HÌNH TƯỢNG TỪ THỨC TRONG CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI: DI SẢN “KHÔNG NGỦ QUÊN”*

Bài viết giải mã hành trình 'tái sinh' của hình tượng Từ Thức; làm rõ quá trình thích nghi của hình tượng trong văn học hiện đại cũng như quá trình biến đổi của hình tượng trong nghệ thuật thị giác và đa phương tiện. Từ đó khẳng định Từ Thức không chỉ là một nhân vật truyền kỳ mà đã trở thành một 'mã văn hóa mở' đầy sức sống, phản ánh những ưu tư vĩnh cửu của con người về nguồn cội, tình yêu và trách nhiệm trước sự biến thiên của thời gian.

Trong dòng chảy văn hóa dân tộc, các di sản văn chương trung đại không tồn tại như những “hóa thạch” tĩnh tại trong bảo tàng quá khứ mà luôn tiềm ẩn một nội lực mạnh mẽ để không ngừng “tái sinh” trong những hình hài mới. Quá trình chuyển hóa từ những tự sự mẫu mực thời trung đại sang các sáng tác văn học, nghệ thuật hiện đại không chỉ là sự mô phỏng cốt truyện mà là một cuộc đối thoại liên tục giữa truyền thống và hiện đại. Trong số đó, hình tượng Từ Thức - hạt nhân của thiên truyện Từ Thức tiên hôn lục (trích trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ)1 - nổi lên như một “mã văn hóa mở” đặc sắc, minh chứng cho sức sống bền bỉ của một di sản “không ngủ quên” qua thăng trầm lịch sử.

Sức hấp dẫn của hình tượng Từ Thức không dừng lại ở tư tưởng thoát tục hay mối tình tiên - trần nhuốm màu huyền thoại của thế kỷ XVI. Khi bước vào không gian của văn học hiện đại, hình tượng này đã được các nghệ sĩ khai thác để phản ánh những vấn đề nhân sinh cấp thiết, từ những ưu tư về trách nhiệm của tầng lớp trí thức trước tiền đồ dân tộc trong thơ Đoàn Thêm, bi kịch đứt gãy văn hóa và sự tha hóa của con người trong quá trình đô thị hóa ở truyện ngắn Bình Nguyên Lộc, cho đến cuộc tìm kiếm bản sắc và điểm tựa tinh thần giữa những vết thương chiến tranh trong tiểu thuyết Trần Nguyễn Anh. Từ địa hạt văn chương, Từ Thức thực hiện một cuộc “vượt biên” ngoạn mục sang nghệ thuật thị giác và đa phương tiện (phim hoạt hình, phim truyền hình và âm nhạc hiện đại…), chuyển đổi từ ngôn ngữ chữ viết sang ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh phức hợp.

Khám phá sự biến đổi của hình tượng Từ Thức trong các loại hình nghệ thuật hiện đại cho thấy sự kết nối của những mảnh ghép văn hóa từ truyền thống đến hiện đại, đồng thời khẳng định hình tượng Từ Thức luôn song hành và đối thoại cùng thực tại.

1. Sự tái sinh trong văn học hiện đại

Dù vai trò lịch sử của thể loại truyền kỳ kết thúc vào nửa cuối thế kỷ XIX, những giá trị nghệ thuật của Từ Thức tiên hôn lục vẫn tiếp tục được bảo lưu và chuyển hóa trong đời sống văn học hiện đại. Một số tác phẩm như Từ Thức hay là kẻ tìm đường của Đoàn Thêm (xuất bản năm 1959), Khi Từ Thức về trần của Bình Nguyên Lộc (xuất bản năm 1969) và Từ Thức trở về của Trần Nguyễn Anh (xuất bản năm 2021) đã thành công khi khai thác nỗi băn khoăn, cô đơn, lạc lõng và tâm thế tha hương của con người hiện đại, qua đó gửi gắm thông điệp về cách ứng xử của con người trước những đổi thay của thời cuộc. Từ

Thức hay là kẻ tìm đường là truyện thơ đặc sắc của Đoàn Thêm. Tác phẩm gồm hơn 2000 câu thơ, được chia thành ba phần chính với nhiều chi tiết được bổ sung, khác so với văn bản gốc. Ở cõi trần, Từ Thức hiện lên là một trí thức hoài nghi cuộc đời. Ông chối từ con đường cử nghiệp để làm quan theo ý cha mẹ. Chỉ sau khi cha qua đời vì sầu muộn, Từ Thức mới quyết tâm thi đậu để báo hiếu mẹ già. Ông làm quan liêm chính nhưng sớm chán nản trước cảnh tham nhũng của quan trường nên đã treo ấn từ quan. Về quê, bị họ hàng khinh rẻ, ông lên kinh đô dạy học rồi lại bỏ vào núi sâu tìm tiên để mưu cầu sự trường sinh. Tuy nhiên, khi đạt đến cõi tiên và kết duyên cùng Giáng Hương, ông dần nhận ra tiên giới không hề hoàn hảo bởi các tiên nữ vẫn mang “tâm hồn gần sát nhân loại”, vẫn biết ghen tuông và ích kỷ. Đỉnh điểm là khi chứng kiến chiến tranh tàn khốc giữa các tiên và Long Vương, Từ Thức đã thấu hiểu quy luật tiến hóa của nhân loại qua chiếc bầu của Hồ Công và quyết định từ bỏ cảnh cực lạc để tìm về “chính lộ”. Khi về trần, đối mặt với cảnh vật đổi thay và được biết đất nước đang trong giai đoạn kiến thiết dưới triều Lê sau khi giặc Minh xâm lược, Từ Thức đã chọn ở lại để dạy học, làm thuốc và phụng sự nhân dân.

Đoàn Thêm đã mượn câu chuyện của Từ Thức để đặt ra vấn đề trách nhiệm của tầng lớp trí thức đối với non sông đất nước: “Biết sao cho thuận lẽ trời/ Tìm đường chưa chắc suốt đời đã xong”2. Nhà thơ kiên quyết phê phán hai thái độ sống sai lầm: một là dùng tài trí để tư lợi cá nhân, hai là cầu an tiêu cực để tránh né trách nhiệm: “Bốn phương kiếm chốn tiêu sầu/ Hợp quần mới biết sở cầu đáng khinh/ Đi tìm sinh thú một mình/ Ngàn trùng chỉ thất lộ trình vắng tanh”3 bởi ông cho rằng cả hai thái độ sống ấy đều là “vị kỷ”. Việc chọn thể thơ phù hợp với từng hoàn cảnh, không bó buộc vào một thể thơ nhất định mà luân chuyển linh hoạt giữa Lục bát, Song thất lục bát, Cổ phong, Đường luật và cả Thơ mới khiến mạch thơ liên tục, phong phú, cuốn hút, vừa tạo cảm giác gần gũi với những vần thơ cổ trong Truyền Kiều hay Chinh phụ ngâm, vừa mang đến cho độc giả sự tươi mới, khác lạ bởi sự vượt thoát khỏi những khuôn mẫu cũ, mang hơi thở của thơ ca phương Tây khi diễn tả những trạng thái tâm trạng mang tính cá nhân của nhân vật.

Tác giả cũng dày công sưu tầm và đưa vào tác phẩm các chi tiết lịch sử, địa lý thuần túy Việt Nam trong sự hòa quyện với cảnh vật thần tiên, tạo nên một bầu không khí linh động, khó phân biệt giữa mộng và thực: “Sông Chu uốn khúc trong veo/ Sông Cao lơ lửng bên đèo mờ sương/ Trào dâng bãi cát lạch Trường/ Gió đưa Diêm Phố, buồm giương lạch Triều/ Leo cao đỉnh Lục, cánh Diều/ Hang Na, động Bích, cũng liều đưa chân”4. Thay vì lựa chọn ra đi mãi mãi không trở lại, Từ Thức của Đoàn Thêm đã quyết định từ biệt cõi tiên để trở về trần thế, hòa mình vào đời sống nhân dân: “Quê cũ về xây dựng/ Ba gian một nóc nhà/ Ấm no nhờ đất tổ/ Trong sạch tắm ao ta”5; “Trời nam dư gió mát/ Bất tất hóng phương xa… Muôn năm vui cảnh cũ/ Trường tại với sơn hà”6. Không chỉ có Từ Thức, các nhân vật như Giáng Hương, Hằng Nga, Chức Nữ cũng mang lòng trần rất nặng, tâm tư đầy đủ những hỉ, nộ, ái, ố: “Lên tiên lại thấy tiên còn tục”7. Xây dựng những nhân vật như thế, Đoàn Thêm khéo léo đưa tiên giới xa xôi về với cõi trần để thể hiện những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Khác với truyện thơ Từ Thức hay là kẻ tìm đường của Đoàn Thêm, truyện ngắn Khi Từ Thức về trần của Bình Nguyên Lộc “hiện thực hóa huyền thoại” bằng cách thay thế yếu tố thần kỳ (lên cõi tiên) bằng một hiện tượng y học có thực là bệnh “kiện vong” (mất trí nhớ) do tai nạn. Nhân vật chính biến mất trong 13 năm rồi lại đột ngột trở về tạo nên tình huống “Từ Thức lạc vào cõi tiên” giữa đời thực, mang trong mình bi kịch đứt gãy về văn hóa và đạo đức xã hội.

Truyện xoay quanh nhân vật Ngô Văn Sở, ông chủ hiệu buôn xe máy Thần Tốc. Sau vụ tai nạn năm 1946, Sở mắc bệnh “kiện vong” và sống dưới danh tính của một người thợ điện/ tài xế tên Phi. Phi lập gia đình với một người phụ nữ bình dân ở chợ Phú Xuân. 13 năm sau, nhờ một cú đánh mạnh vào đầu, Sở hồi phục trí nhớ và trở về nhà cũ tại Sài Gòn. Tuy nhiên, cuộc trở về này khiến ông rơi vào bi kịch: vợ cũ đã tái giá, con trai tham tiền, con gái yêu con của kẻ thù. Nhận ra sự hiện diện của mình chỉ gây xáo trộn và đau khổ cho người thân cũ, ông quyết định từ bỏ quá khứ giàu sang để quay lại cuộc sống bình dị nhưng tràn đầy tình thương với gia đình thợ điện Phi.

Bình Nguyên Lộc không kể theo trật tự thời gian tuyến tính thông thường mà mở đầu bằng một vụ án mạng kịch tính trên chiếc xe taxi năm 1953, tạo ra không khí căng thẳng ngay từ đầu. Từ đỉnh điểm của nỗi sợ hãi, tác giả khéo léo dẫn dắt nhân vật tìm lại ký ức thông qua một cú va chạm vật lý và sự kích thích từ những bảng hiệu quen thuộc trên đường phố. Cấu trúc hồi tưởng được sử dụng hiệu quả để tái hiện 13 năm lưu lạc, giúp người đọc thấu hiểu sự chuyển biến tâm lý phức tạp khi nhân vật luôn phải đấu tranh giữa một bên là ông chủ Ngô Văn Sở hào hoa, giàu có và một bên là anh tài xế Nguyễn Văn Phi thô kệch, nghèo khổ.

Nếu như Sở luôn cảm thấy “ái ngại”, không thể cảm thông với giai cấp thợ thuyền vì lối suy nghĩ khác biệt khi mang danh phận mới thì khi trở về đúng danh phận, ông lại có cảm giác lạc lõng ngay trong chính ngôi nhà của mình vì phải đối diện với mặc cảm của một kẻ lao động thô kịch trong bộ y phục sang trọng: “Sự thô lậu ấy càng làm cho ông bất hòa với quần áo đẹp”8. Nỗi đau của nhân vật không được nói trực tiếp mà hiện lên qua sự quan sát tỉ mỉ về những thay đổi của gia đình. Hình ảnh “búi tóc thành một cục dài như cứt ngựa” của vợ hay bộ sa lông có “mặt bàn dị hợm”, “như là công trình do một chú thợ mộc điên làm ra”9 không chỉ là sự thay đổi thị hiếu mà là biểu tượng cho sự đứt gãy văn hóa và tình cảm. Nhân vật cảm thấy xót xa khi những kỷ vật gắn liền với linh hồn mình như “cái píp bằng một khúc rễ cây” hay “chiếc ghế xích đu” cũ đã bị xóa sạch không dấu vết. Điều này thể hiện một tâm lý cô độc tuyệt đối: “Người chết thì bị quên đi chớ, vì người ta còn bận sống kia mà!”10. Sở bàng hoàng khi nhận ra vợ mình dùng thủ đoạn để mưu cầu lợi quyền, còn con trai mình bị đồng tiền làm cho tha hóa. Vậy nên, tâm ý của Từ Thức hiện đại chuyển biến từ sự háo hức trở về sang sự ghê tởm trước thói thực dụng: “và như Từ Thức khi xưa kia, ông về muộn quá thì ông sẽ khỏi phải thấy cuộc tang thương này”11; “Cái ông Từ Thức ngày xưa, nghĩ ra mà có lý. Khi con hạc đưa ông về quê cũ đã bay xa, thì ông chui vào rừng để đi biệt tích còn hơn là ở lại với người thờ ơ”12.

Kết thúc truyện, nhân vật chọn cách ra đi. Cảm giác “nhẹ lâng lâng” khi bước qua đại lộ Nguyễn Thái Học cho thấy sự giải thoát khỏi “cơn ác mộng dài” của chốn trưởng giả giả dối. Trong cái nhìn của Từ Thức xưa, cõi tiên là nơi lầu son gác tía, hưởng thụ vật chất và sắc đẹp vĩnh hằng; cõi trần là quê hương cũ đã thành tro bụi thời gian. Trong truyện của Bình Nguyên Lộc, cõi tiên của Ngô Văn Sở thực chất lại là 13 năm sống cuộc đời nghèo khó nhưng chân thành tại bến xe Nhà Bè và chợ Phú Xuân, còn ngôi nhà giàu sang cũ trên đại lộ Nguyễn Thái Học mới chính là cõi trần đầy rẫy tham vọng, ích kỷ và sự ghẻ lạnh. Đây là một sự chuyển vị liên văn bản đầy táo bạo, thể hiện quan niệm mang tính tích cực của tác giả: hạnh phúc không nằm ở địa vị hay tiền bạc mà ở những “tâm hồn chất phác mà tình thương ông nơi họ còn nguyên vẹn luôn luôn, không bị tham vọng nào làm sứt mẻ cả”13.

Bình Nguyên Lộc sử dụng thủ pháp đối lập (giữa quá khứ - hiện tại, giữa sự thanh lịch - thô kệch) để làm nổi bật bi kịch của một con người bị thời gian bỏ rơi. 13 năm mất trí nhớ đối với Sở cũng dài như “thiên vạn kỷ”14. Khi ông tỉnh dậy, thế giới đã bước sang một giai đoạn khác. Những khái niệm mới như “độc lập”, “chương trình Việt”15, “vị hôn phu”16…, với ông là hoàn toàn xa lạ. Ông không đối mặt với cảnh hoang tàn của thành quách mà đối mặt với sự biến chất của tình thâm: người con trai (Tập) lo sợ cha về đòi lại sản nghiệp, người vợ cũ tái giá và coi sự hiện diện của ông là “bóng mây mờ” che lấp hạnh phúc hiện tại. Con cái ông sống tự do, không còn giữ lễ giáo khắt khe (con gái tự ý đi chơi với vị hôn phu, con trai bao nuôi vũ nữ). Thế nhưng, nếu như Từ Thức ngày xưa bỏ đi vì tuyệt vọng, bế tắc còn Ngô Văn Sở bỏ đi vì sự bao dung và thấu hiểu. Quyết định của Sở là một sự lựa chọn chủ động, để giữ lấy kỷ niệm tốt đẹp của tình cha con và để không phải chứng kiến cảnh các con phạm tội ác vì tranh giành tài sản. Ở đây, Bình Nguyên Lộc đã rất thành công khi sử dụng “vết tích” của truyện truyền kỳ để phê phán xã hội hiện đại.

Sự khác biệt giữa truyện ngắn Khi Từ Thức về trần của Bình Nguyên Lộc và truyện truyền kỳ Từ Thức tiên hôn lục của Nguyễn Dữ bắt nguồn từ những nguyên nhân sâu xa về bối cảnh thời đại, mục đích nghệ thuật và thế giới quan của tác giả. Từ Thức tiên hôn lục ra đời trong xã hội phong kiến, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng Lão - Trang và Phật giáo. Câu chuyện nhấn mạnh vào sự hữu hạn của đời người trước sự vô hạn của thời gian và bi kịch của sự lạc lõng khi con người không còn thuộc về thời đại của mình. Khi Từ Thức về trần viết vào giữa thế kỷ XX, đặt trong bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam đang đô thị hóa mạnh mẽ, chịu sức ép mạnh mẽ của đồng tiền và lối sống mới. Tác giả khám phá những góc khuất trong tâm lý con người và thực trạng xã hội Sài Gòn đương thời, mang đến nhiều bài học nhân sinh sâu sắc.

Đến với tiểu thuyết Từ Thức trở về, người đọc lại thấy được nỗ lực của Trần Nguyễn Anh trong việc tái thiết lập mối quan hệ liên văn bản với truyện truyền kỳ của Nguyễn Dữ thông qua lăng kính lịch sử. Tác phẩm gồm hai phần, xoay quanh nhân vật chính là Sinh Thức, một cậu bé sinh ra trong một ngôi làng nghèo khó ở chân dãy Trường Sơn. Cha của Thức là một người lính đã hi sinh khi anh còn chưa chào đời. Thức lớn lên trong sự bao bọc của mẹ và ông bà nội. Ông nội Thức là một nhà nho, giỏi bốc thuốc và xem tướng số. Ông chính là người đã gieo vào lòng Thức những hạt giống về thế giới thần tiên. Khi đi học lớp vỡ lòng tại ngôi đình cổ của làng, anh đem lòng yêu quý cô giáo Mơ bởi cô đẹp và dịu dàng như một nàng tiên bước ra từ cổ tích.

Trưởng thành, Thức rời làng lên thành phố, trở thành một nhà văn, một nhà nghiên cứu văn học dân gian nhưng trong lòng luôn mang theo bóng hình của quá khứ. Anh luôn bị ám ảnh bởi câu hỏi “Tôi là ai?”17 và miệt mài đi tìm dấu vết của nàng Giáng Hương trong các văn bản cổ và cả trong đời thực. Sau nhiều năm bôn ba, Thức trở về làng cũ để tìm lại những dấu vết tuổi thơ nhưng “nàng tiên” ngày nào giờ đây đã già nua, cảnh vật cũ đều đã thay đổi hoặc bị phá hủy. Anh đi tìm mộ của Từ Thức dưới chân núi Động Đình. Tại đây, anh gặp một ông lão trăm tuổi - người đã chờ đợi anh để trao lại những bí mật mà ông nội anh đã gửi gắm. Tuy không tìm thấy nấm mồ cụ thể nào nhưng anh hiểu rằng Từ Thức đã hóa thân vào dòng chảy lịch sử, văn hóa của vùng đất và dù thực tại có nhiều biến đổi, nhưng những giấc mơ về cái đẹp, tình yêu và nguồn cội sẽ luôn dẫn dắt con người tìm về bản ngã của chính mình.

Đặc sắc nghệ thuật của tiểu thuyết Từ Thức trở về của Trần Nguyễn Anh nằm ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất liệu huyền thoại và hiện thực đời sống, tạo nên một phong cách kể chuyện đầy tính suy tưởng và đậm chất thơ. Tác phẩm không chỉ kể về cuộc đời nhân vật Sinh Thức mà còn lồng ghép các lớp truyện về Từ Thức, Giáng Hương, Lục Vân Tiên, Tấm Cám… Cấu trúc truyện lồng truyện giúp phản chiếu thế giới nội tâm và những ám ảnh văn hóa của nhân vật chính. Tác phẩm cũng đan cài rất nhiều đoạn thơ và các bài hát ru, tạo nên một không gian nghệ thuật nhẹ nhàng nhưng sâu lắng.

Đọc tiểu thuyết của Trần Nguyễn Anh, người đọc có thể nhận thấy: tác giả không phủ định truyện cổ mà coi đó là nền tảng văn hóa, tư tưởng xuyên suốt. Những giá trị xưa cũ không mất đi mà luôn hiện diện, soi rọi vào tâm hồn con người. Nhân vật chính được đặt tên là Sinh Thức, được ông nội khẳng định là “hậu duệ của Từ Thức”18, kế thừa cái tên và cả cái nghiệp “đời vất vả với những mộng mơ”19. Tác giả giữ nguyên các biểu tượng như núi tiên, nơi có bàn cờ tiên, nàng Giáng Hương cùng quan niệm về thời gian về sự vênh lệch thời gian (một phút ở cõi tiên bằng cả tuần của trần gian). Và cũng giống như Từ Thức, Sinh Thức mang tâm trạng “lạc loài” khi trở về làng cũ sau nhiều năm: “Chẳng ai nhận ra Từ Thức sau hàng trăm năm mất tích nơi hang sâu. Với Sinh Thức, có lẽ chính chàng cũng không nhận ra chàng”20. Tuy nhiên, khác với cõi tiên xa vời, “động đào” của Sinh Thức là ngôi làng nghèo khó chân dãy Trường Sơn trong chiến tranh. Những “vị tiên” trong mắt cậu bé Thức lại chính là những con người bình dị: ông nội đồ nho hiền lành, bà nội tần tảo (được gọi là Bụt), đặc biệt là cô giáo Mơ - người đại diện cho vẻ đẹp thanh khiết của nàng Giáng Hương trong tâm hồn thơ trẻ.

Không khai thác bi kịch gia đình như Bình Nguyên Lộc, Trần Nguyễn Anh khai thác sự tàn phá của thời gian. Hình ảnh ngôi đình cổ bị dỡ bỏ, các hiện vật thờ cúng bị dẹp bỏ để làm trụ sở hợp tác xã là một hiện thực đau xót mà Từ Thức hiện đại phải chứng kiến. Nàng tiên Giáng Hương (cô giáo Mơ) trong thực tại không còn trẻ mãi mà đã thành một người đàn bà tóc bạc, lam lũ bán rau muống ở chợ. Nếu Từ Thức xưa đi vào núi rồi mất tích thì Sinh Thức và vị ẩn sĩ lại chọn lên một “chiếc thuyền huyền diệu”21 để đi tìm một vùng đất mới, nơi họ sẽ xây dựng một cõi tiên từ chính những hiểu biết và khát vọng của con người, không còn lệ thuộc vào thần thánh. Đó là những sáng tạo độc đáo, thể hiện quan niệm sống của Trần Nguyễn Anh. Nhà văn muốn dùng huyền thoại như một lăng kính để soi rọi những mất mát của con người Việt Nam qua các biến động lịch sử, đồng thời khẳng định: dù thực tại có nghiệt ngã, con người vẫn cần những điểm tựa tinh thần và đức tin vào cái đẹp để tồn tại.

2. Sự tiếp biến trong nghệ thuật thị giác và đa phương tiện

Trong kỷ nguyên số, di sản Từ Thức tiên hôn lục xuất hiện trên màn ảnh thông qua các hình thức phim hoạt hình, phim truyện, MV ca nhạc... Đây không chỉ là sự thay đổi về phương thức biểu đạt mà là sự thay đổi ngôn ngữ nghệ thuật từ chữ viết sang hình ảnh và âm thanh phức hợp.

Ở lĩnh vực điện ảnh, khảo sát sự tiếp nối của hình tượng Từ Thức qua hai cột mốc hoạt hình tiêu biểu, ta thấy rõ sự “biến đổi” của cốt truyện và kỹ thuật làm phim. Ở bản hoạt hình Từ Thức lấy vợ tiên22 (năm 1991), các nhà làm phim bám sát truyện cổ, bảo lưu chi tiết quan trọng, khắc họa không gian lễ hội (với các hoạt động như múa lân, đấu vật, đánh đu) đồng thời lồng ghép âm thanh đa dạng (gồm cả kinh kệ nhà Phật và các câu hát chèo mang âm hưởng đối đáp trần thế) giúp tạo nên không khí huyền ảo, cổ kính phù hợp với một câu chuyện truyền kỳ, đồng thời tái tạo không khí văn hóa đặc trưng của đời sống tâm linh người Việt.

Phim lược bớt chi tiết Từ Thức bỏ đi vào núi, tập trung làm nổi bật sự khác biệt giữa hai không gian: không gian trần thế được miêu tả là nơi có “hơi ấm”, có “cảnh cũ điền viên”, nơi con người sinh sống, già đi theo thời gian và không gian tiên giới được khắc họa là chốn “bồng lai tiên cảnh” xinh đẹp nhưng thiếu thốn “hơi ấm của trần gian”, tạo ra sự tương phản về mặt cảm xúc cho nhân vật chính. Lời thoại trong phim được trau chuốt, mang phong cách sân khấu truyền thống. Đặc biệt, cuộc đối thoại giữa Từ Thức và lão trượng (130 tuổi) ở cuối bộ phim cho thấy sự tàn khốc của sai biệt thời gian giữa tiên giới và cõi trần. Lời xác nhận của ông lão: “Có nghe các cụ kể rằng đây là gia đình có người con trai tên là Từ Thức một buổi đi hội mẫu đơn rồi bị lạc lên tiên mất” chính là cú sốc tâm lý mạnh mẽ khiến Từ Thức đau đớn nhận ra mình đã trở thành một người của quá khứ, trong khi ở trần gian, thời gian đã trôi qua hàng trăm năm.

Sang đến phiên bản hoạt hình Từ Thức gặp tiên23 (năm 2023), chúng ta có thể nhận thấy một bước tiến vượt bậc trong việc “tái sinh” huyền thoại. Nếu bản năm 1991 sử dụng nét vẽ 2D truyền thống thì bản năm 2023 đã ứng dụng công nghệ hoạt hình 3D, do vậy tạo hình nhân vật, biểu cảm khuôn mặt và chuyển động cơ thể mượt mà hơn. Kỹ xảo được đầu tư công phu để khắc họa sự huyền ảo của cõi tiên. Những chi tiết như hoa mai chiếu thủy phát sáng vào đêm trăng tròn, cảnh sương mù dày đặc che phủ cửa biển Thần Phù, hay cảnh động tiên Phù Lai với hào quang rực rỡ đã tạo nên một thế giới tiên giới sống động và có chiều sâu hơn so với các lớp vẽ tĩnh của nghệ thuật cắt giấy màu trước đây. Thay vì chỉ sử dụng âm nhạc dân gian thuần túy làm nền chính, bản phim mới đã kết hợp nhạc nền giao hưởng phối khí hiện đại mang âm hưởng điện ảnh, giúp tăng tính kịch cho các đoạn xung đột và tính trữ tình cho các đoạn hội ngộ. Hệ thống lời thoại được thực hiện bởi các diễn viên lồng tiếng chuyên nghiệp, giúp nhân vật bộc lộ cảm xúc rõ nét hơn (từ giọng cương trực của Từ Thức đến giọng uy nghiêm của Tể tướng hay giọng lém lỉnh của nhân vật hầu cận).

Phim cũng mở rộng thêm nhiều không gian như không gian phủ Tể tướng, quán trọ, đình làng và động tiên Phù Lai với sự đầu tư về trang phục và đạo cụ mang tính thẩm mĩ cao. Các tình huống kịch tính như cảnh truy đuổi trên biển hay cuộc đối thoại cân não giữa Từ Thức và Tể tướng được dàn dựng với nhiều tuyến nhân vật đan xen, làm tăng tính hấp dẫn so với lối kể chuyện chậm rãi của phiên bản năm 1991, qua đó nhấn mạnh các xung đột xã hội, xây dựng hình tượng Từ Thức không chỉ là một nho sĩ chán cảnh quan trường, mà quan trọng hơn, là biểu tượng của chính nghĩa, quyết liệt chống lại sự tham nhũng của nhóm lợi ích (đại diện là nhân vật Bá công tử - cháu Tể tướng, kẻ gây ra vụ rắc rối ở hội hoa mẫu đơn, rồi lại cậy thế ức hiếp dân lành, cướp đất của lão làm vườn).

Cuộc trò chuyện giữa Từ Thức và cha (một vị quan thanh liêm đã từ chức) cho thấy một tư tưởng hoàn toàn mới mẻ. Cha chàng dạy: “Không nhất thiết phải làm quan, chỉ cần con đem tài năng ra giúp đời sống với lương tâm ngay thẳng thì đã không hổ làm nam nhi giữa trời đất này”. Chính lời dạy ấy giúp thúc đẩy quyết định từ quan của Từ Thức, biến nó thành một hành động có ý thức đạo đức mạnh mẽ chứ không chỉ là sự thoát ly đơn thuần. Cùng với đó là sự xuất hiện của nhân vật Vũ Đình, người bạn đồng khoa luôn lo lắng và chăm sóc gia đình Từ Thức khi chàng vắng mặt, làm đậm thêm đạo nghĩa nhân văn của tác phẩm. Điểm thú vị là bộ phim đã khéo léo “cấy” các mã văn hóa dân gian vào cấu trúc tiên thoại, ví dụ như chi tiết nỗi nhớ nhà của Từ Thức khi ở cõi tiên được khơi gợi từ “mùi cá lóc kho của mẹ”. Nhờ những chi tiết như vậy mà câu chuyện trở nên gần gũi hơn, đem đến nhiều trải nghiệm thú vị cho người xem, đặc biệt là các em nhỏ.

Ngoài ra, bộ phim Động Từ Thức24 (được chiếu trên kênh THVL1 của Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long) là kết quả của sự chuyển dịch từ văn bản viết sang ngôn ngữ điện ảnh thông qua diễn xuất của con người thực (diễn viên Hiếu Nguyễn trong vai Từ Thức) cùng bối cảnh thực địa tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đã giúp câu chuyện về Từ Thức thoát khỏi sự xa lạ của “tiên giới” để trở thành một câu chuyện đạo đức gần gũi, nhấn mạnh bài học về lòng biết ơn và sự trả giá của con người trước những lựa chọn của mình.

Trong khi văn bản cổ chỉ nói chung chung về việc Từ Thức không hợp chốn quan trường, bộ phim đã bổ sung rất nhiều câu thoại của Từ Thức nhằm phản ánh thực trạng xã hội như: “Phải có bè có phái, đã vô vòng thì phải biết luật chơi. Muốn sống ngay thẳng chưa chắc đã được”. Hành động trả ấn từ quan của Từ Thức khiến dân làng đều nuối tiếc. Họ đến tiễn đưa chàng và gửi đến chàng những món quà “đặc sản địa phương”, khẳng định Từ Thức là vị quan “tốt nhất huyện này từ trước tới nay”. Điều này biến nhân vật thành một hình mẫu đạo đức gần gũi với tâm thức nhân dân lao động. Phim cũng sáng tạo các nhân vật mới, không có trong nguyên tác, nhằm đẩy mạnh tính kịch và chiều sâu tâm lý của nhân vật. Em gái của Từ Thức đại diện cho trách nhiệm gia đình và sự lo toan cho cha mẹ. Nàng nói với anh: “Huynh là con trai duy nhất trong nhà, tất cả hi vọng cha mẹ đặt ở huynh... Cha mẹ sẽ lo lắm đó”. Nhân vật Quốc Mẫu trong phim đóng vai trò là tiếng nói của định mệnh: “Nhân duyên giữa người và tiên xưa nay chưa từng trường cửu. Con người có tổ có tông, hắn sẽ sanh lòng muốn về trần gian”.

Từ Thức trở về sau 30 năm (dù cảm giác chỉ như 3 tháng). Khi gặp lại người em gái đã già đi và nghe tin cha mẹ đã mất, Từ Thức thốt lên lời tạ tội đầy đau đớn: “Con bất hiếu không phụng dưỡng được cha mẹ… Cha... mẹ…”. Hành động này khẳng định rằng dù ở cõi tiên hay cõi tục, “chữ Hiếu” vẫn luôn là điều nhân vật trăn trở, là sợi dây vô hình kéo nhân vật về với trần thế. Kết thúc phim là tiếng gọi “Giáng Hương!” trong tuyệt vọng của Từ Thức và lời vọng lại của Quốc Mẫu: “Nhân duyên giữa người và tiên xưa nay không thể trường tồn” cho thấy Từ Thức đã trở thành biểu tượng về nỗi cô đơn của kẻ lạc loài khi đánh mất thực tại.

Nếu phim truyện Động Từ Thức nhấn mạnh xung đột xã hội và tình cảm gia đình, thì MV Trái duyên25 phát hành năm 2021 của ca sĩ Từ Thức lại xoáy sâu vào nỗi đau chia lìa và bi kịch của một mối tình đầy trắc trở, chuyển những ưu tư cổ điển thành những cảm xúc thế tục nồng nàn, phù hợp với tâm thức của khán giả đương đại. Hình ảnh giai nhân được nhắc đến trong bài hát cũng không còn là vị tiên xa lạ mà hiện thân cho vẻ đẹp lý tưởng nhưng xa vời, khiến Từ Thức mãi rơi vào cơn mộng mị giữa thực và ảo.

Nghệ sĩ đảm nhận cả vai trò sáng tác và trình bày ca khúc Trái duyên đã chọn cho mình nghệ danh Từ Thức, cái tên mang sức nặng biểu tượng sâu sắc. Việc mượn danh hiệu của vị địa tiên năm xưa không chỉ tượng trưng cho cuộc hành trình miệt mài đi tìm cái đẹp vĩnh cửu và lời tự vấn về bản ngã của người nghệ sĩ mà còn bộc lộ khát vọng mãnh liệt trong việc tiếp nối và làm mới các giá trị di sản. Qua nghệ danh này, người nghệ sĩ đã khéo léo biến những huyền thoại cũ thành hơi thở âm nhạc đương đại.

Tên bài hát Trái duyên cũng gợi nhớ câu thơ trong truyện thơ Nôm Từ Thức tân truyện: “Trách duyên sao khéo những lời chông chênh”26. Ca từ và giai điệu cất lên đầy da diết, diễn tả diễn biến nội tâm phức tạp của con người, lúc đắm say, khi giày vò, lúc tương tư, khi hụt hẫng…, qua đó thể hiện sự “lệch nhịp” giữa tình yêu nồng nàn và định mệnh khắc nghiệt khi hai nhân vật thuộc về hai thế giới khác biệt. Nỗi buồn đau khó có thể nguôi ngoai khi “nàng như sao băng chốn thiên hà”, “nỡ buông đôi tay cắt dây tơ hồng”, để lại “ta” với cảm giác chơi vơi. Trạng thái cảm xúc này có nhiều điểm tương đồng với tâm trạng “lạc loài” của Từ Thức khi trở về trần gian, nhận ra mình đã mất đi những người thân yêu nhất và trở thành kẻ xa lạ trên chính quê hương.

Ngoài ra, câu chuyện về Từ Thức cũng liên tục xuất hiện trong các ấn phẩm báo chí (chủ yếu là bài quảng bá du lịch), truyện tranh và sách nói. Điều này chứng minh rằng: hình tượng Từ Thức vẫn liên tục được làm giàu thêm bằng những ý nghĩa mới, khẳng định giá trị nhân bản vĩnh cửu về cuộc tìm kiếm bản sắc và sự bình yên trong tâm hồn con người Việt.

3. Kết luận

Khép lại hành trình khảo sát sự tiếp biến của thiên truyện Từ Thức tiên hôn lục trong dòng chảy văn hóa, nghệ thuật hiện đại dưới nhãn quan liên văn bản, có thể khẳng định rằng Từ Thức không chỉ đơn thuần là một hình tượng nhân vật trong văn học trung đại mà hiện lên như một thực thể vận động không ngừng, nơi những giá trị truyền thống liên tục được “giải mã” và “tái sinh” để thực hiện cuộc đối thoại xuyên thời gian.

Sự tiếp biến của hình tượng Từ Thức trong văn học và nghệ thuật hiện đại đã minh chứng cho một quy luật văn hóa: một di sản chỉ thực sự sống khi nó được đặt vào những mảnh đất nghệ thuật mới và mang theo hơi thở của tư duy thời đại. Nếu như ở thế kỷ XVI, Từ Thức là biểu tượng cho sự bế tắc và khát vọng thoát tục của tầng lớp trí thức trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, thì những “hậu duệ” của chàng trong văn học hiện đại lại trở thành biểu tượng cho cuộc tìm kiếm bản sắc và sự bình yên trong tâm hồn con người Việt trước những áp lực của đô thị hóa và chiến tranh.

Hành trình “vượt biên” sang nghệ thuật thị giác và đa phương tiện, từ những thước phim hoạt hình sinh động đến những giai điệu âm nhạc thế tục cho thấy sự chuyển đổi linh hoạt từ ngôn ngữ chữ viết sang ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh phức hợp. Mỗi sản phẩm nghệ thuật mới chính là một văn bản phái sinh, nơi người nghệ sĩ hôm nay mượn cái “xác” cũ để gửi gắm cái “hồn” mới, giúp di sản không bị bó hẹp trong bảo tàng quá khứ mà luôn song hành cùng công chúng đương đại.

Hơn cả một câu chuyện về nam phàm đi lạc vào động tiên, hành trình của Từ Thức phản ánh những ưu tư vĩnh cửu của con người về nguồn cội, tình yêu và trách nhiệm cá nhân trước sự biến thiên nghiệt ngã của thời gian, về lòng biết ơn và đức tin vào cái đẹp. Việc không ngừng làm giàu thêm các tầng nghĩa mới cho hình tượng này không chỉ khẳng định giá trị bền bỉ của kiệt tác truyền kỳ mà còn giúp con người trong kỷ nguyên số tìm thấy một “động đào” cho riêng mình, nơi cái đẹp và sự chân thành vẫn luôn được bảo tồn như một điểm tựa tinh thần vững chắc.

 

 

 

Chú thích:
* Nghiên cứu này thuộc đề tài khoa học mã số CS 2025-TN06-16.
1 Nhiều tác giả (1991), Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (tập 1), NXB. Thế giới.
 2, 3, 4, 5, 6, 7 Đoàn Thêm (1959), Từ Thức hay là kẻ tìm đường, Ấn quán Mai Lĩnh Sài Gòn, tr. 19, 357, 107, 359, 361, 199.
8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 Bình Nguyên Lộc (2008), Khi Từ Thức về trần, NXB. Đồng Nai, tr. 44, 39, 31, 57, 74, 98, 98, 27, 34, 76.
17, 18, 19, 20, 21 Trần Nguyễn Anh (2021), Từ Thức trở về, NXB. Văn học, tr. 127, 12, 11, 35, 185.
22 Hãng phim Hoạt hình Việt Nam (1991), Phim hoạt hình Từ Thức lấy vợ tiên, nguồn: (487) Từ Thức lấy vợ tiên 1991| Hãng phim hoạt hình Việt Nam - YouTube.
23 Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long (2023), Phim hoạt hình Từ Thức gặp tiên, nguồn: https://www. youtube.com/watch?v=NOkdnjxh52A.
24 Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long (2016), Phim truyện Động Từ Thức, nguồn: https://www.youtube. com/watch?v=9fNhRnwz9Vc.
25 Từ Thức (2021), Ca khúc Trái duyên, nguồn Zing MP3, https://zingmp3.vn/video-clip/Trai-Duyen-Tu-Thuc/ ZZEEWZE8.html.
26 Vũ Ngọc Khánh (1963), Truyện Nôm khuyết danh (Truyện Từ Thức, Thoại Khanh Châu Tuấn), NXB. Văn học, tr. 23.

Bình luận

    Chưa có bình luận