Tại Việt Nam, lý thuyết hậu thuộc địa bắt đầu được quan tâm và ứng dụng trong đời sống nghiên cứu văn học từ khoảng đầu thế kỷ XXI. Lý thuyết này nhấn mạnh đến việc giải cấu trúc các diễn ngôn do chủ thể thực dân áp đặt, đồng thời góp phần phục hồi tiếng nói và vị thế của những cộng đồng từng bị nô dịch hay gạt ra ngoại biên. “Tính nước đôi” (ambivalence1) là một trong những khái niệm quan trọng của lý thuyết hậu thuộc địa – tập trung vào mối quan hệ giữa chủ thể thuộc địa với thực dân và với chính quê hương xứ sở của mình. Thuật ngữ này được các nhà nghiên cứu hậu thuộc địa dùng để chỉ “sự phức hợp của trạng thái yêu thích và căm ghét, trạng thái đặc trưng giữa thực dân và thuộc địa”2. Cụ thể, “tính nước đôi” được hiểu là trạng thái giằng co của chủ thể thuộc địa/ hậu thuộc địa trước thực dân, văn hóa thực dân và các hình thái tân thuộc địa: vừa bị hấp dẫn vừa khước từ, vừa tiếp nhận vừa phản ứng, vừa ngưỡng mộ vừa mặc cảm, căm ghét. Tính nước đôi có thể được nhận diện ở cả chủ thể thực dân và chủ thể thuộc địa, tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích tính nước đôi của các nhân vật ở vị thế của chủ thể thuộc địa. Điểm thú vị là tính nước đôi không chỉ nói lên sự phức tạp, mâu thuẫn trong tâm thức của chủ thể thuộc địa mà quan trọng hơn, đó là minh chứng cho những nỗ lực phản kháng trực tiếp với chủ nghĩa thực dân, được cất lên từ những tiếng nói “bên lề” trong cặp nhị phân quyền lực thực dân/ thuộc địa.
Đô thị miền Nam Việt Nam (1954-1975) là nơi giao thoa giữa chế độ bản xứ và sự can thiệp của Mĩ – một hình thái “thực dân kiểu mới”, sản phẩm của quá trình đô thị hóa chịu ảnh hưởng từ văn minh phương Tây, văn hóa tiêu dùng, Mĩ hóa… Bởi vậy, trong phạm vi bài viết, chúng tôi coi không gian đô thị miền Nam (đặc biệt là Sài Gòn) là không gian hậu thuộc địa: một kiểu “Không gian thứ ba” (Third space3), không gian “lai ghép” (Hybridity4) văn hoá… và như một biểu tượng của xung đột hậu thuộc địa giữa giá trị bản địa và ngoại nhập. Đồng thời, những nhân vật là người Việt Nam sống trong bối cảnh hậu thuộc địa này sẽ được chúng tôi phân tích như các chủ thể thuộc địa trong sự tương tác quyền lực với chủ thể thực dân (nhân vật người Mĩ, người Pháp) và văn hoá thực dân.
Cùng thời với Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Tuý Hồng và Trùng Dương, nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ là một trong những cây bút nữ nổi bật của dòng văn học đô thị miền Nam Việt Nam trước 1975. Sáng tác của bà thường xoay quanh cuộc đời của các nhân vật nữ đi từ làng quê miền Tây sông nước đến các cô gái thành thị tấp nập, xa hoa. Truyện dài Cho trận gió kinh thiên (1973) của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ không chỉ là câu chuyện về những bi kịch thân phận trong một xóm trọ nghèo ở Sài Gòn những năm 70 của thế kỷ XX mà còn tái hiện những va chạm phức tạp giữa con người bản xứ với đời sống đô thị chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa ngoại lai. Trong không gian Sài Gòn thời chiến, nơi sự hiện diện của người Mĩ, hàng hóa, lối sống tiêu dùng và những quan hệ quyền lực mới làm biến đổi đời sống thường nhật, các nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ hiện lên như những chủ thể bị giằng co giữa hấp dẫn và khước từ, tiếp nhận và phản kháng. Chính bối cảnh hậu thuộc địa ấy tạo tiền đề để nhận diện “tính nước đôi” như một trạng thái căn tính nổi bật trong truyện.
1. Tính nước đôi với thực dân và văn hóa thực dân
Xã hội miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 là một không gian hậu thuộc địa với sự xâm lăng của văn hoá phương Tây, trong đó có sự tồn tại của văn hoá Pháp từ thời kỳ trước và đặc biệt là sự du nhập ồ ạt của lối sống thực dụng Mĩ. Qua gần một thế kỷ xâm lăng của chủ nghĩa thực dân cũ (thực dân Pháp) cho đến chủ nghĩa thực dân mới (đế quốc Mĩ), tâm thức hậu thuộc địa dần hình thành trong mỗi người Việt, đặc biệt là người dân sống ở các đô thị miền Nam Việt Nam. Đặc biệt, từ mùa hè năm 1965, khi Mĩ đổ quân ào ạt vào miền Nam Việt Nam, sự xuất hiện của hàng triệu lính Mĩ và đồng minh tham chiến, cộng với những rạn nứt vốn có trong xã hội đô thị thời chiến đã tác động mạnh mẽ đến đời sống của nhiều lớp người, trong đó có phụ nữ. Khi những người con trai lần lượt bị gọi nhập ngũ vào quân đội Việt Nam Cộng hòa, đời sống vật chất và tình cảm của những thiếu nữ, những người vợ, người tình trong đô thị miền Nam bị xáo trộn sâu sắc. Họ gần như không còn nhiều lựa chọn ổn định: hoặc bám víu vào những quan hệ tình cảm mong manh với đàn ông bản xứ, hoặc bị cuốn vào những quan hệ thực dụng với đàn ông ngoại quốc, đặc biệt là lính Mĩ và nhân viên Mĩ. Nhận xét về thế giới nhân vật trong Cho trận gió kinh thiên, Nguyễn Vy Khanh cho rằng: “Ngoài bài bạc, đàn bà con gái trong xóm còn “đua nhau” lấy Mĩ, ngoại tình, chạy theo tiền bạc… Một “xã hội” thời chiến thu nhỏ với đủ tình tiết sống sượng, tàn bạo!”5. Nhận định này cho thấy sự hiện diện của người Mĩ trong đời sống đô thị miền Nam không chỉ là một sự kiện quân sự - chính trị mà còn trở thành một lực tác động trực tiếp vào cấu trúc gia đình, quan hệ nam nữ, đạo đức cộng đồng và thân phận phụ nữ. Trong bối cảnh ấy, quan hệ giữa phụ nữ bản xứ với đàn ông Mĩ trong truyện chính là nơi bộc lộ rõ tính nước đôi của chủ thể thuộc địa: họ vừa bị hấp dẫn bởi tiền bạc, sự che chở, cơ hội đổi đời và hào quang văn minh phương Tây mà đàn ông Mĩ đại diện; vừa mặc cảm, bất an hoặc phản kháng trước chính thứ quyền lực đang quyến rũ mình.
Nhân vật chính của truyện - Nguyệt, là một cô gái trẻ rời quê Vĩnh Long lên Sài Gòn trong tâm thế “chạy trốn” quá khứ bị người cha giàu có bỏ rơi và mối tình đầu thất bại. Trong không gian xóm lao động nghèo và môi trường làm việc cho người Mĩ, cô dần bị cuốn vào khát vọng đổi đời, xa rời quê cũ, xa rời người tình là Đồng để làm tình nhân của người Mĩ, nhưng đồng thời cũng luôn mang phức cảm rằng mình không thực sự thuộc về đô thị và nền văn hóa ngoại lai này.
Nguyệt bước vào cuộc sống “xa hoa, diêm dúa” ở đô thị Sài Gòn với “mặc cảm thua thiệt” của một cô gái nghèo tỉnh lẻ. Bởi vậy những ngày đầu làm thư ký tại sở Mĩ, Nguyệt đã cố tách ra khỏi guồng quay của lối sống vật chất đang bủa vây xung quanh cô, lựa chọn sống “cô độc giữa những khuôn mặt lạnh nhạt, vô vị” bởi cô tránh “không tham gia vào những cuộc ngồi lê đôi mách”6. Nhưng rồi Nguyệt cũng dần bị cuốn vào vòng xoáy ấy: “Nhưng dần dần những loại hàng lụa mới, những kiểu áo, những nữ trang, mĩ phẩm, chuyện đi picnic của họ với bọn đàn ông Mĩ trong sở rồi cũng rỉ rả lọt vào tai nàng”. Từ đây, Nguyệt bắt đầu mơ tưởng về một giấc mộng đổi đời: “Chân trời bên kia vùng tương lai lộng lẫy màu sắc mê hoặc khiến nàng bàng hoàng”7. Như vậy, từ sự kháng cự yếu ớt, nhân vật Nguyệt đã chuyển sang trạng thái tự nguyện và chủ động tiếp nhận những yếu tố ngoại lai đầy bí ẩn và hấp dẫn kia.
Sài Gòn trở thành giấc mơ “Thiên Đàng” của cô, mà việc kết giao và cặp kè với người Mĩ chính là con đường để cô đến gần hơn với “Thiên Đàng”: “Những món quà đắt giá của hắn [viên trưởng phòng người Mĩ], những cuộc đi chơi tận miền xa xôi đã làm cho Nguyệt nghĩ đến đời sống xa hoa, đầy đủ tiện nghi”8 . Lấy một cái tên nghe rất Tây - “Gina” để làm bạn tình với gã trưởng phòng người Mĩ, Nguyệt có lẽ đang tự làm mờ đi căn cước của chính mình để hoà nhập với thực dân. Không chỉ vậy, cô còn tập những thói quen, lối sống của người phương Tây. Khi được viên trưởng phòng Bob đưa đi ăn ở nhà hàng Mỹ Cảnh, Nguyệt “tập tễnh uống một ly Whisky nhỏ” trong khi “phải ăn hai trái cam và uống một ly cà phê mới bớt say”9. Chi tiết nhỏ này cho thấy những nỗ lực của Nguyệt trong hành trình “Mĩ hoá”.
Thế nhưng càng dấn thân vào cuộc phiêu lưu ấy, trái với cảm giác hi vọng ban đầu, trong tâm trí Nguyệt lại xuất hiện những khoảnh khắc cô tự chất vấn chính mình: “Đôi lúc nàng thấy mình mâu thuẫn. Cái đời sống vật chất mà nàng ao ước, chỉ cần nàng gật đầu với Bob Granger là sẽ trải dưới chân nàng ngay. Nhưng Nguyệt cũng biết là nàng sẽ không thông cảm nổi một người chồng ngoại quốc”10. Tính nước đôi được thể hiện rất rõ trong trường hợp của nhân vật Nguyệt, khi nàng thích làm tình nhân của Bob để được “hưởng cảm giác lạ, được cung phụng vật chất xa hoa” nhưng lại lưỡng lự trước lời cầu hôn và dự định đưa nàng đi khỏi Việt Nam của Bob, bởi nàng “sợ bị cô đơn khi sống ở ngoại quốc vì người Mĩ vốn ưa kỳ thị chủng tộc”. Trong tâm thức của người phụ nữ bản xứ này thì “cuộc hôn nhân dị chủng chẳng có gì bảo đảm cả”11. Có thể thấy, Nguyệt vừa bị hấp dẫn bởi tiền bạc từ đàn ông Mĩ, hàng hóa Mĩ và đời sống sang trọng kiểu phương Tây, nhưng cũng vừa bất an, mặc cảm và không thực sự mong muốn thuộc về thế giới ấy. Cuộc đời Nguyệt là hành trình từ mặc cảm, phản kháng đến phiêu lưu và tha hoá trong đô thị thuộc địa, qua đó bộc lộ sự đứt gãy căn tính của người phụ nữ trong xã hội miền Nam thời chiến.
Nếu như Nguyệt bị hấp dẫn bởi chủ nghĩa vật chất và lối sống đô thị chịu ảnh hưởng Mĩ thì Đăng - em họ của Nguyệt, chàng sinh viên năm nhất Đại học Văn Khoa lại tìm thấy ở những người đàn ông Mĩ một thế giới mới, nơi cậu được sống đúng với bản dạng giới mà cậu khao khát bộc lộ. Nhưng mặt khác, cậu cũng bị chính thế giới ấy làm cho tổn thương với bi kịch bị lợi dụng và không được thừa nhận.
Từ khi tình cờ tiếp xúc và phát hiện ra những “kẻ đồng bịnh” người ngoại quốc giống mình, Đăng dần bị cuốn vào mạng lưới ham muốn của những người đàn ông ngoại quốc: “Dần dà, chàng trở thành một kẻ bán tình cho những anh chàng ngoại quốc có chứng bệnh ghê sợ đàn bà”12. Cách gọi “kẻ bán tình” cho thấy thân thể bản xứ của Đăng đã bị đặt vào một quan hệ trao đổi bất bình đẳng: cậu không chỉ yêu hay ham muốn, mà còn bị biến thành đối tượng tiêu dùng cho những kẻ ngoại quốc. Nếu như “ô nhục tội lỗi” là sự đánh giá từ góc nhìn đạo đức bản xứ - khi Đăng ý thức được sự sa ngã, sự nhơ nhuốc và thân phận bị mua bán của mình, thì tiếp ngay sau đó, trạng thái “mê đắm, ngất ngây” lại hé lộ sức quyến rũ mãnh liệt của chính thế giới ấy. Trong trường hợp này, chủ thể thuộc địa không hoàn toàn căm ghét không gian do đồng đô-la Mĩ tạo ra mà ngược lại, anh ta bị nó mê hoặc, để rồi chủ động dấn thân bước vào nó. Đăng là trường hợp khá thú vị và đặc biệt trong văn học miền Nam 1954-1975 khi là một nhân vật nam mang những biểu hiện lệch chuẩn so với mô hình nam tính dị tính truyền thống. Nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ đã rất thành công khi khắc hoạ bi kịch thân phận không chỉ của nữ giới mà còn có những người đồng tính nam, qua đó làm rõ thêm sự phức tạp của chủ thể bản xứ trong quan hệ với đàn ông Mĩ ở không gian đô thị thuộc địa.
Trong truyện dài Cho trận gió kinh thiên, nếu Nguyệt hay Đăng là đại diện cho một bộ phận thanh niên thuộc địa bị tha hoá trong bối cảnh đô thị hậu thuộc địa, thì nhân vật Tư Búp hay bà Xành lại là hình ảnh của nhiều người phụ nữ lao động sẵn sàng trao đổi thân thể với thực dân để đổi lấy những món lợi vật chất với khát khao sinh tồn qua những năm tháng biến động.
Nhân vật Tư Búp cho thấy tính nước đôi đã thấm xuống tầng bình dân của đô thị thuộc địa: bà vừa thuộc về lối sống bình dân Nam Bộ (rất “bản xứ” trong khẩu ngữ, cách chửi, cách sống trong xóm lao động), vừa mang trong mình dấu vết của các tiếp xúc ngoại lai (bà từng “làm bồi cho Mẽo”, từng có quá khứ liên hệ với nhiều nhóm ngoại nhân: bà từng “lấy Tây, lấy Chệt, lấy Chà Và”, rồi “trôi nổi lên Nam Vang”13 trước khi gặp người chồng hiện tại là Bân). Bà vừa dùng ngôn ngữ đạo đức bản xứ, vừa chấp nhận logic thực dụng do đời sống đô thị thuộc địa và chiến tranh tạo ra: “Tao làm đĩ, nhưng là thứ đĩ cao thượng. Tao làm đĩ vì mẹ tao, vì con tao”14 (những lời cửa miệng của bà Tư Búp mỗi khi cãi nhau với chồng). Như vậy, bà không còn thuộc về một quê hương thuần nhất nào nữa. Thân phận bà là thân phận bị trộn lẫn bởi lịch sử di dân, thuộc địa, chiến tranh và đô thị. Còn cuộc sống trong quá khứ của bà Xành, bà Ngộ thì gắn với những ông chủ Pháp. Công việc làm bếp kiêm nhân tình bí mật của thực dân là khoảng thời gian họ sống sung sướng, dư giả với sự bao nuôi của thực dân, nhưng hai người phụ nữ ấy cũng phải trả một cái giá đắt: Bà Xành “vì phá thai nhiều lần nên tuyệt tự”, còn bà Ngộ “phải đi nằm nhà thương Saint Paul để cắt tử cung”15. Đối với quá khứ nổi trôi gắn liền với thực dân ấy, họ luôn mang trong mình phức cảm vừa sung sướng vừa đau khổ, vừa đáng nhớ nhưng cũng đáng quên.
Trong bối cảnh đô thị Sài Gòn những năm 70 chịu ảnh hưởng sâu sắc của xu hướng “Mĩ hoá”, bà Xành và bà Tư Búp lại tiếp tục lựa chọn con đường cũ: dấn thân vào mối quan hệ tình - tiền với người Mĩ. Điểm thú vị là, họ nhìn thực dân với một con mắt ngưỡng vọng, khát khao “bắt chước” (mimicry16) để trở thành “giống” thực dân nhưng lại chỉ tạo ra những sản phẩm “lệch pha” mang tính “nhạo báng”. Và chính độ lệch pha ấy góp phần tạo nên tính bất ổn của căn tính thuộc địa.
2. Tính nước đôi với quê hương nguồn cội và với đô thị thuộc địa
Sự tiếp xúc và tương tác với thực dân và nền văn hoá ngoại lai dẫn đến một hệ quả tất yếu là chủ thể thuộc địa quay trở lại chất vấn chính bản sắc của mình. Những chuyển biến lịch sử xã hội trong gần một thế kỷ khiến họ không còn có thể cảm nhận về quê hương một chiều như xưa nữa, mà họ luôn mang theo những phức cảm đối với quê hương: vừa hoài nhớ vừa không muốn/ không thể trở về, vừa đầy kỷ niệm mà lại xa lạ… Trong truyện dài Cho trận gió kinh thiên, quê hương của các nhân vật không phải một thực thể thuần nhất mà bị phân rã thành hai không gian:

Như vậy “quê hương” trong truyện không còn là một điểm cố định mà bị tách đôi: Vĩnh Long là nơi nhân vật muốn thoát ra nhưng lại không thể hoàn toàn từ bỏ, Sài Gòn là nơi nhân vật tìm cơ hội đổi đời nhưng lại vỡ mộng. Đây chính là hai không gian nơi tính nước đôi của chủ thể thuộc địa trong tác phẩm được bộc lộ, điển hình là trường hợp của hai chị em Nguyệt và Đăng.
Nguyệt rời khỏi quê Vĩnh Long để chạy trốn quá khứ đau khổ với mối tình đầu không thành. Với cô, quê nhà là “Địa Ngục”, còn Sài Gòn như một kỳ vọng về “Thiên Đàng” chưa hiện hữu: “Thoát khỏi tỉnh Vĩnh Long, nàng có cảm tưởng bay ra khỏi Địa Ngục. Nhưng mà khi ở trong thành phố này, nàng vẫn chưa đạt tới được Thiên Đàng”. “Và nàng cứ chờ đợi, mơ ước”17. Thế nhưng, mệt mỏi và bế tắc trước sự xô bồ và giả tạo của thành phố này, có nhiều khoảnh khắc cô vẫn hồi tưởng lại những ký ức, kỷ niệm đẹp nơi quê nhà. Dù là một người chưa bao giờ thích nghe cải lương (văn hoá Việt) mà chỉ thích xem xi-nê (văn hoá phương Tây), nhưng khi Nguyệt chợt tình cờ nghe thấy tiếng hát tuồng, vọng cổ ở đám ma nhà hàng xóm, ký ức về quá khứ tuổi thơ như ùa về và làm dịu đi những chán chường lo âu trong tâm trí Nguyệt: “chồng dĩa cũ đánh thức lòng hoài hương của Nguyệt”, “nàng chợt tìm lại một thế giới ngày xanh trong cái lâu đài bao la của kỉ niệm”18. Như vậy, dù có trốn chạy thế nào thì trong tiềm thức của Nguyệt, nguồn cội vẫn là một phần ký ức không thể xoá bỏ.
Tuy nhiên, khát vọng trở về quê của Nguyệt không phải là sự trở về bình yên, mà là một cuộc trở về trong tư thế chiến thắng và trả thù. Khi làm tình nhân của viên trưởng phòng người Mĩ, cô cũng không nghĩ đến việc kết hôn với hắn mà chỉ muốn có nhiều tiền và địa vị cao sang để quay trở về quê hương với sự kiêu hãnh, đường hoàng – như một cách để trả thù người cha giàu có đã bỏ rơi cô cũng như những người trước đây từng xem thường mẹ con cô: “Nàng phải về quê với xe cộ, tư trang rực rỡ”19. Qua đó, quê hương bản xứ vừa là nơi Nguyệt thương nhớ, vừa là không gian của mặc cảm, tổn thương và nhu cầu chứng minh giá trị bản thân.
Tính nước đôi của Nguyệt đối với quê hương chính là biểu hiện của một căn tính thuộc địa bị chia đôi giữa cội nguồn và đô thị thuộc địa, giữa hoài niệm quá khứ và cơ hội đổi đời cho tương lai. Và tâm thức lạc loài của Nguyệt xuất phát từ chỗ: Nguyệt thấy mình không thực sự thuộc trọn vẹn về đâu. Khi nghe tiếng hát tuồng, vọng cổ và nhớ về những ký ức đẹp của quá khứ, Nguyệt càng ý thức rõ về bi kịch thân phận hiện tại của bản thân: “Nhìn về dĩ vãng, tự dưng nàng tủi thân. Mình đã trở thành đứa con hoang rồi. Bây giờ mình đơn độc mưu sinh giữa một nơi đầy huyên náo, xô bồ. Hình như cuộc sống này là giả, hoặc là cuộc sống vay mượn của ai đâu. Cái nơi giàu sang rực rỡ dưới bóng người cha mới đúng là nơi của nàng”20. Có thể thấy, nỗi hoài hương của Nguyệt luôn mang tính nước đôi: càng nhớ quê, cô càng ý thức rõ thân phận lưu lạc, đơn độc và cảm giác đời sống hiện tại ở Sài Gòn chỉ là một “cuộc sống vay mượn”. Có những đêm vắng, nhìn ánh sáng của những trái hoả châu treo trên nền trời thành phố như một dấu tích của chiến tranh, “nàng chạnh nhớ đến ánh đèn dầu tù mù trong đêm vắng ở quê nhà. Đôi lúc, Nguyệt lại tưởng chừng mình là kẻ tứ cố vô thân giữa rừng người nhốn nháo trong thành phố lạ hoắc này…”21. Sự đối lập giữa thứ ánh sáng mang tới đầy ám ảnh về sự bất ổn, biến động ở đô thị và nguồn ánh sáng yếu ớt nhưng bình yên ở quê nhà càng khiến chủ thể thuộc địa nhận thức rõ tình thế lạc loài, cô độc của mình. Như vậy, Sài Gòn hiện lên từ điểm nhìn của Nguyệt là một đô thị thuộc địa vừa quyến rũ, hấp dẫn nhưng cũng đầy bất trắc và xa lạ. Sài Gòn vừa mở ra cho Nguyệt cơ hội đổi đời, tiếp xúc với tiền bạc, văn hóa Mĩ, lối sống tiêu dùng và những quan hệ mới, vừa khiến cô nhận ra sự bấp bênh của thân phận một cô gái tỉnh lẻ trong không gian đô thị thuộc địa. Cô vừa nhanh chóng thích ứng với không gian lai ghép văn hoá ấy nhưng cũng đồng thời nhận ra bản thân không thuộc về nơi này.
Cũng mang một tâm thức thuộc địa như Nguyệt, tính nước đôi với quê hương bản quán của Đăng được bộc lộ ngay từ khi cậu mới lên Sài Gòn. Hình ảnh dòng sông buổi tối đã khơi gợi lại ký ức và niềm hoài hương của Đăng, cậu “cảm tưởng mình lạc loài giữa một môi trường rực rỡ nhưng không phù hợp với chàng. Cuộc đời ở tỉnh lỵ dù buồn hiu hắt kéo dài, nhưng dễ chịu, dễ thở biết bao. Ở đó, chàng sống cô đơn, không có một mối tình nào, nhưng không phải vì vậy mà chàng muốn dứt bỏ nó để tới một đô thị xa lạ khác”22. Nếu Vĩnh Long là thế giới thuần bản địa với những đạo lý truyền thống, nơi mà bản ngã dị chuẩn bị kìm nén, thì Sài Gòn lại mở ra cho Đăng một thế giới khác. Ở đó, Đăng được thoả sức ăn diện, chăm chút sắc đẹp, dùng nước hoa, phấn, kem, thuốc gội đầu, đi chơi đêm, và đặc biệt là anh tìm thấy những “kẻ đồng bịnh” như mình: “Ở Vĩnh Long, Đăng tưởng chừng trên trái đất này chỉ có mình chàng không thể yêu được phái nữ. Nhưng lên đây chỉ có một tuần, trong một cuộc tình cờ, chàng đã gặp kẻ đồng bịnh với chàng rất nhiều: trong một rạp chớp bóng ở đường Lê Lợi, ở vỉa hè phố xá về đêm, trong một Câu Lạc Bộ người Mỹ... Đăng vụt yêu thành phố này”23. Như vậy, đô thị Sài Gòn cho Đăng cơ hội trình diễn một bản ngã khác, vượt khỏi chuẩn nam tính tỉnh lẻ nhưng Sài Gòn cũng không giải phóng Đăng hoàn toàn. Thành phố này được cậu gọi là “thiên đàng tội lỗi”.
Mặc dù đã đạt được mong muốn là sống đúng với bản dạng giới của mình cùng người tình ngoại quốc và có cuộc sống vật chất dư giả, Đăng vẫn bị ám ảnh tâm trí bởi cảm giác tội lỗi và thất bại ở cả không gian quê nhà và thành phố: “Tôi hết muốn trở về nhà. Tôi chỉ là cục bướu của con lạc đà và trở thành vô dụng khi con vật này trở về thành phố. Cuộc đời mình chỉ là một thứ thảm bại…”24. Như vậy, chủ thể bản xứ rời quê lên đô thị vì bị hấp dẫn bởi cơ hội do đô thị thuộc địa đem lại, nhưng lại không thể thực sự hòa nhập vào đô thị ấy; đồng thời, họ cũng không thể quay trở về quê gốc một cách nguyên vẹn bởi họ đã bị biến đổi để trở thành một sản phẩm “lai ghép”. Cảm thức lạc loài là hệ quả tất yếu khi Đăng nhận ra mình là người không thuộc về chuẩn nam tính truyền thống, không thuộc về đạo đức gia đình bản xứ và cũng không thuộc về thế giới ngoại lai mà cậu khao khát.
Thế nhưng, hành động của Đăng ở cuối truyện - rủ Đồng về xóm trọ cũ để xem lễ vía Đức Cửu Thiên Huyền Nữ chứng tỏ cậu chưa hoàn toàn tha hoá theo lối sống vật chất truỵ lạc, ngược lại, đâu đó trong tâm thức của cậu vẫn dành chỗ cho cội nguồn, cho những truyền thống bản địa đã phai nhạt dần trong trận cuồng phong “mưa Âu gió Mĩ”.
Như vậy, có thể khẳng định quê hương trong truyện Cho trận gió kinh thiên không phải một điểm trở về mà là một vấn đề căn tính: Vĩnh Long là quê gốc nhưng gắn với mặc cảm, giới hạn và vết thương quá khứ; trong khi Sài Gòn là quê mới nhưng lại là không gian tạm bợ, lai ghép, đầy rẫy những thực dụng và tha hóa. Chính sự phân đôi ấy làm cho các chủ thể hậu thuộc địa trong Cho trận gió kinh thiên phải tồn tại trong tình cảnh vừa thuộc về vừa không thuộc về, vừa hoài nhớ vừa phủ định, vừa không ngừng tìm kiếm chốn nương náu vừa liên tục bị đẩy vào trạng thái lạc loài, tha hương.
3. Kết luận
Trong bối cảnh đô thị miền Nam hậu thuộc địa, các nhân vật được kiến tạo như một sản phẩm “lai ghép” (giữa Đông - Tây, truyền thống - hiện đại, cá nhân - xã hội), vừa bắt chước vừa phản kháng các giá trị ngoại lai, và bởi vậy, họ thường rơi vào trạng thái lạc loài, “không thuộc về đâu cả”: không còn hoàn toàn là truyền thống, cũng không thực sự Tây hóa, đồng thời luôn chịu sự giằng xé giữa các hệ giá trị. Các chủ thể thuộc địa trong Cho trận gió kinh thiên bị mắc kẹt giữa những lực hút trái chiều - họ không hoàn toàn thuộc về nền văn hóa thực dân, cũng không còn thuộc về quê hương bản xứ nguyên vẹn. Chính tình thế nước đôi ấy làm nên tâm thức cô đơn, lạc loài và đứt gãy căn tính trong thế giới nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ.
Chú thích:
1, 3, 4 Xem thêm trong Homi K. Bhabha (1994), The Location of Culture, Routledge.
2 Lê Thị Vân Anh (2010): “Tính chất nước đôi của chủ thể hậu thuộc địa trong Vu khống của Linda Lê”, Tạp chí Văn học Nước ngoài, số 3, tr. 62-72.
5 Nguyễn Vy Khanh (2019), Văn học miền Nam 1954-1975: Tác giả (Quyển hạ), NXB. Nhân Ảnh, tr. 1291.
6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 15, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24 Nguyễn Thị Thuỵ Vũ (1973), Cho trận gió kinh thiên, NXB. Nguyễn Đình Vượng, tr. 28-29, 29, 85, 266, 282, 266, 168, 143, 242-243, 35, 300-301, 301, 300-301, 93, 139, 168, 223.
13 Đây là cách gọi mang tính khẩu ngữ của người dân Nam Bộ. Mẽo: người Mĩ; Tây: người Pháp; Chệt: người Hoa; Chà Và: người Ấn Độ/ Nam Á; Nam Vang: tên gọi cũ của Phnom Penh (Campuchia).
16 Homi K. Bhabha (1994), “Of Mimicry and Man: The Ambivalence of Colonial Discourse”, in The Location of Culture, Routledge, p. 86.