KHỦNG HOẢNG LUÂN LÝ TRONG BỐI CẢNH THUỘC ĐỊA: TRUYỆN NGẮN VŨ TRỌNG PHỤNG TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH LUÂN LÝ HỌC VĂN HỌC

Vận dụng lý thuyết phê bình luân lý học văn học, bài viết phân tích khủng hoảng luân lý trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng trên ba phương diện: xung đột luân lý trong tình yêu, hôn nhân; khủng hoảng nhân tính dưới tác động kinh tế tư bản; khủng hoảng chuẩn mực giá trị trước phong trào Âu hóa.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, biến Việt Nam từ một nước phong kiến trở thành một nước nửa thực dân nửa phong kiến, trở thành thuộc địa của Pháp. Biến động xã hội dữ dội đó đã dẫn đến khủng hoảng luân lý trong xã hội nước ta. Là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc nhất của Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, Vũ Trọng Phụng (1912-1939) đã thể hiện khủng hoảng luân lý ở nhiều thể loại khác nhau như phóng sự, tiểu thuyết, kịch và truyện ngắn. Mặc dù thành tựu nổi bật của Vũ Trọng Phụng là phóng sự và tiểu thuyết, nhưng truyện ngắn cũng có nét đặc sắc riêng, góp phần làm phong phú thêm cho sự nghiệp sáng tác của ông. Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng đã thể hiện khủng hoảng luân lý trong bối cảnh thuộc địa ở Việt Nam đầu thế kỷ XX một cách đặc sắc.

“Phê bình luân lý học văn học là một phương pháp dùng để đọc, phân tích và lý giải tác phẩm văn học, nghiên cứu tác giả và các vấn đề văn học từ góc độ luân lý học. Tư tưởng cơ bản của phương pháp này đó là, văn học về bản chất là nghệ thuật của luân lý vì nó là sự biểu đạt đặc thù những ý tưởng luân lý và đời sống đạo đức trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt”1. Từ xưa đến nay, văn học Việt Nam không tách rời các vấn đề luân lý đạo đức. Ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, các vấn đề luân lý đạo đức được thể hiện trọng tâm là xung đột giữa luân lý đạo đức truyền thống và khát vọng của con người cá nhân hiện đại trong văn học lãng mạn, vấn đề đạo đức nhân phẩm của cá nhân với hiện thực nghiệt ngã “ghì sát đất” trong văn học hiện thực phê phán. Theo Đỗ Văn Hiểu, văn học Việt Nam là “mảnh đất màu mỡ để phê bình luân lý học văn học phát triển”2. Bài viết này vận dụng phương pháp nghiên cứu của phê bình luân lý học văn học phân tích một số vấn đề: xã hội nửa thực dân nửa phong kiến và xung đột luân lý trong tình yêu, hôn nhân; kinh tế tư bản và lựa chọn luân lý; phong trào Âu hóa và khủng hoảng chuẩn mực giá trị trong truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng.

1. Xã hội nửa thực dân nửa phong kiến và xung đột luân lý trong tình yêu, hôn nhân

Trước khi thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam là xã hội phong kiến chịu ảnh hưởng sâu sắc của những quy chuẩn luân lý đạo đức Nho giáo. Khi thực dân Pháp xâm lược, đã thực hiện một loạt các biện pháp cai trị biến Việt Nam thành nước thực dân nửa phong kiến. Sự thay đổi về hoàn cảnh luân lý này đã dẫn đến sự xung đột luân lý trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tình yêu, hôn nhân. Trong xã hội pha trộn yếu tố tư bản và phong kiến, các chuẩn mực đạo đức mâu thuẫn, xung đột với nhau. Xã hội tư bản cổ vũ con người đi tìm tự do cá nhân, thức dậy những nhu cầu cá nhân, thì xã hội phong kiến lại coi trọng nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận, thậm chí cả những quan niệm cổ hủ về trinh tiết. Điều này được Vũ Trọng Phụng thể hiện bằng cái nhìn phê phán mang chất trào phúng châm biếm.

Truyện Con người điêu trá là câu chuyện về mối tình giữa Bích Nga - bà tham Ngọc và nhân vật “tôi” - nhà văn sĩ T.L. Nhan đề của truyện cũng đã hàm chứa sự vi phạm luân lý tình yêu: dối lừa, không trung thực, đồng thời đặt ra một nghi vấn, khơi gợi sự tò mò: ai là con người điêu trá hay ai là người vi phạm luân lý đạo đức. Nhân vật Bích Nga vốn là người con gái Huế, có quá khứ đau thương, bi đát: mồ côi từ nhỏ, hôn nhân không hạnh phúc, sống cô đơn, bơ vơ, lẻ loi. Nhân vật “tôi” mâu thuẫn trong tình cảm: yêu Bích Nga say đắm, thiết tha, khẳng định cảm hứng sáng tác cũng là nhờ được gần gũi Bích Nga mới có thể cầm bút. Nhân vật “tôi” yêu Bích Nga ngay từ lần gặp đầu tiên, coi đó như một định mệnh, muốn được cưới nàng làm vợ nhưng ban đầu bị từ chối nên nghĩ cách đi xa để không phải gặp mặt nàng. Yêu Bích Nga bao nhiêu, nhân vật «tôi» lại càng giận dữ, căm ghét Bích Nga bấy nhiêu bởi nàng là «con người điêu trá». Sống hạnh phúc bên Bích Nga, tin mọi điều nàng nói, không ngờ vực cho đến khi phát hiện ra chuyện nàng nói dối. Như vậy, nhân vật «tôi» đã rơi vào khốn cảnh luân lý: bị người mình yêu thương lừa dối, cho đến khi nàng chết đi cũng không biết được người yêu mình là ai, là người như thế nào. Dù yêu thương hay căm ghét người yêu thì nhân vật “tôi” vẫn phải chịu đựng những tổn thất: yêu nhưng không thể chịu đựng sự lừa dối từ người mình yêu, nếu ghét bỏ thì lại rơi vào mâu thuẫn với chính tình cảm của mình. Nhân vật Bích Nga cũng là một con người chịu đựng những tổn thương khi không dám sống thật trong tình yêu, phải che giấu thân phận, đeo mặt nạ với chính người mình yêu thương.

Chuẩn mực đạo đức trong hôn nhân nằm ở sự chung thuỷ, thành thực và trách nhiệm. Lừa dối, phản bội là biểu hiện vi phạm đạo đức hôn nhân. Tác phẩm Lòng tự ái có sự xuất hiện của hiện tượng hỗn loạn luân lí: mối quan hệ tay ba giữa Phạm Quang, vợ của Phạm Quang (còn gọi là chị Quang) và cô Oanh - em họ của chị Quang nhưng lại là người mà Phạm Quang phải lòng say đắm. Trước khi cưới vợ, Phạm Quang có hỏi cưới nhưng cô Oanh lại không thuận nên anh hỏi đến người vợ hiện tại là chị Quang. Cô Oanh đi lấy chồng nhưng hôn nhân tan vỡ nên đau buồn mà mắc tâm bệnh. Có lẽ vì nhớ tiếc người cũ, vì hối hận nên cô mới nhắc đến tên người đã phải lòng cô, người mà cô đã không lấy, tức là Phạm Quang. Phạm Quang có những cử chỉ thân mật với Oanh, thuật lại cuộc gặp gỡ, thăm hỏi giữa mình và cô Oanh cho vợ nghe, hỏi ý kiến vợ tìm cách để giúp cô Oanh khỏi tâm bệnh; thậm chí còn bộc bạch trực tiếp cảm xúc đối với Oanh cho vợ nghe: “Oanh yêu tôi! Yêu nồng nàn, yêu thiết tha! Có nên làm mất cái tình cảm tốt đẹp hiếm có ấy trong lòng một người đàn bà mà tôi đã yêu xưa kia không? [...]. Sự thực, tôi vẫn còn thương Oanh lắm”3. Xét trên thân phận luân lý trong mối quan hệ với chị Quang, Phạm Quang là một người chồng, trách nhiệm của anh là thuỷ chung, yêu thương vợ. Xét trong mối quan hệ với cô Oanh, Phạm Quang mang hai thân phận luân lý: thân phận thứ nhất là người anh rể – cần phải giữ chừng mực với em họ của vợ; thân phận thứ hai là người yêu cũ vẫn còn vương lại nỗi niềm yêu đương với Oanh. Thế nhưng trong tình huống này, nhân vật đã để ý chí tự do chiến thắng ý chí lý tính: cảm xúc yêu đương cá nhân đã lấn át lý trí của nhân vật, anh không còn nghĩ đến cảm xúc của người vợ, cũng không bận tâm đến mối quan hệ anh rể – em họ. Nhân vật người chồng “hữu luân” trong tương quan với luân lý tình yêu mà anh dành cho Oanh nhưng vi phạm luân lý trong mối quan hệ hôn nhân với vợ của mình. Nhân vật Oanh cũng vi phạm cấm kỵ luân lý: đã có chồng con, có gia đình nhưng lại thổ lộ tình cảm với anh rể – chồng của chị họ mình. Truyện ngắn cũng đào sâu vào tâm lý của con người trong tình yêu, trong mối quan hệ vợ chồng. Nhân vật người vợ được khắc hoạ với những mâu thuẫn trong tâm lý, cảm xúc khi đứng trước tình huống người chồng đầu ấp tay gối của mình thừa nhận tình cảm với chính em họ của mình. Người vợ vừa mang tâm lý ghen tuông, tổn thương thể hiện qua cái nhìn ranh mãnh, tiếng cười gằn, giọng điệu chế giễu, vừa phải kìm nén lòng ghen ấy để cao thượng, thấu hiểu cho chồng và em họ. Người vợ đã rơi vào khốn cảnh luân lý. Với thân phận luân lý thứ nhất là một người phụ nữ có chồng, một con người với xúc cảm cá nhân trong tình yêu, chị Quang hoàn toàn có quyền “ghen tuông”, thậm chí căm ghét chồng và người em họ để bảo vệ hạnh phúc của bản thân. Với thân phận luân lý thứ hai là một người vợ, một người chị trong gia đình, chị Quang mong muốn bảo vệ danh dự cho chồng và cứu sống người em họ đang mắc tâm bệnh. Đối ngược với sự lựa chọn của chồng và em họ, nhân vật đã đưa ra lựa chọn luân lý: kìm nén ý chí tự do, xúc cảm cá nhân để làm tròn thân phận luân lý thứ hai là vợ, là chị trong gia đình.

Tập trung khai thác vấn đề luân lý trong tình yêu, hôn nhân, “truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng không đề cập tới những vấn đề lớn của xã hội như tiểu thuyết và phóng sự, mà chủ yếu khai thác những trạng thái tâm lí khác nhau trong cuộc sống thường ngày của con người”4. Nhưng qua những lát cắt tâm lý ấy, người đọc có thể thấy được bóng dáng của xã hội và những biến động trong đời sống tình cảm con người thời Pháp thuộc. Các xung đột trong tình yêu và hôn nhân thực chất là kết quả của sự va chạm giữa lối sống đô thị phương Tây và đạo đức truyền thống. Sự va chạm giữa khát vọng cá nhân trong xã hội tư sản và nghĩa vụ, bổn phận theo lễ giáo phong kiến đã đẩy các nhân vật vào những khốn cảnh luân lý không lối thoát.

2. Yếu tố kinh tế tư bản và khủng hoảng nhân tính

Thực dân Pháp xâm lược và cai trị đã đẩy cuộc sống của người Việt Nam vào tình cảnh vô cùng khó khăn, người dân, từ trí thức đến nông dân, luôn phải đối diện với vấn đề miếng cơm, manh áo. Hơn nữa, sự cai trị của thực dân Pháp đã kéo theo sự phát triển của kinh tế tư bản trong lòng xã hội Việt Nam. Chính bối cảnh đó đã khiến lối sống coi trọng vật chất thâm nhập vào trong đời sống xã hội một cách mạnh mẽ. Hoàn cảnh luân lý đó đã tác động sâu sắc tới lựa chọn luân lý của con người: giữa đạo đức truyền thống và tiền bạc, nhân vật trong truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng đã chọn tiền bạc.

Trong truyện Bộ răng vàng, nhà văn đã dựng lên cảnh tượng trái ngược với luân thường đạo lý về ứng xử của những đứa con trước cái chết của bố mình. Vũ Trọng Phụng miêu tả đầy khách quan, lạnh lùng nhưng cũng đậm chất mỉa mai, cay độc, từ đó vạch trần tâm địa khốn nạn, đểu cáng và sự bất hiếu của hai đứa con đối với người cha. Bộ răng vàng của ông bố tồn tại như một thử thách cho những lựa chọn luân lý của các con. Ông bố là một cụ già đã gần tám mươi tuổi, lại bệnh nặng đến mức không còn khả năng tự chăm sóc bản thân, cứ nằm liệt giường cho đến lúc qua đời. Trước cái chết của bố, hai người con và vợ của chúng chẳng hề mảy may đau xót, tiếc thương mà chỉ tính toán việc chia gia tài, mưu cầu chức tước. Sự đối lập giữa trạng thái vui mừng, sung sướng của con trai con dâu với sự cô độc, lẻ loi, lạnh lẽo của “cái một cái thây ma phủ dưới một cái chăn đơn”5 – một cảnh tượng trái ngược luân thường đạo lý. Câu chuyện được đẩy lên cao trào khi người em nhớ ra việc lúc sinh thời, ông bố có trồng răng vàng. Trước sự bất ngờ đó, người con dâu thứ hai sợ sệt can ngăn chồng nhưng sự ngăn cản của chị ta không phải xuất phát từ lòng yêu thương, kính trọng bố chồng đã khuất mà sâu xa bên trong vẫn là vì lợi ích của bản thân, mong cầu nhận được sự phù hộ của người âm. Lợi dụng lúc đêm tối, “thằng hai” lẻn vào buồng dùng hết sức, cố vành mồm người chết móc ra được bộ răng vàng. Nhưng rồi, nó rú lên sợ hãi bỏ chạy khi vô tình nhìn thấy gương mặt đáng sợ của người chết như đang nguyền rủa đứa con bất hiếu. Vợ chồng người anh cả nhanh chóng nắm bắt và hiểu rõ sự việc, miệng mắng các em là bất hiếu nhưng không lắp lại răng cho bố mà nhanh nhẹn nhặt bộ răng vàng bỏ túi. Những con người trong truyện đều là con trai ruột, con dâu của ông cụ, đáng lẽ bổn phận của họ là phải yêu thương, quý trọng, chăm nom khi bố ốm đau; lo việc an táng, cúng giỗ đàng hoàng, trang trọng khi bố mất nhưng tất cả họ đều không làm tròn bổn phận luân lý của mình. Mọi suy nghĩ, hành động của họ cho thấy họ đã lựa chọn tiền bạc, của cải, gia sản, lợi ích cá nhân, đặc biệt là bộ răng vàng. Họ đã lựa chọn hủy hoại nhân phẩm trước sức mạnh của đồng tiền.

Truyện Bà lão loà lại trào phúng sâu cay về sự lung lay tận gốc của luân lý gia đình. Đồng tiền có sức mạnh vạn năng khi nó có thể quy định thái độ và cách cư xử của con người với con người: thời bà lão còn có của, biết bao nhiêu mảnh đời bất hạnh đã được bà cưu mang, nhưng đến khi sa cơ lỡ vận, bà lại chẳng nhận lại được bất cứ sự giúp đỡ nào. Cũng vì đồng tiền, vì miếng ăn mà bác đánh giậm – cháu họ của bà lão – chẳng còn nhớ đến ơn huệ ngày trước, bác vừa thực thi bổn phận của người cháu vừa oán trách, xót ruột coi người cô như một gánh nặng trong gia đình. Vợ của bác đánh giậm thì quát bà lão loà khi bà lẩy bẩy chìa bát ra toan xin thêm cơm nữa, xỉa xói và bắt bà lão đi ăn xin bằng giọng đay nghiến, chua chát. Vũ Trọng Phụng đã đặt vợ chồng bác đánh giậm vào lựa chọn luân lý: trời mây kéo đen nghịt, nổi một cơn giông, bà lão loà vẫn đang ngồi ở đê ăn xin. Với mệnh đề đặt ra là đón bà lão loà về khi cơn giông bão đến, sẽ có hai kết quả đối lập nếu giải quyết. Nếu đón bà lão về rồi cùng nhau ăn cơm vì hôm nay bác đánh giậm được mẻ phát tài thì vợ chồng bác đã hoàn thành trách nhiệm đạo đức đối với ân nhân của mình. Bởi họ là những người chịu ơn cứu giúp của bà lão loà, vợ chồng bác đánh giậm cần khắc ghi ơn nghĩa ấy, chăm sóc và cưu mang khi bà lão rơi vào cảnh khốn cùng. Nhưng nếu đưa bà lão về thì gia đình bác đánh giậm sẽ tiếp tục chịu cảnh đói nghèo, thiếu ăn mà nhà lại thừa ra một miệng ăn không có khả năng lao động. Đứng trước tình huống đó, vợ chồng bác giậm đã đưa ra lựa chọn luân lý: cố tình quên đi sự tồn tại của bà lão loà mặc dù trong thâm tâm, bác đã có lúc khựng lại nghĩ về tình cô cháu mà “rùng mình, rợn tóc gáy”. Sự lựa chọn ấy đã đẩy vợ chồng bác đánh giậm vào vi phạm cấm kỵ luân lý: sát nhân gián tiếp “xác một người đã bị quạ mổ nát nhừ, xác bà lão loà bị gió thổi xuống ruộng đêm hôm trước”6. Kết thúc truyện khiến người đọc không khỏi dấy lên niềm xót thương cho nhân vật bà lão loà và lòng bất bình trước sự lựa chọn tàn nhẫn của gia đình đánh giậm. Như thế, vấn đề lựa chọn luân lý đã đặt ra thật sâu sắc trong tác phẩm: tiền bạc, nghèo đói, bần cùng thường đẩy con người vào chốn bùn nhơ, buộc con người vào vòng tội lỗi, đánh đổi lương tâm.

Truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng còn bóc trần hiện thực rằng: đồng tiền đã và đang len lỏi vào khối óc của từng hạng người với từng chức vụ nghề nghiệp trong xã hội. Truyện Cuộc vui ít có bắt đầu bằng việc nhân vật “tôi” được người bạn rủ ở lại để sang dự bữa tiệc mừng thọ 70 tuổi của ông bố của một bác thủ quỹ trong làng. Với thân phận luân lý là thầy thuốc, cụ Tỳ và cụ Phế có trách nhiệm là khám chữa bệnh chính xác, giữ kín thông tin cũng như tình trạng của bệnh nhân. Thế nhưng, cả hai đều không tuân thủ đạo đức nghề nghiệp: không có chuyên môn dẫn đến khám chữa bệnh không chính xác, tiết lộ bệnh tình của bệnh nhân, thậm chí họ còn vi phạm cấm kỵ luân lý sát nhân – tước đoạt sinh mệnh. Đó là những con người để ý chí tự do – sự coi trọng đồng tiền, đề cao danh dự của bản thân hơn tính mạng của người khác – lấn át ý chí lý tính, dẫn đến tha hoá đạo đức. Tương tự, nhân vật thầy lang trong Bệnh lao chữa bằng mồm thì thuộc hạng thầy thuốc “nhà buôn”. Vì nhà buôn phải quảng cáo... phải nói quá nên ông ta luôn khoác lác, lừa bịp khách bệnh. Nhưng đến khi phải khám bệnh cho người quyền thế là con gái của Chánh mật thám, thầy lang kinh hãi, tái mặt vì sợ bị bại lộ việc khoác lác bịp bợm nên đành bỏ ra một cuốn giấy bạc để bịt miệng. Nhân vật Thuỵ trong tác phẩm Máu mê là một viên chức nhà nước đang mãn nguyện như đa số các viên chức khác vì cả ngày không bận bịu việc gì, chỉ ngồi yên làm những việc vặt vãnh như đọc truyện, cắn móng tay, lấy ráy tai thì đột ngột nhận được tin dữ: thanh tra ngày mai sẽ khám két. Điều đáng quan ngại là Thuỵ đã lỡ mượn tạm két ngót ba trăm bạc. Như vậy, với thân phận luân lý là một người làm việc trong cơ quan nhà nước, hành động Thuỵ lấy tiền trong két để thoả mãn cho mục đích cá nhân là vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật. Đây là một nút luân lý đẩy nhân vật lún sâu hơn vào vũng lầy của những canh bạc đen đỏ.

Có thể nói, truyện ngắn Vũ Trọng Phụng đã nêu bật thực trạng nhức nhối, con người đánh mất mình trước sức mạnh vạn năng của đồng tiền. Cùng với truyện dài, kịch ngắn, truyện ngắn của ông đã “vẽ rõ thêm bộ mặt xấu xa, thối nát, rởm hợm, đầy những bất công, vô lý… của xã hội thực dân phong kiến, trong đó đồng tiền có một thế lực vạn năng, và mặt khác, cũng nói tới những khía cạnh tốt đẹp, những ước mơ của con người, v.v…”7.

3. Phong trào Âu hóa và khủng hoảng chuẩn mực giá trị

Thực dân Pháp xâm lược và cai trị đã kéo theo phong trào Âu hóa ở đầu thế kỷ XX tại Việt Nam. Phong trào này thể hiện trên nhiều phương diện, như tiếp thu các giá trị dân chủ, bình đẳng giới, tự do cá nhân từ phương Tây, đối lập với chế độ phong kiến truyền thống, kêu gọi giải phóng phụ nữ, thay đổi ăn mặc, lối sống... Trong giai đoạn đó, xã hội Việt Nam vô cùng phức tạp, các yếu tố Đông Tây lẫn lộn, “mưa Âu gió Á”, các chuẩn mực giá trị va chạm nhau gay gắt. Trước yếu tố mới lạ đến từ phương Tây, không ít người trong thời điểm đó đã lựa chọn học theo, nhưng sự lựa chọn này lại bộc lộ những mặt trái của nó.

Trước hết, đó là sự lựa chọn lối sống lãng mạn rởm, hưởng lạc, bê tha, phung phí – sản phẩm của phong trào Âu hoá vật chất thời bấy giờ. Trong tác phẩm Người có quyền, tác giả giễu cợt phong cách sống nửa mùa của giới trẻ đương thời – con đẻ của phong trào Âu hoá – được khắc hoạ đậm nét qua góc quan sát của nhân vật “anh” với các chi tiết: em gái và các cô bạn mặc trang phục tân thời đi chơi Hồ Tây hay em trai chỉ giỏi thể hiện hát lối nước ngoài, sống buông thả, chơi bời với vũ nữ, gái tân thời. Truyện Hồ sê líu hồ líu sê sàng đã phác hoạ một cách chân thực, sinh động cuộc sống sinh hoạt đời thường «kỳ lạ” của một gia đình tiểu trí thức ở thành thị. Câu chuyện xoay quanh gia đình danh hoạ Khôi Kỳ. Sự nực cười không chỉ đến từ cái tên nhân vật chính mà còn từ sự đối lập giữa hoạ sĩ Khôi Kỳ và những người phụ nữ trong gia đình. Ông bố Khôi Kỳ ngày ngày cặm cụi từ rất sớm để làm việc trong căn phòng bừa bộn của các cô con gái tân thời. Ông có tài nhưng vẫn nghèo nên làm ăn rất chăm chỉ, mong muốn được mở một cuộc triển lãm, nhưng vì vợ con nên phải vất vả mưu sinh. Trái ngược với dáng vẻ kham khổ, bận bịu mưu sinh của bố, Bạch Vân và Tuyết Nương là hai cô gái quý của nhà danh hoạ lại được ví những nàng tiên sa cõi thế, không phải động tay vào bất cứ công việc gì. Bà vợ của nhà danh hoạ cũng rất đẹp nhưng chỉ chạy theo những sở thích mà bà cho là lãng mạn: mùa rét thì ngủ trong chăn ấm, mùa nực thì gội đầu xoã tóc nằm đọc tiểu thuyết. Đời sống sinh hoạt của gia đình tiểu trí thức thành thị cũng thật khôi kì. Nhà cửa dù là phòng khách hay phòng ngủ đều “chưa bầy xong” hoặc “đến mai xếp dọn”; “miễn sao ra ngoài đường, bà con phải nhầm là nhà có của”. Thế nhưng mọi người ai cũng nhìn ra “cái tủ chè khảm nhưng mặt kính vỡ chửa có tiền thay. Hoặc trên bàn thờ, cái bát nhang sứt vì mèo nhảy đổ”8 khi nhìn hé qua cánh cửa. Những chi tiết thể hiện sự đối lập giữa biểu hiện bên ngoài và bản chất thật của lối sống bừa bãi, cẩu thả, nửa mùa. Xét trên thân phận luân lý là một người vợ, một người mẹ, bà mẹ cần làm tròn trách nhiệm trong việc chăm lo gia đình và giáo dục con cái, thế nhưng bà chỉ nằm chao mình trong võng, mơ màng đến cái sắc đẹp thưở xưa. Hai người con cũng không quan tâm và yêu thương bố, chỉ biết đòi hỏi những giá trị vật chất.

Vũ Trọng Phụng còn châm biếm lối sống nô lệ giả dối, lời nói không đi đôi với việc làm, trong Từ lý thuyết đến thực hành. Nhân vật chính của truyện là một anh đi Tây về, là một người Âu hoá và “tự cho đã Âu hoá hoàn toàn”9. Ở Pháp về, anh chỉ giao thiệp với người Tây, chỉ yêu quý người Tây, chỉ có nói tiếng Tây. Nhân vật gửi gắm hàm ý giễu cợt phong trào Âu hoá “vui vẻ trẻ trung” của Tự lực văn đoàn. Nhân vật biểu hiện mình là người Âu hoá từ cách ăn ở, cử chỉ, ngôn ngữ cho đến cả bàn thờ ông vải trong nhà. Anh ta có một quan niệm đặc biệt Tây phương, “Âu hoá cả trăm phần trăm” – quan niệm về nạn mọc sừng. Anh ta đăng đàn diễn thuyết một cách hùng hồn: “Trong khi ngày cưới chỉ là ngày tận số của ái tình, thì ngoại tình chính là sự cách mệnh tự nhiên đối với điều trói buộc nhân tạo của hôn sự. Muốn tỏ mình đã văn minh, nhân loại chỉ nên coi sự thông dâm là một điều giải phóng cho cái lòng người ham thay đổi...”10. Vũ Trọng Phụng đã tạo cho anh chàng Âu hoá hoàn toàn này một lối nói táo bạo khi liên tục nhấn mạnh về sự “vô cùng thành thực”, sự “hiểu biết thấu triệt”, như muốn để người đọc tin rằng, nếu anh ta có bị cắm sừng thì anh ta cũng sẽ coi việc đó như một dấu hiệu của văn minh, chỉ là một cái nạn nhỏ, không đáng để ý. Theo quan niệm truyền thống của dân tộc, con người cần giữ vững chuẩn đạo đức luân lý về sự thuỷ chung, thành thực không chỉ trong tình yêu mà bao hàm mọi mối quan hệ trong đời sống. Ngoại tình, phản bội là biểu hiện của việc để ý chí tự do, ý chí bản năng lấn át ý chí lý tính. Nhân vật “anh” trong tác phẩm vốn là một người trí thức Tây học, bổn phận của người trí thức là không ngừng học hỏi, làm giàu trí tuệ, từ đó truyền bá những kiến thức, tư tưởng đúng đắn, nâng cao nhận thức của cộng đồng, làm gương về đạo đức và lối sống cho cộng đồng; nhưng anh lại cổ xuý và truyền tải những quan niệm, tư tưởng lệch lạc, sai trái, đi ngược với truyền thống đạo đức, thuần phong mĩ tục của dân tộc. Để rồi, một tình huống trớ trêu đã xảy đến với nhân vật: chính người trí thức Tây học ấy lại vướng vào nạn mọc sừng. Dù cố gắng khoác lên mình diện mạo Âu hoá, tân thời nhưng cuối cùng mặt nạ của nhân vật cũng đã bị lột bỏ. Kết truyện, vợ anh ta ngoại tình và người ta thấy con người Âu hoá ấy ngày ngày nằm dài tại tiệm hút, anh ta đã bỏ vợ, sống bê tha, buông thả. Tình cảnh ấy mâu thuẫn với lý thuyết mà anh ta diễn giảng khiến người đọc bật ra tiếng cười trào phúng.

Vũ Trọng Phụng cũng hướng ngòi bút của mình đến lối sống vô nghĩa, bê tha như nhân vật Pierre Quyền trong Đời là một cuộc chiến đấu, những cảnh tượng ăn uống lãng phí, lố bịch, bệ rạc của đám quan chức và cô đầu trong Ăn mừng. Nhân vật Pierre Quyền trong Đời là một cuộc chiến đấu được xây dựng như một hình ảnh đại diện cho số đông thanh niên Việt Nam đương thời: nghiện hút, sống bê tha, rệu rã, không lý tưởng. Pierre Quyền là con trai của một gia đình trọc phú có tiếng tăm, có điều kiện được sang Pháp du học, hôn nhân hạnh phúc khi lấy được người vợ trẻ đẹp. Như thế, nhân vật mang thân phận luân lý là người trí thức. Ý chí lý tính của anh ta được thể hiện qua việc có trong óc một thứ lý tưởng với những lời triết lý: “Vì rằng người ta ai cũng thế cả, dầu nghèo, hay giàu, dẫu thừa thãi hay thiếu thốn, thì đều cùng khổ sở cả, duy cái khổ của thằng giàu khác với cái khổ của thằng nghèo, thế thôi”11. Nhân vật có nhận thức về nỗi khổ của loài người, về bản chất của cuộc đời nhưng ý chí lý tính của anh đã để cho ý chí tự do lấn át hoàn toàn. Là người thuộc tầng lớp trí thức nhưng Pierre Quyền lại chẳng có nổi một mảnh văn bằng trong tay, mỗi ngày hút xoàng mất ba đồng bạc thuốc phiện, tất cả tài năng và kiến thức của người trí thức này “thu lại và hiện hình” qua căn phòng hút thuốc phiện như một cảnh Bồng Lai. Điều đặc biệt của truyện ngắn này là những con số liên tục xuất hiện trong tác phẩm, đó là số lượng điếu thuốc phiện mà P. Quyền hút trong mỗi lần: “sốt sắng phi thường, thở dài một cái sung sướng như một đứa trẻ vừa uống xong thìa dầu gan cá thu với điếu thứ 61, tỏ vẻ thẫn thờ nhớ tiếc như một người nạ giòng than phiền cái tuổi xuân qua khi ở điếu thứ 69, điếu thứ 71 và 72 nhanh nhẹn, vui vẻ, hùng hồn bao nhiêu, thì điếu thứ 78 và 79 buồn rầu, uể oải, phân vân, thất vọng bấy nhiêu…”12. Khi giới thiệu P. Quyền là dân nghiện thuốc phiện thì nhà văn ngay lập tức nhấn mạnh đó là “cái điều lý tưởng của một số đông thanh niên Nam Việt” hay thẳng thắn chỉ ra sự đối lập lý tưởng của thanh niên xưa và nay: “Xưa kia, lý tưởng thanh niên là khôn lớn thì làm quan. Bây giờ cái lý tưởng ấy đã đổi: khôn lớn thì giầu, thì trúng số độc đắc, để có thể an tâm nằm một chỗ mà hút, và không làm một việc gì cả”13.

Trong truyện ngắn Tết ăn mày, Vũ Trọng Phụng đề cập đến một hình thức sinh hoạt văn hoá: ca trù. Ca trù vốn là một loại hình nghệ thuật độc đáo được giới quý tộc và trí thức yêu thích, là một nét đẹp trong đời sống văn hoá của dân tộc. Trong tác phẩm, nhà văn đã lý giải nguyên nhân dẫn đến sự thịnh suy của loại hình nghệ thuật này qua cuộc đời thăng trầm của nhân vật Cúc Nương – một cô đầu. Từ cảnh tượng chua chát của thực tại, Cúc Nương mường tượng lại những ngày thịnh thời của nghề đàn phách. Thời ấy, hát ca trù là một niềm vinh dự, các đào nương được coi trọng, giữ gìn được nhân phẩm và lòng tự trọng. Đối lập với thời xưa, giờ đây danh vọng đối với Cúc Nương chỉ còn là dĩ vãng. Vũ Trọng Phụng không ngần ngại vạch rõ sự tác động của bối cảnh xã hội đương thời, lối sống và phong trào Âu hoá nửa mùa: “Khách hàng không hỏi mua giọng hát nữa. Làng chơi đã đổi hẳn thị dục. Làng chơi cần cái đẹp, cái mới, cái dễ”14. Giờ đây, trước sự tác động của lối sống Âu hóa lãng mạn rởm hợm, nửa mùa, thị hiếu của con người hạ thấp trầm trọng: họ không còn quan tâm đến giá trị truyền thống mà ca trù đem lại, thứ hấp dẫn họ là sự tân thời, men say, thuốc phiện, dục tính. Địa vị của cô đầu hay đào nương cũng không còn được coi trọng: phải hạ mình van xin quan viên và bị khinh rẻ. Câu chuyện phảng phất nỗi xót xa khi con người đánh mất lòng tự trọng, phẩm giá vì mưu sinh.

Như thế, có thể thấy, Vũ Trọng Phụng đã lột trần mặt trái của phong trào Âu hóa hời hợt nửa đầu thế kỷ XX: lối sống nửa mùa, sự tha hóa của tri thức khi dùng lý thuyết tự do để ngụy biện cho sự phản bội, ngoại tình hay trốn tránh trách nhiệm, sự xuống cấp của thị hiếu khi nhu cầu hưởng lạc tầm thường đã bức tử các giá trị nghệ thuật truyền thống. Từ đó, nhà văn gióng lên hồi chuông cảnh báo về việc chạy theo Âu hóa mù quáng, bỏ quên nền tảng đạo đức xã hội sẽ tạo ra một thế hệ hỗn loạn, mất phương hướng, suy thoái về nhân cách.

4. Kết luận

Vũ Trọng Phụng là một trong những tài năng xuất sắc của văn học hiện đại Việt Nam với cá tính sáng tạo độc đáo, theo đuổi lý tưởng sáng tác “muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời”: “Nhà văn tả chân phải là người dũng cảm đối diện với sự thật cho dù nó tàn nhẫn, khắc nghiệt, trái với sự mong đợi của mình”15. Chính vì thế, không chỉ ở phóng sự, tiểu thuyết, mà ở thể loại truyện ngắn, ông cũng nhiệt tình phơi bày mặt trái của hiện thực – khủng hoảng luân lý trong bối cảnh thuộc địa ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Nếu phóng sự của ông là những cuộc điều tra với số liệu xác thực, tiểu thuyết của ông là những số phận, những cuộc đời với nhiều biến động, thì truyện ngắn của ông lại là những lát cắt, những tình huống oái oăm, nhức nhối, khiến người đọc phải suy ngẫm. Vẫn giữ cái nhìn sâu sắc tinh tế về hiện thực, vẫn giọng điệu trào phúng, giễu nhại, vẫn thái độ không khoan nhượng với xấu xa trong xã hội, nhưng ở thể loại truyện ngắn, khủng hoảng luân lý mang đến một sức tác động riêng. Truyện ngắn của ông xuất hiện nhiều “con người vi phạm đạo đức xã hội”, ông “đau đáu trước tình trạng con người vì mưu sinh mà đánh mất lòng tự tôn, phẫn nộ trước thực tế có bao kẻ trong ngoài bất nhất sống đời mặt nạ”16, “mỗi vấn đề đạo đức, khuynh hướng đạo đức đều gắn với trăn trở của nhà văn về đời sống, phản chiếu cái bóng thời đại trước 1945”17. Thể loại văn học không đơn thuần chỉ là vấn đề cấu tạo văn bản, mà còn là vấn đề thế giới quan, vấn đề cái nhìn, cách tiếp cận đời sống. Vì thế, bên cạnh tiểu thuyết, phóng sự, kịch, thì truyện ngắn đã mang đến cho người đọc một góc nhìn khác của Vũ Trọng Phụng về thời điểm lịch sử đầy biến động lúc bấy giờ.

 

 

 

Chú thích:
1 Nhiếp Trân Chiêu (2014), Dẫn luận phê bình luân lý học văn học, NXB. Đại học Bắc Kinh, tr. 1.
2 Đỗ Văn Hiểu (2016): “Phát triển phê bình luân lí học văn học ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm, số 5, tr. 56.
3, 5, 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15 Vũ Trọng Phụng (2016), Vũ Trọng Phụng truyện ngắn – tạp văn – tiểu luận, NXB. Văn học, tr. 23, 79, 86, 92, 121-122, 172, 176, 178, 180, 184, 202.
4, 7 Nguyễn Ngọc Thiện, Hà Công Tài (2003), Vũ Trọng Phụng về tác gia và tác phẩm, NXB. Giáo dục, tr. 356, 354.
16, 17 Đỗ Thị Thuý Dương (2024): “Nhân vật vô luân trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng”, Tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, số 4, tr. 101, 102.

Bình luận

    Chưa có bình luận