TRIẾT LUẬN VỀ NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG TRUYỆN NGẮN ''PHIÊN CHỢ GIÁT'' CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

Trên cơ sở phân tích những triết luận sâu sắc của Nguyễn Minh Châu về người nông dân trong truyện ngắn ''Phiên chợ Giát'', bài viết góp phần cho thấy bước chuyển sâu sắc trong tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu thời kỳ đổi mới.

Cùng với chiến tranh, nông thôn và nông dân là một trong những siêu đề tài của văn học Việt Nam. Sống trên một đất nước nông nghiệp từng có hơn 90% dân số là nông dân, các nhà văn Việt Nam bao thế hệ đã, đang và sẽ tiếp tục có những mối bận tâm không nhỏ về nông thôn và nông dân. Xuất thân từ nông thôn, sinh ra trong một gia đình bố mẹ đều là nông dân, sống ở một vùng đất khô cằn, khắc nghiệt và kiên cường; yêu thương và thấu hiểu, suốt đời nặng lòng với quê hương xứ sở và những người thân yêu, nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng đã đặc biệt thành công với đề tài nông thôn và nông dân.

Năm 1987, sau khi công bố bài tiểu luận nổi tiếng Hãy đọc lời ai điếu cho một nền văn nghệ minh hoạ, Nguyễn Minh Châu bắt tay vào viết Phiên chợ Giát. Tháng 3 năm 1988, nhà văn phát hiện mình bị ung thư máu. Ông tiếp tục viết và hoàn thành tác phẩm trong thời gian nằm trên giường bệnh. Sau khi ông mất không lâu, Phiên chợ Giát được công bố (trong tập truyện Cỏ lau). Là những dòng tâm huyết cuối đời của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn này kết tinh những suy tư trăn trở, những nhận thức sâu sắc và trung thực của ông về nơi, về những người mà ông yêu thương và gắn bó. Không dừng lại ở việc phản ánh hiện thực nông thôn, kể chuyện về nông thôn và nông dân mà đi xa hơn, biến không gian này thành một nơi để suy tư, chiêm nghiệm, triết luận, Phiên chợ Giát là một tác phẩm tầm cỡ thể hiện những phân tích, lý giải, phản biện sắc sảo của ông về người nông dân, đặt ra những câu hỏi vượt ra ngoài phạm vi của một hoàn cảnh cụ thể, chạm đến những vấn đề mang tính phổ quát về con người và sự tồn tại. Nhà văn nhìn người nông dân như một chủ thể đầy nghịch lý: vừa kiến tạo lịch sử vừa bị chi phối bởi lịch sử, vừa giàu khả năng phản tỉnh vừa bị giới hạn trong chính cấu trúc ý thức và điều kiện sống của mình. Việc tìm hiểu những nội dung triết luận về người nông dân của Nguyễn Minh Châu không chỉ giúp làm rõ chiều sâu tư tưởng của tác phẩm mà còn góp phần nhận diện những chuyển biến quan trọng trong tư tưởng nghệ thuật Nguyễn Minh Châu – “người mở đường tài hoa và tinh anh” (Nguyên Ngọc).

1. Triết luận về nông dân như một chủ thể lưỡng trị

Phiên chợ Giát kể một câu chuyện hết sức giản dị: hành trình lão Khúng dắt con bò Khoang ra chợ bán. Tuy vậy, đằng sau cốt truyện tưởng chừng đơn giản ấy lại là sự dồn nén của cả một đời người và rộng hơn là số phận của người nông dân Việt Nam qua nhiều biến thiên của đời sống. Trong tác phẩm, họ luôn hiện lên như một tồn tại lưỡng diện: vừa là chủ thể kiến tạo lịch sử vừa là nạn nhân của hoàn cảnh và của chính mình. Họ luôn được đặt giữa các nghịch lý: giữa sinh tồn và đạo đức, giữa mặc cảm nô lệ và khát vọng tự do, giữa phần “người” và phần “con” trong chính bản thể của mình. Tự nghiệm mình là “anh nông dân suốt đời đi sau con bò vạch những luống cày trong đêm tối” của lão Khúng đã bao hàm cả niềm tự tin và tự ti, gợi nhắc tư cách người mở đường, người dấn thân và cả số phận phụ thuộc. Nỗi ám ảnh về định mệnh, số phận trời sinh rồi sẽ hình thành nên tâm lý chấp nhận, cam chịu của người đã từng có tinh thần dấn thân liều lĩnh và táo bạo như lão: “Ông trời sinh ra số kiếp mày đã như thế, suốt cả một đời nai lưng kéo cày, già thì giết thịt!”1.

Người nông dân Việt Nam bao đời vốn sống trong một không gian khép kín: không gian làng xã. Có nhiều người cả đời không bao giờ bước chân ra khỏi cái làng của mình. Làng là không gian sinh tồn. Không có làng, người nông dân gần như mất gốc, mất kế sinh nhai. Vì thế mới có tâm thức “sống là người làng, chết là ma làng”. Làng không chỉ là nơi ở mà còn là một cộng đồng gắn bó sâu sắc, nơi họ tìm thấy sự nương tựa tinh thần. Làng xã tạo nên bản sắc và căn tính cá nhân. Danh dự cá nhân gắn với danh dự làng nên họ bị ràng buộc chặt chẽ bởi cộng đồng này. Tuy vậy, lão Khúng đã có khả năng bứt ra khỏi quán tính truyền thống, dám rời bỏ không gian và nền tảng tinh thần quen thuộc để kiếm kế sinh tồn. Lão cũng như bao người nông dân khác có khả năng biến “miền ma thiêng nước độc” thành nơi “tạm mát mặt”, biến cái hoang vu, khắc nghiệt thành sự sống. Từ hai bàn tay trắng, lão đã gây dựng cơ nghiệp, làm nhà tậu trâu, sinh con đẻ cái, gánh vác cả đại gia đình. Ở lão, năng lượng và năng lực sinh tồn là không giới hạn. Trực giác tinh nhạy và khả năng tự tìm đường ngay trong bóng tối là một năng lực thực tiễn được tích luỹ từ trải nghiệm lâu dài, giúp lão tồn tại vững vàng trong những điều kiện thiếu thốn và khắc nghiệt. Lão sống thực tế, thực dụng, chỉ tin vào mình, “chỉ thiết cái mặt đất ở dưới chân”. Những người nông dân như lão Khúng đã gánh vác cả hai cuộc kháng chiến trường kỳ gian khó và vĩ đại trên đôi vai của mình. Họ thực sự đã tham gia vào việc kiến tạo lịch sử.

Tuy vậy, trong cái nhìn của Nguyễn Minh Châu, người nông dân không làm chủ hoàn toàn được đời sống và số phận mình. Họ luôn bị quần thảo giữa những cơn ba đào của lịch sử. Thêm vào đó là những hạn chế khó tránh được hình thành do sự va đập với thời thế của giai cấp họ. Nguyễn Minh Châu đã thấu suốt mặt trái của vấn đề: người nông dân vừa là chủ thể cải tạo thế giới vừa bị trượt ra khỏi chính thế giới mà mình đã góp phần tạo dựng. Trải qua bao gian khó, chịu đựng và hi sinh, vắt sức mình ra để tạo thành quả nhưng thành quả ấy không kiến tạo thành sự ổn định, bền vững. Khi “hòn đất đã gần hóa thành hòn đất thuộc” thì “đời con lão lại phải bỏ đây để đi đến những miền khác, những miền rừng khác xa xôi hơn, mịt mùng hơn”2.

Người nông dân như lão Khúng có khả năng chiến thắng hoàn cảnh nhưng hoàn cảnh cũng khiến họ trở nên tha hoá. Đời sống tinh thần của họ bị biến dạng, họ bị đồng hoá với hoang vu: “Lão sống như người rừng, đánh mất luôn tính cách một người ở đồng bằng, một anh nông dân bon chen ở làng. Vợ lão vốn một người thành phố lại càng thay đổi nhiều. Cả hai vợ chồng trở nên lầm lì, tính nết cũng âm âm u u như tính nết của rừng”3; lão luôn tự mày mò trong bóng tối: “Mùi cám lợn chen lẫn mùi phân dê vừa chua lòm vừa nồng nàn xộc vào mũi lão nhưng những thứ mùi ấy đã trở nên quá quen thuộc đến mức lão chẳng ngửi thấy gì cả”4. Sống lâu trong cái khổ, lão cũng như gia đình lão đã quá quen với cái khổ nên cái khổ cũng trở thành cái bình thường.

Hoàn cảnh lịch sử, những chính sách cải cách kinh tế có ảnh hưởng lớn đến tâm lý và cuộc đời, số phận nông dân. Trước khi có phong trào hợp tác hoá nông nghiệp, cơ khí hoá nông thôn, những người nông dân gắn bó trực tiếp với đất đai, với những công cụ sản xuất thô sơ, truyền thống. Họ lao động theo kinh nghiệm cá nhân và nhịp sống tự nhiên. Nhưng khi phong trào diễn ra, họ trở thành một “đơn vị” trong guồng máy tập thể. Từ người làm chủ kinh nghiệm sống, họ trở thành người tham gia một mô hình được thiết kế từ bên trên. Người nông dân bắt đầu tiếp xúc với một cách tổ chức đời sống mới, vượt khỏi phạm vi làng xã nhỏ hẹp. Tuy nhiên, kinh nghiệm sống cá nhân không tương thích với mô hình tập thể áp đặt. Lão Khúng không thực sự hiểu và làm chủ được “lý luận hai con đường”. Lão không chống đối nhưng cũng không sẵn sàng đón nhận công cuộc cải cách. Phản ứng của lão Khúng rất điển hình, bề ngoài: im lặng, cung kính; bên trong: hoài nghi, bức bối; không đồng thuận trong ý thức nhưng cũng không thể phản kháng công khai. Qua phản ứng của lão, Nguyễn Minh Châu cho thấy tâm trạng dè dặt, hoài nghi của một bộ phận nông dân trước quá trình tập thể hóa và cải cách đời sống nông thôn. Họ rơi vào trạng thái không còn thế giới cũ (ổn định, quen thuộc) nhưng cũng chưa thực sự thuộc về thế giới mới. Ông Bời – Chủ tịch huyện muốn cải tạo lão Khúng – “dinh luỹ cuối cùng của sự làm ăn cá thể”, biến lão thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng trong lão đã có sự va chạm giữa lý tưởng tập thể và bản năng sinh tồn cá nhân. Lão có kinh nghiệm, có lý lẽ riêng. Lão bị đặt vào một hoàn cảnh mà tốc độ biến đổi vượt quá khả năng thích nghi. Bi kịch không phải do lão Khúng “lạc hậu” mà ở chỗ lão bị kéo ra khỏi thế giới cũ, trong khi thế giới mới chưa thực sự thuộc về lão. Những người nông dân vốn chỉ quen với quy luật tự nhiên, giờ đây lúng túng trước những quan hệ xã hội phức tạp và thiếu minh bạch. Khi sống giữa rừng, “cái sợ lại không nhiều”, bởi nguy hiểm khi ấy hữu hình, có thể đối mặt trực tiếp. Nhưng khi “con người đã đông hơn con vật, sắt thép đã đông hơn cây cối”, nỗi sợ lại tăng lên. Tài sản của lão bị trộm cắp, đứa con gái xinh đẹp của lão bị xâm hại nhưng lão gần như không có công cụ nào để chống lại. Sự xuất hiện của “công trường”, của vật liệu công nghiệp, của những lực lượng “từ bên ngoài” đã lấn át không gian sống của những người nông dân. Họ trở thành kẻ bị động, bị xâm phạm mà không có khả năng kiểm soát hay đòi lại công bằng. Từ công trường, cơ giới, đến sự đông đúc của con người…, tất cả đều là dấu hiệu của một quá trình “phát triển”, nhưng với lão Khúng, nó đồng nghĩa với bất an và mất mát. Thiếu công cụ nhận thức, thiếu khả năng tự bảo vệ lẫn quyền lực thực tế, người nông dân dễ rơi vào trạng thái bị động, bị tổn thương, trở thành nạn nhân của chính đời sống.

Sau hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, họ lại tiếp tục gánh chịu những tổn thất. Gia đình lão Khúng đã đau khổ tưởng chừng không chịu nổi bởi sự hi sinh của đứa con trai trên chiến trường Campuchia. Lão “thầm cám ơn” vợ mình vì đã không nhắc lại “cơn bốc đồng chí khí ái quốc” năm xưa. Sự lặng câm của mụ Huệ giúp lão tạm thời né tránh một khả năng đau đớn: chính lời khích lệ của lão đã góp phần thúc đẩy con lão vào chiến trường. Tuy nhiên, điều đáng chú ý hơn là việc lão phải “gồng mình” để giữ lấy ý nghĩ rằng thằng Dũng đã hi sinh vì Tổ quốc. Niềm tin ấy không còn tự nhiên mà trở nên mong manh như “tấm ván lát cầu ao đã lâu năm vừa nhún nhẩy vì mỏng manh lại vừa hay trùng triềng. Lão chỉ lơ là một chút, lãng quên đi những điều tâm niệm thiêng liêng chỉ một chút là lập tức xỉa chân xuống và nỗi niềm âm thầm của cái sự thực trần trụi và đơn giản”5. Nỗi sợ lớn nhất của lão không chỉ là mất con mà là đánh mất cả ý nghĩa của cái chết ấy, tức là đánh mất điểm tựa tinh thần để tiếp tục sống; từ đó nảy sinh nhu cầu “phóng đại, tô màu” bức ảnh đứa con như một cách thẩm mĩ hóa ký ức, nhằm tạo dựng một hình ảnh oai phong, trang nghiêm để chống đỡ lại hiện thực cay đắng. Nhìn lại kỷ vật quý báu còn để lại của đứa con – “chiếc ba lô bẩn thỉu rách rưới, y hệt cái đẫy của đứa ăn mày”6, lão buộc phải chạm vào một sự thật khác – sự thật về “người anh hùng”: không hùng tráng, không lấp lánh ánh hào quang mà nhếch nhác, thảm hại đến đau lòng. Khoảnh khắc lão bật khóc hu hu, kêu lên một tiếng rồi im bặt cho thấy sự đổ vỡ âm thầm của toàn bộ “ảo ảnh” mà lão cố dựng lên. Đúng vào lúc con người cần niềm tin để chịu đựng mất mát thì sự thật lại không ngừng làm xói mòn niềm tin ấy, khiến nỗi đau trở nên sâu sắc và dai dẳng hơn.

Ở thời điểm năm 1987, khi đại hội Đảng VI mới diễn ra, trong không khí đổi mới sôi nổi, quyết liệt, bản thân cũng đã tự mày mò đổi mới từ trước đó khá lâu, Nguyễn Minh Châu không có một niềm tin dễ dãi vào tương lai tươi sáng của những người nông dân Việt Nam. Kết thúc truyện Phiên chợ Giát, theo ông, không phải là cái kết thúc mà ông mong muốn. Tôn trọng logic vận động khách quan của hiện thực, Nguyễn Minh Châu chủ ý tránh lối kết thúc dễ dãi, ông không trao cho người đọc một viễn cảnh giải thoát trọn vẹn. Việc con bò quay trở lại và ánh nhìn sầu muộn giữa người và vật đã kéo mọi ảo tưởng xuống mặt đất, cho thấy đời sống nông dân bị ràng buộc bởi những điều kiện cụ thể và bền chặt đến mức không thể dễ dàng vượt thoát. Tâm lý nô lệ, phụ thuộc đã ăn sâu vào máu huyết đâu dễ dàng cởi bỏ. Nếu con bò được giải thoát thành công, truyện sẽ nghiêng về một kết thúc lãng mạn. Nếu nó bị bán hay bị giết, truyện sẽ rơi vào bi kịch trực diện. Nguyễn Minh Châu đều không lựa chọn hai phương án đó. Chính cái “không hoàn tất” ấy mới đúng với bản chất đời sống mà ông muốn khắc họa.

2. Triết luận về lao động và bi kịch đạo đức của người nông dân

Đúng như cách nhìn của Karl Marx, lao động là điều kiện tồn tại tất yếu. Trong truyện ngắn Phiên chợ Giát, công việc lao động của người nông dân được miêu tả với tất cả vất vả, cực nhọc. Lao động không phải ý niệm trừu tượng mà là một trải nghiệm cảm giác: nặng nhọc, mệt mỏi, kéo dài. Chỉ nhờ có lao động, con người mới có thể tồn tại. Lao động cũng là vinh quang và tiến hóa. Chính nhờ lao động mà người nông dân biến “miền ngược ma thiêng nước độc” thành đất ở, đất canh tác; biến hoang vu thành sự sống. Trong chiều kích này, lao động là sức mạnh sáng tạo, là khả năng cải tạo tự nhiên và dựng xây đời sống. Lao động không chỉ là sinh kế, không chỉ tạo ra vật chất mà còn tạo ra giá trị tinh thần, nhân phẩm, sự xác lập giá trị bản thân. Nó cho con người một cảm giác “mát mặt”, một niềm tự trọng âm thầm.

Lao động là căn cước tồn tại của người nông dân. Lão Khúng chỉ thực sự “là mình” khi ở trong quan hệ với công việc cày kéo, với con bò, với đất. Câu văn “suốt đời đi đằng sau con bò vạch những luống cày trong đêm tối” không chỉ gợi lên một niềm tự tin trong mặc cảm mà còn dựng lên một kiểu tồn tại: con người gắn chặt với lao động đến mức không thể tách ra như một chủ thể độc lập.

Lao động cũng mang tính tha hóa và tiêu hao. Nó đẩy con người vào vòng lặp kiệt quệ: “tưới gần cạn kiệt mồ hôi” cho đất, để rồi lại phải bỏ đi, lại tiếp tục khai phá nơi khác, hết đời này đến đời khác, hết thế hệ này đến thế hệ kia. Không chỉ là con đường giải phóng, nó còn là định mệnh khắc nghiệt: con người sống để lao động và cũng bị lao động rút cạn đời sống. Lao động tạo nên sự tiến hoá nhưng cũng ẩn chứa mầm tha hóa. Khi con người bị cuốn vào nó như một guồng quay không lối ra, lao động không còn nâng đỡ mà bắt đầu bào mòn. Lão Khúng phải đánh đập con bò – người bạn đời lao động của mình – nhằm xua đuổi nó vào rừng, để rồi phải tự kéo xe thay thế nó như một con vật. Lao động làm đảo lộn quan hệ người - vật, biến con người thành công cụ của chính công việc của mình. Nguyễn Minh Châu, trong Phiên chợ Giát, cho thấy rất rõ: lao động không chỉ là cái con người làm mà còn là cái con người nghĩ về việc mình làm. Chính trong khoảng vênh lệch giữa “làm” và “hiểu”, bi kịch âm thầm của người nông dân hiện ra.

Trước khi là người bạn làm ăn lâu năm của lão Khúng, bò Khoang chính là tư liệu sản xuất. Hành vi giết con bò (trong mơ) của lão Khúng không chỉ là hành vi giết hại một sinh vật mà còn là sự phá vỡ chính quan hệ lao động đã định hình đời lão. Giấc mơ cho thấy một sự chuyển hóa đáng sợ: từ người lao động sang kẻ sát sinh. Ban ngày, lão Khúng sử dụng bò Khoang làm ra của cải vật chất; trong mơ, lão trở thành đồ tể giết hại nó. Hai hình ảnh ấy không đối lập tuyệt đối mà tiếp nối. Bởi trong thực tế, lao động của lão luôn tiềm ẩn yếu tố sử dụng, khai thác, thậm chí làm tổn hại con vật. Lao động đã trói buộc con người vào một nghịch lý: muốn tồn tại thì phải sử dụng, thậm chí làm tổn hại chính cái mà mình gắn bó. Từ đó, lao động không chỉ tạo ra của cải mà còn sản sinh cảm giác tội lỗi, day dứt, tự vấn. Giấc mơ “đẩy tới tận cùng” điều vốn đã âm ỉ trong đời sống: muốn sống thì phải khai thác, mà khai thác đến tận cùng, có thể chạm tới ranh giới của sự hủy diệt. Đây là biểu hiện của khủng hoảng đạo đức trong lao động. Lão Khúng không phải kẻ tàn ác nhưng chính đời sống lao động buộc lão rơi vào thế lưỡng nan: không thể không tận dụng con bò để làm việc nhưng càng tận dụng, càng thấy có lỗi với nó. Giấc mơ là nơi những dằn vặt ấy kết tinh lại thành một hình ảnh cực đoan: lão tự nhìn thấy mình như “hung thần đồ tể”. Vì vậy, lao động vừa là tạo dựng sự sống vừa tiềm ẩn khả năng hủy hoại sự sống. Vấn đề đạo đức của người nông dân trong Phiên chợ Giát, nhìn qua lão Khúng và con bò Khoang, không thể đọc theo kiểu “đúng”, “sai” giản đơn. Nó hiện ra như một xung đột giữa đạo đức, lương tri với sức ép sinh tồn, nơi con người vừa gìn giữ đạo lý vừa bị hoàn cảnh đẩy tới những lựa chọn khiến chính họ day dứt.

Không chỉ là tư liệu sản xuất, bò Khoang còn là người bạn đời làm ăn thân thiết. Với lão Khúng, mối quan hệ với con bò không chỉ là quan hệ sở hữu mà là quan hệ nghĩa tình: “ăn ở với nhau cả một đời”, “thịt da của mày cũng là thịt da của tao”7. Chính vì thế, giấc mơ khủng khiếp, khi lão hóa thân thành kẻ đồ tể giết chính con bò của mình, gây ra một cú sốc đạo đức dữ dội: lão sợ hãi không phải vì cái chết của con vật mà vì nhận ra trong mình khả năng tàn nhẫn. Giấc mơ ấy là một dạng tự xét xử, nơi lương tri trỗi dậy buộc lão đối diện với chính mình. Tuy nhiên, đời sống thực lại không cho phép lão giữ trọn vẹn đạo lý ấy. Nhu cầu mưu sinh, cái nghèo, tình cảm yêu thương với đứa con đã tạo ra áp lực khiến lão phải “bán” con bò, đẩy lão vào tình thế phải phản bội chính tình cảm của mình. Kết quả của quá trình dằn vặt đạo đức sâu kín là hành động giải thoát bò Khoang. Đây không hoàn toàn là một hành động bộc phát mà là một nỗ lực chuộc lỗi: lão không nỡ biến bạn đời thành phản thịt bày bán ngoài chợ. Nhưng cảnh tượng giải thoát lại đầy bạo lực: lão tìm đủ mọi cách để giải phóng con vật, kể cả việc đánh đuổi nó vào rừng, bắt nó rời bỏ đời sống quen thuộc. Nhìn sâu hơn, đó còn là một ước mơ: ước mơ về tự do, không chỉ cho con bò mà cho chính lão. Hành động đánh đập như một cách cắt đứt tình cảm, buộc con bò phải ra đi, đồng thời cũng bộc lộ sự bất lực: lão chỉ có thể “giải phóng” bằng bạo lực chứ không phải bằng một lựa chọn tự do thực sự. Muốn giữ nghĩa tình nhưng còn gánh nặng mưu sinh, muốn giải thoát nhưng lại gây tổn thương, không có lựa chọn nào là hoàn toàn đúng…, việc sống trong trạng thái đạo đức bị giằng xé cho thấy lương tri của người nông dân. Ngay cả khi làm điều “nhân đạo”, lão vẫn không thoát khỏi logic cưỡng bức của hoàn cảnh.

3. Triết luận về khả năng tự nhận thức và giới hạn nhận thức của người nông dân

Với Nguyễn Minh Châu, nông dân không đơn giản là những người chỉ biết ăn no vác nặng, họ là những chủ thể có tư duy, có ý chí, thậm chí họ còn là những người có tư tưởng. Trong truyện Phiên chợ Giát, lao động chính là điều kiện, là không gian của ý thức triết lý. Chính trong những hành trình kéo xe, cày đất, xua bò…, lão Khúng suy nghĩ về đời mình, về số phận, về sự tiếp nối giữa các thế hệ. Lao động không tách khỏi suy tư, mà trở thành môi trường làm nảy sinh suy tư. Nó giống như một dòng chảy âm thầm, nơi ý thức của người nông dân lắng lại, va đập, đối thoại, lựa chọn. Suy ngẫm, triết lý cũng bắt nguồn từ những xung đột, biến cố lớn trong đời sống nông dân.

Đời sống tinh thần của người nông dân thực chất rất phong phú, thậm chí phức tạp đến mức tự nó đã trở thành một “trường lực” xung đột. Trong đầu lão Khúng không phải là sự trống rỗng hay một vài ý nghĩ vụn vặt mà là “muôn vàn”, là “bầy ý tưởng rối rắm… trái ngược lẫn nhau”. Lão suy nghĩ nhiều, cảm nhận sâu và có khả năng nhận ra những nghịch lý của đời sống. Tuy nhiên, có một khoảng cách giữa trải nghiệm sống và khả năng khái niệm hóa trải nghiệm. Sống trong một hiện thực dữ dội, va đập nhiều nhưng lão thiếu công cụ ngôn ngữ và tư duy để hệ thống hóa những gì mình đã trải qua. Hình ảnh so sánh những ý nghĩ của lão Khúng như nhiều đàn bò nhốt chung vào một chuồng, suốt đêm chúng nó húc nhau, rượt đuổi nhau lung tung beng cả lên không chỉ cụ thể hóa trạng thái hỗn loạn của ý nghĩ mà còn cho thấy tư duy của lão Khúng vẫn mang cấu trúc của đời sống nông nghiệp. Lão hiểu thế giới nội tâm của mình bằng chính kinh nghiệm chăn bò, nhìn thấy ý nghĩ như những con vật cụ thể, va đập, tranh chấp, không chịu khuất phục nhau. Cái “chuồng chật hẹp” chính là giới hạn nhận thức: ý tưởng thì nhiều nhưng không gian tinh thần để tổ chức chúng lại quá hẹp. Trong con người lão luôn nảy sinh không ít những mầm mống triết lý nhưng những mầm mống ấy không có khả năng kết tinh thành học thuyết mà tồn tại dưới dạng cảm nhận, linh cảm, day dứt. Chính điều này làm nên một nét bi kịch thầm lặng: bi kịch của ý thức không hoàn chỉnh. Lão Khúng cảm thấy bất an, “không thỏa mãn về chính mình” nhưng không thể gọi tên trọn vẹn nguyên nhân của sự bất an ấy. Vì thế, những suy tư lớn về đời sống, về số phận… chỉ hiện lên như những đợt sóng ngầm.

Sự tự ý thức và tư duy của lão không nằm ở những phát biểu lý thuyết mà hiện ra qua chuỗi trải nghiệm được suy ngẫm: từ ý thức về số phận, nhận diện sự tha hóa, tự phán xét đạo đức đến những suy tư về ký ức, niềm tin và tự do. Thông qua hình tượng lão Khúng, ta có thể thấy người nông dân hiện lên như một chủ thể đã bước vào vùng phản tỉnh.

Trước hết là sự tự ý thức về bản thân và số phận. Giấc mơ kỳ quặc đầu truyện của lão không phải không có nhiều ý nghĩa. Giấc mơ chiếc xe bay không chỉ là hình ảnh của sự cơ giới hóa mà còn là ẩn dụ cho một kiểu tiến bộ “không chạm đất” trong cảm nhận của lão, vừa lôi cuốn vừa xa lạ, khiến lão vừa ngưỡng vọng vừa không thể hiểu và nắm bắt. Trên đường đưa bò xuống chợ, lão Khúng say sưa quan sát cả một bầu trời sao với những suy nghĩ vừa khôi hài vừa sâu sắc. Từ những ngôi sao, lão suy nghĩ về quyền lực, định mệnh và vị trí của bản thân. Hành động “ngửa mặt lên trời” cho thấy một nhu cầu vượt thoát khỏi mặt đất quen thuộc – tức là vượt khỏi đời sống lao động cụ thể để hướng tới những ý niệm lớn lao hơn về số phận, về “ngôi sao chiếu mệnh”. Nhưng ngay lập tức, lão tự phủ định mình: mình là “cái thá gì” mà đòi có sao ứng mệnh. Những người nông dân như lão Khúng có thể “vạch những rãnh cày trong đêm tối” nhưng suốt đời đi sau con bò và không thể vượt thoát ra khỏi bóng tối của hoàn cảnh và số phận. Lão luôn bị ám ảnh, sợ hãi trước cái tối tăm hũ nút, cái tối tăm không chỉ của không gian, của đời sống mà còn là trạng thái mù mờ của ý thức, bóng tối của vô thức. Nó vừa là bóng tối bên ngoài vừa là bóng tối bên trong mình. Điều này cho thấy một mức độ tự ý thức khá sâu: lão không chỉ nhìn thế giới mà còn nhìn vào chính khả năng nhận thức của mình, nhận ra giới hạn của nó. Lão Khúng vừa tò mò vừa kính cẩn, vừa “khinh xuất” khi nhìn các vì sao. Với lão, ánh sáng thật sự không nằm ở các “ngôi sao” mà nằm trong khả năng thích nghi, trực giác tinh nhạy của con người.

Hồi mới đặt chân đến cái nơi khỉ ho cò gáy kia, lão đã ý thức rằng mình và con cái mình đang sống giữa ranh giới mờ nhòe giữa người và thú, giữa văn minh và hoang dã. Nhìn những đứa con chơi với nhau bên hang đá, đầu ngọn suối, lão ứa nước mắt, “lão cứ nghĩ không biết chúng nó là con lão hay là con của loài cầy cáo, beo trăn, mỗi lần nghĩ dại thế, lão lại lăn ra cười một mình, cười lăn cười lộn như một kẻ điên, trước cái sự vây bọc tưởng không bao giờ thoát ra nổi của hoang vu”8. Tiếng cười của lão Khúng là tiếng cười cay đắng và xót xa của một con người tự nhận ra sự phi lý trong chính đời sống của mình. Trong tiếng cười ấy có cả nỗi đau, sự cô độc và cảm giác bị vây bủa bởi một đời sống vượt khỏi khả năng lý giải. Tiếng cười ấy còn mang sắc thái tự giễu cay đắng. Lão nhận ra hoàn cảnh của mình phi lý đến mức không thể nói thành lời: con người sống giữa rừng đến mức mất cả cảm giác mình là người. Lão nhìn thấy sự trớ trêu của chính số phận mình nhưng không đủ khả năng thay đổi nó. Trong đau khổ (khi gia đình bắt buộc phải bán con bò Khoang), con bé Nghiên con lão gục đầu vào ngực bố. “Lần đầu tiên lão nhận thấy từ mái tóc và hơi thở của đứa con gái nhỏ phả ra mùi của các loài cỏ rất tươi non của đồng nội, vừa đắng vừa ngọt, phải lát lâu sau khi đứa con đã rời lão và khụt khịt như đang khóc vừa chạy vụt trở về với mẹ bên gốc cây vối, lão mới âm thầm nhận ra trên cơ thể của nó cái mùi cỏ ống vừa cắt, cả mùi đất rừng hoang dã rất xa xưa đã ngủ trong ký ức của lão nhiều năm về trước…”9. Trong máu thịt của nó đã đẫm vị rừng, hương vị của hoang dã. Cái vị vừa đắng vừa ngọt của cỏ nội vừa gợi lên sức sống, sự trong trẻo của đứa con gái vừa gợi nghĩ đến sự nhọc nhằn của số phận đã sớm thấm vào cơ thể nó, nghĩa là ngay trong một cơ thể non trẻ đã mang sẵn hai thái cực của đời sống. Nhưng quan trọng hơn, mùi hương ấy đánh thức ký ức nguyên thủy của lão Khúng: “mùi đất rừng hoang dã rất xa xưa”. Đứa con bỗng trở thành một chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ. Cảm giác của lão Khúng ở đây là một khoảnh khắc “bừng tỉnh” muộn màng về chính đời sống của mình. Lão nhận ra dấu vết của chính cuộc đời mình đã in lên đứa con bé bỏng. Đó là mùi của lao động, của đất đai, của những năm tháng khai phá. Đứa con chính là sự tiếp nối số phận của lão. Nhưng điều đáng nói là ở chỗ suốt bao năm lão sống gần con mà đây là “lần đầu tiên lão nhận thấy”, “lão âm thầm nhận ra…”. Phải chăng đời sống quá nhọc nhằn đã khiến con người không còn thời gian và khả năng để cảm nhận được những gì gần gũi nhất. Khi đưa một bàn tay lên vuốt vuốt trên phiến lưng gầy guộc của đứa con gái chăm làm nhất nhà, lão cay đắng và xót xa nhận ra con mình cũng lại đi trên chính con đường gian khổ mà mình đã qua. Khoảnh khắc tự ý thức về số phận truyền đời của người nông dân vừa cay đắng vừa đau xót. “Chả lẽ đời của lão, cái số phận của lão, của vợ chồng, con cái lão là phải như vậy, cứ phải như vậy?”10. Câu hỏi này vừa như tiếng thở dài trước vòng lặp nghiệt ngã của đời sống nông dân vừa là dấu hiệu cho thấy họ đã bắt đầu suy nghĩ về chính vòng lặp ấy. Lão Khúng đã không hoàn toàn chấp nhận số phận như một điều hiển nhiên. Đó là khoảnh khắc lão tự tách mình ra khỏi dòng đời để nhìn lại nó, dù chỉ trong thoáng chốc. Khả năng tự nhận thức đã có nhưng điều đáng tiếc là lão lại chưa đạt tới năng lực hành động để thay đổi thực tại. Phong trào hợp tác hoá và đại cơ khí hoá đã mở ra khả năng tổ chức đời sống mới nhưng cũng tạo ra sự lệch pha giữa mô hình và thực tế, sự khủng hoảng niềm tin và biến động sâu sắc trong ý thức người nông dân. Thái độ giữ khoảng cách với ông Bời cho thấy một trạng thái lưỡng trị trong ý thức của lão Khúng: nửa tin nửa ngờ, nửa phục tùng nửa ngầm chống đối. Qua đó, người nông dân hiện lên như một chủ thể đang vật lộn để định vị mình giữa hai thế giới cũ và mới trong một thời kỳ lịch sử nhiều sóng gió.

Cái kết của Phiên chợ Giát không tạo cảm giác lạc quan theo nghĩa thông thường nhưng cũng không hoàn toàn thể hiện sự mất niềm tin của nhà văn về người nông dân. Bởi trong chính trạng thái “không lối ra” ấy, một lần nữa lại trỗi dậy ý thức phản tỉnh. Lão Khúng không nhìn con bò như một công cụ mà nhận ra ở đó một thân phận đồng cảnh, từ đó ý thức rõ hơn về giới hạn và nghịch lý của chính đời mình. Bò Khoang không đón nhận cơ hội được tự do, đó không chỉ là sự thất bại của một hành động giải thoát mà là sự giác ngộ cay đắng về giới hạn của tự do. Lão Khúng muốn cứu con bò nhưng cuối cùng lại hiểu rằng cả hai – người và vật – đều bị buộc trong cùng một vòng đời. Cái nhìn sầu não, phiền muộn của lão Khúng với con bò là một khoảnh khắc nhận thức. Hai sinh thể khác loài nhưng cùng chung một số phận: đều bị buộc vào vòng lao động, đều không có khả năng bước ra khỏi đời sống đã định hình. Ánh nhìn sầu não chứa đựng một sự thấu hiểu đến tận cùng, giống như khi con người soi vào gương và bất ngờ nhận ra chính mình trong một hình hài khác. Đã rõ ràng một nghịch lý: không phải cứ mở cửa là có tự do và không phải ai cũng có thể bước ra khỏi cái ách đã trở thành một phần của đời mình. Sự ràng buộc không chỉ đến từ bên ngoài mà còn đến từ chính thói quen tồn tại, từ những giới hạn của nhận thức và khả năng sống khác đi. Người nông dân, vì thế, không chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh mà còn là nạn nhân của chính mình. Họ không hoàn toàn bất lực, họ có sức lao động, có khả năng cải tạo tự nhiên, có ý thức đạo đức nhưng chính những điều đó lại không đủ để giúp họ thoát khỏi vòng lặp của đời sống nhọc nhằn và những ràng buộc vô hình.

Với Phiên chợ Giát, Nguyễn Minh Châu đã đặt ra những suy tư sâu xa về thân phận người nông dân trong những chuyển động dữ dội của lịch sử và đời sống. Họ hiện lên trong tác phẩm không giống như kiểu nhân vật minh hoạ cho những phẩm chất đạo đức quen thuộc mà như một chủ thể tồn tại đầy nghịch lý: vừa mạnh mẽ vừa bất lực, vừa thực tế vừa nhiều suy tư, vừa là người kiến tạo đời sống vừa là nạn nhân của chính đời sống ấy. Nhà văn đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp, nhiều mâu thuẫn và day dứt của họ. Lão Khúng không chỉ biết lao động, chịu đựng và hi sinh, lão còn biết tự vấn, biết hoài nghi, biết suy nghĩ về số phận, về tự do, về quyền lực, về đạo đức và cả giới hạn của chính mình. Có thể nói, cái nhìn về người nông dân trong tác phẩm đã thể hiện rõ chiều sâu nhân bản và tinh thần phản tỉnh mạnh mẽ của Nguyễn Minh Châu ở giai đoạn cuối đời. Nhà văn không tuyệt đối hóa, cũng không phủ định người nông dân; ông nhìn họ trong tính hai mặt, trong những khả năng và giới hạn, trong vẻ đẹp lẫn những bi kịch khó vượt thoát. Đó là bước chuyển quan trọng trong tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu nói riêng và văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới nói chung: từ việc nhìn con người như đại diện của tập thể sang khám phá con người như một cá thể nhiều bí ẩn và phức tạp. Qua đó, Nguyễn Minh Châu không chỉ góp phần làm mới hình tượng người nông dân trong văn học Việt Nam hiện đại mà còn đặt ra những suy ngẫm sâu sắc về con người nói chung.

 

 

 

Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 Nguyễn Minh Châu (2001), Nguyễn Minh Châu toàn tập, Tập III- Truyện ngắn, NXB. Văn học, tr. 874, 867, 870, 858, 881, 883, 903, 870, 869, 867.

Bình luận

    Chưa có bình luận