việt Nam. Phép so sánh ấy không hẳn nhằm chê bai, mà ngược lại, nó như một tiếng thở dài thành thực của người con xa xứ khi sự vật hiện tại vô tình đánh thức những ký ức về mảnh đất mình từng gắn bó.

Sự va đập văn hóa càng trở nên sắc nét, thậm chí mang đậm màu sắc bi hài, qua những tình huống sinh hoạt đời thường nơi đất khách. Tuy nhiên, những va đập này không đơn thuần là sự xung đột mà thực chất là động lực để thiết lập “không gian thứ ba”. Homi Bhabha định nghĩa “không gian thứ ba” là một vùng đệm lai ghép đầy năng động, nơi diễn ra sự giao thoa, thương lượng ý nghĩa và giá trị văn hóa chứ không phải là sự đồng hóa hay triệt tiêu bản sắc. Tại đây, văn hóa trở thành một chiến lược sinh tồn, giúp người di dân tái kiến tạo bản ngã giữa những điều kiện sống mang tính dịch chuyển và xuyên quốc gia13. Trong truyện Đàn gà muốn băng qua freeway, Nguyễn Thị Bích Nga đã chạm đến một thói quen gắn với nếp sống nông nghiệp của một bộ phận người Việt: nuôi gia cầm ở sân sau. Việc nâng niu những bầy gà, đàn vịt giữa lòng một khu phố Mĩ hiện đại không chỉ là cách để giải khuây hay xoa dịu nỗi hoài hương, mà sâu xa hơn, đó là một cuộc đàm phán không gian sinh tồn để một căn cước “lai ghép” có thể bám rễ giữa lòng phương Tây. Thế nhưng, cuộc thương lượng ấy lại dẫn đến một sự cố dở khóc dở cười khi cảnh sát Mĩ gõ cửa vì hàng xóm đã phàn nàn về sự bẩn thỉu và ồn ào của bầy vịt. Tại đây, tác giả gợi tả tâm lý cảnh giác của nhân vật di dân. Chị miêu tả cảm giác “thất kinh hồn vía, mặt mày xanh lè xanh lét” [tr. 86] và dẫn lời nhân vật tự nhận đó là phản ứng của “người châu Á, nhất là di dân Việt Nam” mỗi khi giáp mặt với sắc phục cảnh sát [tr. 86]. Sự bỡ ngỡ và nỗi bất an thường trực ấy đã khắc họa chân thực thân phận của những người đang loay hoay tìm kiếm cảm giác an toàn giữa hai rìa văn hóa, không ngừng phải đàm phán để bảo vệ phần lõi bản sắc của mình trước các quy chuẩn xã hội tại nơi định cư.

Sâu thẳm trong mỗi trang truyện của Nguyễn Thị Bích Nga là tha thiết tiếng gọi quê hương. Trong truyện Một ngày sau tay lái, hành trình lao động miệt mài mang đậm giấc mơ Mĩ của một tài xế xe tải xuyên bang hóa ra lại là một chuyến đi đánh thức hoài niệm. Giữa những xa lộ phương Tây mênh mông, nỗi nhớ nhà bất ngờ trào dâng mãnh liệt khi sắc xanh tím ngút ngàn của hoa bluebonnet ở tiểu bang Texas gọi về ký ức “mùa Tết cuối cùng của tôi ở Sài Gòn”, tác giả nhận ra “tôi cảm thấy nhớ nhà biết bao” [tr. 154]. Sự khắc khoải về chốn nương náu còn bộc lộ tinh tế ở truyện Đàn gà muốn băng qua freeway. Câu chuyện khép lại bằng một nốt trầm bâng khuâng khi bầy vịt trời di cư đột ngột cất cánh bay đi. Người kể chuyện thẫn thờ ngóng lên bầu trời trống rỗng, tự lừa dối bản thân bằng niềm hi vọng mong manh rằng có thể sang năm chúng sẽ trở lại, để thăm gốc bơ của ngày xưa. Nỗi hụt hẫng và niềm mong mỏi mỏi mòn ấy dường như cũng chính là một ẩn dụ giàu sức gợi về tâm thức hoài hương của người Việt xa xứ trong tác phẩm. Trong cách kiến giải của tác giả, hình ảnh những cánh chim nhớ tổ gợi nỗi đau đáu hướng về quê hương của người xa xứ. Khát vọng hướng về quê nhà không chỉ tồn tại ở con người mà còn được thổi hồn vào thế giới tự nhiên, tạo nên những cái kết đầy dư âm. Ở phần kết truyện Bướm và hoa anh túc, khi chú bướm chuẩn bị cho chuyến bay “thiên di” dài ngày tới California hay Mexico để tránh rét, chú vẫn ôm ấp niềm tin mãnh liệt rằng khi mùa xuân tới, mình sẽ lại trở về cánh đồng hoa gió thân thuộc. Tác giả đã mượn hình ảnh chuyến bay của loài côn trùng bé nhỏ để thốt lên tiếng lòng thiêng liêng của những phận người ly hương: “Có phải đó là tiếng gọi của quê hương? Có phải đó là tiếng nói thầm thì của gió, luôn thổi lên trong lòng những người xa xứ, mang theo nỗi nhớ nhà đau đáu?” [tr. 29].

Lăng kính di dân trong Đừng giẫm lên cỏ mang đến trải nghiệm đọc vừa hóm hỉnh vừa sâu lắng. Môi trường sống có thể thay đổi, thiên nhiên có thể mang đặc trưng của một châu lục khác nhưng linh hồn của tác phẩm vẫn rung theo nhịp đập của một tâm thức Việt. Hoài hương với Nguyễn Thị Bích Nga không phải là những dòng lệ nhớ thương, mà đôi khi, nó hiện diện ngay trong cách giữ gìn một thói quen, một liên tưởng vụt hiện và cả những phản xạ tâm lý rất đỗi Việt Nam giữa guồng quay của thế giới hiện đại. Trong những tình huống bất ngờ được tác phẩm miêu tả, tiếng bật ra đầu tiên của nhân vật không phải là tiếng Anh của nơi định cư mà là tiếng mẹ đẻ. Tiếng kêu “Chèn đét ơi!” [tr. 81] gợi cho thấy dấu ấn ngôn ngữ và văn hóa miền Nam vẫn nằm sâu trong tiềm thức, chi phối phản xạ cảm xúc của nhân vật. Chi tiết này cho thấy người di dân, trong quá trình dung hợp với nền văn hóa mới, vẫn có thể duy trì những dấu ấn cảm xúc gắn với văn hóa nguồn cội. Nếu “Chèn đét ơi” là phản xạ vô thức hướng nội thì câu nói “I’m from Vietnam” [tr. 157] lại là một lời khẳng định đầy lý trí, hướng ngoại và mang tính kết nối nhân loại. Tại một nhà hàng thức ăn nhanh ở tiểu bang Louisiana - nơi “có nền văn hóa đa dạng, phong phú và rực rỡ nhất” [tr. 156], khi một người đàn ông Mĩ gốc Phi hỏi nhân vật tôi có phải là người Trung Quốc không, nhân vật tôi đã trả lời không và dõng dạc nói: “I’m from Vietnam”. Câu nói này thể hiện ý thức tự định danh của nhân vật. Chị từ chối việc bị hòa tan vào một cộng đồng khác và nhanh chóng định danh mình một cách rõ ràng và đầy tự tôn bằng hai tiếng Việt Nam. Ngay khi hai tiếng “Vietnam” vang lên, nó không còn là một địa danh thông thường mà lập tức hóa thành một mã gợi nhắc lịch sử, đánh thức cả một vùng ký ức sâu thẳm của người cựu binh Mĩ gốc Phi - người từng đóng quân ở Sài Gòn năm 1970, từng cưới một cô vợ Việt Nam và bặt tin nhau sau năm 1975. Lúc này, “Vietnam” hiện lên như một ký ức chung nhiều day dứt, một nỗi hoài niệm day dứt không chỉ của người Việt di dân mà còn của chính những người Mĩ từng đi qua cuộc chiến. Cái bắt tay giữa hai người xa lạ đã xóa nhòa mọi khoảng cách về màu da và quốc tịch. Câu nói “I’m from Vietnam” đã biến một cuộc gặp gỡ tình cờ nơi quán ăn thành một khoảnh khắc nhân văn sâu sắc, nối kết hai thân phận bằng sự thấu cảm về tình người và lịch sử.

Hơn cả một cuốn sách ghi chép những quan sát đời thường nơi đất khách, Đừng giẫm lên cỏ còn mang một tầng ý nghĩa nhân văn gắn với cách nhìn phương Đông về tự nhiên. Điểm sáng này được bộc lộ trọn vẹn và đẹp đẽ nhất qua chính thiên truyện được tác giả chọn làm nhan đề cho toàn bộ tác phẩm. Khi đối diện với tấm biển báo quen thuộc “ĐỪNG GIẪM LÊN CỎ” tại các công viên ở Mĩ, phản xạ thông thường của du khách có thể là sự e ngại, rón rén bước ra khỏi những ô cỏ xanh vì sợ vi phạm luật lệ công cộng [tr. 98]. Thế nhưng, Nguyễn Thị Bích Nga lại chọn cách lý giải quy định ấy không bằng sự sợ hãi hay sự tuân thủ quy định, mà bằng một lòng trắc ẩn thuần khiết. Dưới lăng kính bao dung của nhà văn, “trong cỏ không chỉ là cỏ” [tr. 99]. Thảm cỏ không chỉ là một mảng thực vật vô tri dùng để trang trí cho cảnh quan đô thị mà là một sinh cảnh rộn ràng, một vũ trụ cưu mang những mầm sống vô cùng bé nhỏ. Việc khuyên các em thiếu nhi nhẹ bước chân xuất phát từ ý thức nâng niu sự sống, trước là để bảo vệ những chú giun đất - “tài sản quý hiếm của bà mẹ thiên nhiên” và là “dấu hiệu của sự sống” [tr. 99]. Hơn thế nữa, bên dưới những tán lá mỏng manh ấy còn ẩn chứa cả một thế giới sinh vật cần được che chở. Là những chú dế nghệ sĩ thuộc lòng bảy nốt nhạc, chỉ cần lích rích là lòng người đã bớt cô đơn. Là đàn đom đóm bay lượn giữa bầu trời đêm, tự đốt năng lượng cho đến khi kiệt sức rồi lần lượt về với đất. Là những chú ốc sên tí hon, loài cuốn chiếu yếu ớt. Lời nhắc nhở không giẫm lên cỏ chính là bài học về sự bao dung và bảo vệ mạng lưới sinh thái mong manh mà chính con người được hưởng lợi. 

Sự thấu cảm vạn vật được thể hiện rõ ở chất thơ khi tác giả mang đến một góc nhìn đầy hồn nhiên nhưng cũng thẳm sâu tính nhân bản. “Cuối cùng... đừng giẫm lên cỏ, đừng đánh thức cỏ nhé, vì cỏ đang ngủ” [tr. 104]. Cỏ được nhân hóa thành một sinh thể có linh hồn, biết mộng mị và biết nũng nịu. Sinh thể ấy cũng cần những phút giây yên bình để ngủ giữa khi trời nắng gắt và giữa lúc dông gió bão bùng, hoặc chìm đắm trong tiếng đàn dương cầm của lũ dế giữa cơn mưa phùn rả rích. Lời van nài nũng nịu của mầm cỏ non khi xé lớp tuyết vươn lên: “Mình còn buồn ngủ lắm mà, cho mình ngủ thêm tí nữa đi…” [tr. 106] thực sự có sức lay động trái tim mạnh mẽ hơn một lời nội quy khô cứng. Chỉ thông qua bài học về cách đối xử với một nhành cỏ hoang dại, Nguyễn Thị Bích Nga đã gieo thành công hạt mầm thiện lương vào tâm hồn trẻ thơ. Đó là cái nhìn giàu lòng trắc ẩn của một người mẹ Việt Nam sống tại Mĩ, luôn hướng các thế hệ sau tới sự hài hòa với thiên nhiên.

Có thể khẳng định, tác phẩm của Lê Minh Hà, Nguyễn Phan Quế Mai và Nguyễn Thị Bích Nga là minh chứng sống động cho thấy văn học Việt Nam ở nước ngoài không phải là một khối đồng nhất. Cùng thân phận những người phụ nữ xa quê hương nhưng sự lựa chọn về đề tài, phong cách nghệ thuật và cách tiếp cận văn hóa - giáo dục của họ lại rẽ theo ba hướng khác biệt. Lê Minh Hà chọn cách neo chặt ngòi bút của mình vào một không gian thị dân Hà Nội thời hậu chiến và bao cấp. Trong khi đó, Nguyễn Phan Quế Mai lại tìm về không gian làng quê truyền thống, dệt nên một vòm trời làng quê tinh khôi trong lam lũ. Nguyễn Thị Bích Nga lại bước hẳn ra khỏi không gian địa lý Việt Nam để đặt bối cảnh tác phẩm tại các tiểu bang của nước Mĩ, mượn thế giới động vật rộng lớn từ gấu Bắc cực, chim cú vọ đến bướm thiên di để phóng chiếu góc nhìn của mình. Chính sự khác biệt ấy đã định hình nên ba phong cách nghệ thuật đặc trưng. Với Tháng ngày ê a, Lê Minh Hà mang đến một văn phong phi hư cấu đầy gai góc, sắc sảo và mang tính tự vấn cao. Cấu trúc tác phẩm phá vỡ một số quy ước kết cấu truyền thống khi không chia chương, không mục lục, mà tuôn chảy như một dòng ý thức liên miên, đan cài những “khoảng trắng” nghệ thuật để người đọc tự suy tưởng. Chị viết bằng một tâm thế trực diện, không lảng tránh những lầm lỗi và những trải nghiệm khắc nghiệt của lịch sử. Ngược lại, Nguyễn Phan Quế Mai trong Những ngôi sao trên bầu trời thành phố lại sử dụng thứ ngôn ngữ đẫm chất thơ, êm ái như một lời ru. Chị biến mỗi trang sách thành một câu chuyện cổ tích hiện đại, nơi ngôn từ mang đến sự chữa lành và cảm giác bình yên. Đừng giẫm lên cỏ của Nguyễn Thị Bích Nga lại mang phong vị của truyện ngụ ngôn loài vật. Bằng giọng văn hóm hỉnh, nhẹ nhàng và sự quan sát tỉ mỉ, chị lồng ghép những bài học triết lý ẩn dưới lăng kính của một người di dân đang dung hợp với nền văn hóa phương Tây.

Cách tiếp cận giáo dục của ba nhà văn cũng phản ánh những hệ quy chiếu khác nhau. Lê Minh Hà tiếp cận từ góc nhìn của một nhà sư phạm. Chị đặt vấn đề về trách nhiệm của nhà trường, từ chối việc nhào nặn những siêu nhân mà đề cao tính trung thực, tư duy phản biện và giáo dục nhân bản. Nguyễn Phan Quế Mai tiếp cận giáo dục từ góc độ gia đình. Chị dùng những câu chuyện kể hằng đêm để tạo ra “sợi dây liên kết”, trang bị cho con cái một bệ đỡ tinh thần văn hóa để dẫu bay đến “chân trời góc bể” vẫn biết đường tìm về nguồn cội. Trong khi đó, Nguyễn Thị Bích Nga mở rộng cách tiếp cận giáo dục sang bình diện sinh thái, thức tỉnh lòng trắc ẩn, dạy con người (đặc biệt là trẻ em) biết đồng cảm với vạn vật tự nhiên và tôn trọng quyền sống của những sinh linh bé nhỏ.

Bên cạnh những khác biệt về cách tiếp cận, cả ba nhà văn nữ đều hội tụ tại một điểm chạm nhân văn, đó là dùng tiếng Việt để chống lại sự lãng quên. Đúng như tinh thần của Stuart Hall về tính kiến tạo của bản sắc, sự hội tụ này cho thấy căn cước văn hóa trong văn học Việt Nam ở nước ngoài không phải là một thực thể bất biến. Nó là một dòng chảy tiếp diễn, được ba nhà văn nữ liên tục bồi đắp, tái cấu trúc thông qua các thực hành diễn ngôn và ký ức. Đối với những người Việt xa xứ, khi phải đối diện với nỗi cô đơn và sự chới với giữa các lằn ranh văn hóa, ngôn ngữ mẹ đẻ đã trở thành một điểm tựa căn cước, góp phần bảo vệ bản ngã. Dù viết về những thiếu thốn khắc nghiệt của Hà Nội xưa, viết về ánh đom đóm nhiệm màu của làng quê, hay viết lời thì thầm của thảm cỏ nơi công viên nước Mĩ, cả Lê Minh Hà, Nguyễn Phan Quế Mai và Nguyễn Thị Bích Nga đều đang dùng tiếng Việt để xây dựng một Việt Nam trong tâm tưởng. Những cuốn sách của họ, vì thế, không chỉ là những trang hồi ức hay truyện kể thiếu nhi đơn thuần. Đó là những chiếc mỏ neo văn hóa, giúp thế hệ trẻ gốc Việt sinh ra trên toàn thế giới không bị đứt gãy mối liên hệ với cội nguồn, giúp chính những tâm hồn ly hương tìm thấy một chốn nương náu bình yên trong ngôi nhà mang tên Tiếng Việt, trong mùi cà phê rang thơm trưởng giả ở góc đường Hàm  Long - Phố Huế mà không bao giờ Lê Minh Hà tìm được ở nơi đâu.

Còn nhớ, mở đầu chuyện kể đêm thứ nhất, Nguyễn Phan Quế Mai từng thủ thỉ: “Con của mẹ, con có biết mẹ yêu làng của mình như thế nào không?… Mẹ yêu làng mình như yêu bàn tay, bàn chân của mẹ. Nhưng yêu như thế vẫn còn chưa đủ, con nhỉ?” [tr. 13]. Chị cũng không quên nhắn nhủ với con: “Mình sẽ về quê mà không cần đến xe máy, ô tô, hay tàu hoả. Thậm chí mình cũng chẳng cần đến đôi bàn chân của mình nữa!” [tr. 17]. Đó là lời tuyên ngôn cho sức mạnh của tình yêu, của trí tưởng tượng và của những câu chuyện kể hằng đêm. Suy rộng ra, đó cũng là điều kỳ diệu mà ba nhà văn nữ đã làm được cho nhiều thế hệ độc giả qua các tác phẩm Đừng giẫm lên cỏ, Tháng ngày ê a, Những ngôi sao trên bầu trời thành phố.

 

 

 

Chú thích:
1 Thùy Chi (2021): “Nguyễn Phan Quế Mai: Như cái cây đã bắt rễ thật sâu vào Việt Nam”, https:// vanvn.vn/nguyen-phan-que-mai-nhu-cai-cay-dabat-re-that-sau-vao-viet-nam/.
2 Hall, S. (1990), Cultural identity and diaspora, In J. Rutherford (Ed.), Identity: Community, culture, difference (p. 222-237), Lawrence & Wishart. Từ đây, những trích dẫn trong tác phẩm này chúng tôi sẽ mở ngoặc trực tiếp số trang [tr.].
3 Hall, S. (1990), Cultural identity and diaspora, Sđd.
4 Lê Minh Hà (2017), Tháng ngày ê a, NXB. Kim Đồng. Từ đây, những trích dẫn trong tác phẩm này chúng tôi sẽ mở ngoặc trực tiếp số trang [tr.].
5 Thư Hoàng (2024): “Nhà văn Lê Minh Hà: Người sinh ra để viết về Hà Nội”, https:// daidoanket.vn/nha-van-le-minh-ha-nguoi-duocsinh-ra-de-viet-ve-ha-noi-10270765.html.
6 Trọng Trường (2018): “Hà Nội thời hậu chiến trong Tháng ngày ê a của Lê Minh Hà”, https:// vnexpress.net/ha-noi-thoi-hau-chien-trong-thangngay-e-a-cua-le-minh-ha-3778385.html.
7 Nguyễn Phan Quế Mai (2016), Những ngôi sao trên bầu trời thành phố, NXB. Kim Đồng. Từ đây, những trích dẫn trong tác phẩm này chúng tôi sẽ mở ngoặc trực tiếp số trang [tr.].
8, 9, 10 Phan Hồ Điệp (2016), Lời giới thiệu, in trong Nguyễn Phan Quế Mai (2016), Những ngôi sao trên bầu trời thành phố, Sđd.
11 Nguyễn Thị Bích Nga (2022), Đừng giẫm lên cỏ, NXB. Kim Đồng. Từ đây, những trích dẫn trong tác phẩm này chúng tôi sẽ mở ngoặc trực tiếp số trang [tr.].
12 Thư Vũ (2021): “Văn học của người Việt ở hải ngoại: Tình thế của văn chương di dân”, http:// vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-nghe/van-hoc-cua-nguoi-viet-o-hai-ngoai-tinh-the-cuavan-chuong-di-dan_12823.html.
13 Bhabha, H. K. (1994), The location of culture, Routledge.

Bình luận

    Chưa có bình luận