TRUYỆN CỔ NHƯ MỘT KHO TÀNG “QUÁ KHỨ KHẢ DỤNG” CẢI BIÊN NHẤT ''DẠ TRẠCH TRUYỆN (TRUYỆN ĐẦM NHẤT DẠ)'' TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ NĂM 1945-1986

Bài viết chỉ ra những đặc điểm của xu hướng cải biên ''Truyện đầm Nhất Dạ'', rộng hơn nữa là truyện cổ Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1986. Từ đó cho thấy ''Nhất Dạ trạch truyện'' hay các tác phẩm truyện cổ Việt Nam nói chung là một kho tàng 'quá khứ khả dụng' luôn có thể được đọc lại và trưng dụng để hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn của mỗi thời đại.

Quá khứ khả dụng” (usable past) là khái niệm do Van Wyck Brooks (1918) đề xuất, chỉ “sự sáng tạo, tái cấu trúc mang tính hồi cố, nhằm phục vụ cho những nhu cầu của hiện tại”1. Khái niệm này sau đó trở thành nền tảng để nhiều học giả phát triển các nghiên cứu về ký ức từ góc độ xã hội. Chẳng hạn, Maurice Halbwachs (1925) cho rằng “ký ức tập thể” (collective memory) “liên tục được định hình và tái định hình trong hiện tại để phục vụ những mục đích hiện tại”2; hay Eric Hobsbawm (1983) đề xuất khái niệm “truyền thống được kiến tạo” (invented tradition) chỉ những thực hành được lựa chọn một cách có chủ ý, đặt trong sự kết nối với quá khứ để tạo cảm giác về một lịch sử liền mạch, qua đó giải quyết vấn đề của hiện tại3. “Quá khứ khả dụng” vì thế nhìn nhận quá khứ không phải như một di sản cố định ở thời quá vãng, mà như những mảnh vỡ ký ức (memory) luôn được triển hiện trong sự “ghi nhớ” (remembering) của các nhóm cộng đồng ở mỗi thời đại, ngưng đọng lại thành những truyện kể từ đời này sang đời khác. Mỗi truyện kể là một phiên bản của quá khứ, được chọn lọc để ghi nhớ vì những mục tiêu nhất định của hiện tại và không nằm bên ngoài “chính trị ký ức” (memory politics). Nhất Dạ trạch truyện Truyện đầm Nhất Dạ hay truyện về Chử Đồng Tử - Tiên Dung là một dạng “quá khứ khả dụng” như thế khi mang đến văn học trung đại Việt Nam ký ức về một trong “Tứ bất tử” trước khi tiếp tục được “viết lại” nhiều lần cho tới thời kỳ hiện đại. Đặc biệt, trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1986, thiên truyện này được cải biên qua ít nhất 4 phiên bản với các thể loại đa dạng, gồm ca kịch, truyện thơ, truyện cổ tích hiện đại, tiểu thuyết..., chưa kể tới các bản “viết lại” với tư cách sưu tầm. Bài viết này sẽ tập trung khai thác các phiên bản cải biên của Nhất Dạ trạch truyện trong giai đoạn năm 1945-1986 để làm rõ quá trình tái dụng quá khứ đó, đồng thời bổ sung thêm một nghiên cứu trường hợp cho lý luận về cải biên truyện cổ tại Việt Nam trong giai đoạn này4.

1. Nhất Dạ trạch truyện và nhu cầu tái dụng quá khứ trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1986

Truyện đầm Nhất Dạ xuất hiện sớm nhất trong văn học trung đại Việt Nam vào cuối thế kỷ XIV trong Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp (?-?), song đến nay chỉ còn lại bản Lĩnh Nam chích quái liệt truyện [từ đây gọi chung là Lĩnh Nam chích quái – LNCQ] do Vũ Quỳnh (1452-1516), Kiều Phú (1447-?)... san cải, nhuận chính vào đầu thế kỷ XV. Giống như tình hình phức tạp chung của văn bản LNCQ5, Truyện đầm Nhất Dạ cũng có nhiều dị bản. Tên gọi của truyện tùy vào văn bản mà được ghi là Nhất Dạ trạch truyện (như văn bản ký hiệu A.33, Viện Nghiên cứu Hán Nôm) hoặc Chử Đồng Tử truyện (như văn bản ký hiệu A.2107, Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Trong đó, tên gọi Nhất Dạ trạch truyện phổ biến hơn, cho thấy mục đích chính của tác phẩm là kể về nguồn gốc của một địa danh6.

Truyện đầm Nhất Dạ nằm trong số các truyện kể được thu nhặt ở cõi Lĩnh Nam (theo nghĩa nhan đề LNCQ). Tuy vậy, xuất xứ của thiên truyện này (cũng như nhiều thiên truyện khác trong LNCQ) ngay từ thế kỷ XV đã khá mù mờ7. Mặt khác, với việc được lựa chọn ghi chép lại trong LNCQ, Nhất Dạ trạch truyện đã thể hiện mình là một quá khứ khả dụng ngay từ khi xuất hiện, nằm trong chiến lược của các tác giả LNCQ nhằm tạo ra một ghi chép các truyện về phong tục được dân gian truyền miệng sánh ngang với các ghi chép dã sử của phương Bắc, từ đó xây dựng hình ảnh về một cõi Lĩnh Nam với phong tục thuần hậu, không chịu thua kém Trung Hoa.

Bản thân Nhất Dạ trạch truyện cũng là một tác phẩm có nhiều “khoảng trống” cho sự tái dụng. Dung lượng truyện không quá dài, các sự kiện được tường thuật khá cô đọng nhưng ẩn chứa nhiều “trầm tích” và nằm ở điểm giao cắt, xung đột giữa nhiều giá trị và tư tưởng (quý tộc và bình dân, cung đình và dân gian, Nho giáo và các tôn giáo, tín ngưỡng khác...). Hai vợ chồng Chử Đồng Tử - Tiên Dung đại diện cho sự giao thoa giữa tầng lớp quý tộc và tầng lớp bình dân. Công chúa Tiên Dung tuy là con gái vua Hùng, song lại mang phẩm chất và hành động có phần “nổi loạn”, “lệch chuẩn” như không muốn kết hôn, chỉ thích ngao du sơn thủy, kết hôn với người chồng bần hàn, sống cuộc đời gần gũi với dân chúng... Chử Đồng Tử có xuất thân nghèo khó nhưng lại được lựa chọn để trở thành Phò mã. Về mặt tư tưởng - tôn giáo, những sở thích của Tiên Dung (đi ngao du, không lập gia thất) sớm bộc lộ dấu hiệu ảnh hưởng bởi tư tưởng Đạo gia, trong khi hành động học phép tiên với sư, sử dụng trượng phép và nón thần của Chử Đồng Tử mang dấu ấn giao thoa giữa Phật giáo - Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian. Cơn thịnh nộ của vua Hùng trước Tiên Dung không chỉ đến từ mâu thuẫn trong quan hệ cha con, quân thần mà còn phản ánh xung đột giữa chuẩn mực và trật tự của Nho giáo chốn cung đình với sức ảnh hưởng ngày một lớn của các tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống dân gian. Sự bất lực của triều đình trước Chử Đồng Tử và Tiên Dung cho thấy Nho giáo dù cố gắng trấn áp song cũng phải ít nhiều nhượng bộ trước các tôn giáo, tín ngưỡng này. Mặt khác, Nhất Dạ trạch truyện cũng chứa đựng nhiều yếu tố có thể thu hút được bạn đọc nhiều thế hệ, như: cuộc tình ly kỳ của Chử Đồng Tử - Tiên Dung, những hành trình phiêu lưu của Chử Đồng Tử và Tiên Dung khi rời khỏi làng Chử Xá… Những sự kiện này chưa được kể quá chi tiết trong LNCQ, mở ra khoảng trống cho việc khai thác thiên truyện trong tương lai.

Thực tế, việc diễn giải Nhất Dạ trạch truyện từ thời kỳ trung đại đã có nhiều xu hướng đa dạng. Vũ Quỳnh (1492) và Kiều Phú (1493) đọc thiên truyện này như một tác phẩm ghi nhận ân đức của Chử Đồng Tử - Tiên Dung8. Trong khi đó, Thanh Hòa Tử, Quế Hiên Tử (thế kỷ XIX) lại tập trung vào phương diện tôn giáo mà ghi nhận Chử Đồng Tử và Tiên Dung như những vị tiên nam, tiên nữ của nước Việt9. Cho tới hiện đại, theo Trần Đăng Ninh (1988), thiên truyện này vẫn được khai thác từ nhiều góc nhìn của các cộng đồng diễn giải (interpretive communitites) khác nhau: “Truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung có nhiều dị bản. Người dân lao động lam lũ khi kể cho nhau nghe thường nhấn thêm cái đức chịu thương chịu khó, ăn hiền ở lành sẽ được Tiên Phật cứu giúp. Người có quyền uy trong xã hội thường nhấn mạnh vào đạo vua tôi để củng cố hiệu lực quân - dân. Người đi buôn thì thêm vào những chi tiết buôn bán, đổi chác. Người làm thuốc thì thêm vào những chi tiết chữa bệnh. Người giàu tưởng tượng thì thêm vào những yếu tố thần linh”10.

Vậy, trong giai đoạn từ năm 1945-1985, Nhất Dạ trạch truyện đứng trước nhu cầu tái dụng, tái diễn giải như thế nào? Năm 1945 đến năm 1986 là giai đoạn khá đặc thù của văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học của khu vực miền Bắc do tính thuần nhất cao độ trong đời sống chính trị với ý thức hệ chủ lưu là tư tưởng Marxist. Thành công của cuộc cách mạng dân tộc – dân chủ đã đưa tầng lớp vô sản – bị trị, những người bình dân, trở thành biểu tượng trung tâm mới của thời đại. Những thay đổi về ý thức hệ và quyền lực này tác động tới cách sản sinh tri thức, bao gồm cả văn học, khiến các tác phẩm giai đoạn này tập trung nhấn mạnh cuộc đấu tranh giai cấp thống trị - bị trị, đối kháng giàu - nghèo, chú trọng hình tượng nhân vật vô sản, người bình dân với phẩm chất không chịu khuất phục trước tầng lớp phong kiến, phù hợp với phong trào phản đế, phản phong. Các truyện cổ cũng được sưu tầm và tái diễn giải theo chiến lược này, tạo nên cảm quan về một cuộc đấu tranh giai cấp đã diễn ra liên tục trong quá khứ mà mỗi truyện cổ là một mảnh ghép. Từ những năm 1960, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (và sau năm 1975 là toàn quốc) trở thành yêu cầu bức thiết. Trong đó, phong trào cải tạo kinh tế miền núi, biên giới và hải đảo là một nhiệm vụ then chốt được quyết nghị trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (tháng 9.1960)11. Hình tượng cần thiết đối với thời đại lúc này là những người lao động ở mọi độ tuổi, giới tính, với tấm lòng kiên định không từ nan, sẵn sàng dấn thân vào công cuộc khai hoang mở đất với niềm tin mãnh liệt về tương lai phía trước. Các truyện cổ cũng được khai thác theo chiến lược này ở các mức độ khác nhau để duy trì một lịch sử liên tục về quá trình khai khẩn và tấm gương lao động của cha ông. Những nhu cầu này của thời đại đều trực tiếp ảnh hưởng tới việc cải biên Nhất Dạ trạch truyện.

2. Các phiên bản cải biên Nhất Dạ trạch truyện tại Việt Nam từ năm 1945-1986

Từ năm 1945 đến năm 1986, Truyện đầm Nhất Dạ được ghi nhận xuất hiện trong ít nhất là 4 phiên bản cải biên, thuộc các thể loại đa dạng: ca kịch của Hoàng Công Khanh và Tô Vũ (1955), truyện cổ tích bằng thơ của Lê Thị Vinh (1957), truyện cổ tích có minh họa của Xuân Quỳnh (1984) và tiểu thuyết của Tô Hoài (1985). Tất cả các phiên bản cải biên đều lấy tên Chử Đồng Tử (hay Nhà Chử) làm nhan đề, thay vì Đầm Nhất Dạ cho thấy ý thức của các tác giả trong việc xây dựng hình tượng trung tâm. Trọng tâm của sự chú ý đã hoàn toàn chuyển sang con người, thay vì di tích. Câu chuyện về Chử Đồng Tử được tái dụng theo những cách thức khác nhau, nhưng đều có những phẩm chất chung đáp ứng yêu cầu của thời đại.

2.1. Ca kịch của Hoàng Công Khanh và Tô Vũ (1955)

Vở ca kịch Chử Đồng Tử của nhà văn – nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922- 2010) và nhạc sĩ Tô Vũ (1923-2014) được hoàn thành vào tháng 12.1955, gồm 4 màn, 5 cảnh, do Kuy Sơn xuất bản năm 1957 tại Hà Nội12. Đây là một trong số những tác phẩm khai thác đề tài lịch sử và cốt truyện văn học dân gian – trung đại – hướng sáng tác làm nên tên tuổi của Hoàng Công Khanh13, phù hợp với chủ trương của ông về việc xây dựng một nền “văn nghệ nhân dân” và phương châm “phổ biến văn nghệ và nâng cao trình độ nhân dân” của NXB. Kuy Sơn14.

Các sự kiện cơ bản của Nhất Dạ trạch truyện trong LNCQ vẫn được kế thừa, đồng thời bổ sung thêm nhiều nhân vật, điểm nhìn mới (của các nhân vật tì nữ, lái thuyền, nội giám...) cùng nhiều trường đoạn mô tả cảnh lao động, hay thể hiện suy tư, nội tâm của nhân vật (Tiên Dung). Song, điều đáng nói là sự thay đổi trong cách diễn giải, khai thác thiên truyện trong LNCQ. Phần “Lược truyện” ở đầu sách đã tiết lộ phần nào góc nhìn này. Để giải thích cho mối tình giữa Tiên Dung và Chử Đồng Tử, Hoàng Công Khanh vẫn đồng thuận rằng nó xuất phát từ cuộc kỳ ngộ giữa hai người, nhưng quan trọng hơn là vì nàng Tiên Dung “thấy Chử Đồng Tử sống một cuộc đời rộng rãi, phóng khoáng, đúng với mơ ước của mình”15.

Quả thực, vở ca kịch của Hoàng Công Khanh đã xây dựng Chử Đồng Tử với tư cách một con người có cuộc đời tuy bình dân nhưng đáng sống. Giá trị cuộc sống của Chử Đồng Tử đến từ sự tự do: “Tôi anh đánh cá ven sông/ Đời vui năm tháng bạn cùng tép tôm./ Vui hòa cái đó, cái nơm/ Vui theo đàn cá thờn bơn gặp rào [...] Thênh thang bể rộng sông dài/ Vừa làm vừa hát vừa chơi một mình”16. Điều này hoàn toàn khác với cuộc sống trong nhung lụa nhưng bức bối của Tiên Dung: “Thì chàng hãy dung tình/ Cho thiếp vui hòa mấy”, “Thiếp tuy là công chúa/ Quen sống trong gấm lụa/ Gấm lụa trói buộc mình/ Cung điện là ngục hình/ Con người thành tù hãm/ Nên thiếp càng chán ngán/ Bỏ đi ngắm núi trông mây/ Dong thuyền chơi khắp đó đây/ Vẫy vùng làm cánh chim bay tung trời”17.

Hình tượng con người vô sản với đại diện là Chử Đồng Tử và những người dân thôn Chử Xá được khắc họa trong vở ca vũ kịch không dư dả về vật chất, nhưng không tới mức quá khổ cực (trừ chi tiết chiếc khố dùng chung của hai cha con họ Chử được bảo lưu để đảm bảo mạch truyện) nhờ bàn tay lao động của mình: “Bàn tay chúng ta/ Có thừa xây đắp/ Mó vào đâu là thành cửa thành nhà thành ruộng thành nương”18. Với tinh thần tôn vinh lao động ấy, vở ca kịch của Hoàng Công Khanh (cũng như tất cả các phiên bản cải biên khác sau này) đều lược bỏ tình tiết Chử Đồng Tử đi ăn xin kiếm sống, chỉ kể việc đánh cá, cày thuê cuốc mướn kiếm ăn. Nhiều trường đoạn miêu tả cảnh dân chúng cùng lao động như đánh cá, chèo thuyền, kéo gỗ... được thể hiện bằng các khúc ca hào sảng. Nếu LNCQ cho biết Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã dùng phép thần thông để đưa người dân của mình tới một chốn cung tiên, thì Hoàng Công Khanh đã chỉ rõ, chốn cung tiên ấy không là gì khác ngoài một nơi “Dân gian có nơi ăn chốn ở/ Có ruộng vườn cày cấy luôn tay”, trồng trọt được hoa màu và được tự do buôn bán19. Những yếu tố tôn giáo trong Nhất Dạ trạch truyện như gậy phép, nón tơi cũng chỉ được nhìn nhận như những công cụ mở ra cơ hội lao động cho dân chúng, được lao động chính là có tự do và hạnh phúc.

Tinh thần phản đế, phản phong được thể hiện trong cách khắc họa hình tượng quân đội và triều đình vua Hùng khá tiêu cực. Đối tượng này trong Nhất Dạ trạch truyện xuất hiện rất mờ nhạt, nhưng đến bản ca kịch lại hiện lên với những hành động “bất nhân, bất nghĩa” rõ nét: “Phạt bằng cây cối/ Giày xéo lúa đồng”, “Đi đến đâu tàn hại dân gian đến đấy”20 và được cụ thể hóa bằng nhân vật Nội Giám. Lời của Chử Đồng Tử - “Kẻ nào hà hiếp bất công/ Thì ta quyết chống đến cùng mới nghe”21 là lời tuyên chiến không khoan nhượng với cường quyền bạc ác. Còn lời nhân vật lão Bát – người từng chèo thuyền phục vụ triều đình, sau này theo Tiên Dung bỏ cung vua ở lại thôn Chử Xá lại là tuyên ngôn đậm nét và trực diện nhất cho lựa chọn đoạn tuyệt với ý thức hệ phong kiến (bị thống trị, bóc lột) để chuyển sang ý thức hệ dân chủ (tự do, tự chủ): “Ngày xưa chèo chiếc thuyền vua/ Mưa nắng bốn mùa quần quật quanh năm/ Bây giờ chèo chiếc thuyền dân/ Một tháng dăm tuần mặc sức nghỉ ngơi”22.

Ngược lại, đối với các nhân vật bình dân, bản ca kịch lại tập trung khắc họa một tinh thần hòa nhã, đoàn kết, mang tinh thần “hữu ái giai cấp”. Vở ca kịch mở đầu bằng cảnh Chử Đồng Tử chia cá cho anh Vực và lý giải bằng câu thơ rất hồn nhiên: “Anh với tôi, tôi với anh/ Hai thằng kiết xác loanh quanh bạn bầu”23. Xuyên suốt vở kịch, Tiên Dung và Chử Đồng Tử vẫn luôn gần gũi, hòa hợp với người dân: Chử Đồng Tử bàn bạc với dân về việc đi buôn bán ngoài biển, lĩnh xướng chỉ huy anh em cùng kéo gỗ, tát nước; Tiên Dung dẫn đầu đoàn các chị em thi nấu cơm và chia đều phần thưởng; hai vợ chồng Chử Đồng Tử - Tiên Dung xăm xắn cùng nhau phụ lão Bát tát nước ra khỏi thuyền. Với lối khắc họa này, vở ca kịch của Hoàng Công Khanh đã khai thác thành công một câu chuyện quá khứ để chuyển tải những thông điệp mới gắn với ý thức hệ mới của một thời đại.

2.2. Truyện cổ tích bằng thơ của Lê Thị Vinh (1957)

Phiên bản truyện cổ tích bằng thơ của Lê Thị Vinh được NXB. Phổ thông công bố lần đầu vào năm 1957. Tác phẩm được viết theo thể thơ lục bát, dung lượng khoảng hơn 500 câu thơ. Lê Thị Vinh và NXB. Phổ thông cũng phát hành nhiều truyện cổ tích và truyện lịch sử bằng thơ khác trong năm này như Cây tre trăm đốt, Truyện Hai Bà Trưng... Đối với Nhất Dạ trạch truyện, quan điểm tiếp nhận của Lê Thị Vinh đã được thể hiện ngay từ “Lời giới thiệu” đầu sách, coi đây là một “chuyện tình yêu bị thế lực phong kiến áp bức, can thiệp” nhưng kết cục không bi thảm, “trái lại đã nêu lên hình ảnh tươi đẹp của nàng công chúa Tiên Dung đã gạt bỏ lụa là gấm vóc, bạc vàng, ngôi báu để đi theo Chử Đồng Tử, một người lao động nghèo khổ tầm thường”24.

Với cách đọc đó, phiên bản truyện thơ của Lê Thị Vinh cơ bản vẫn giữ các tình tiết giống như trong LNCQ, nhưng thông điệp về tình yêu tự do vượt lên trên của cải vật chất và quyền lực được nhấn mạnh hơn cả: “Một chiều nên nghĩa đá vàng/ Quyền Vua phép Chúa khôn ngăn hẹn hò”25. Tiên Dung hiện lên nổi bật với vai trò của một người vợ chịu thương chịu khó, vứt bỏ tất cả để theo đuổi tình yêu này: “Ngọc ngà chẳng bợn chút gì/ Gấm the trút bỏ một khi chẳng màng/ Ham chi điện ngọc, đền vàng/ Giã từ tất cả, theo chàng rời kinh”26. Hình ảnh nàng công chúa Tiên Dung cùng Chử Đồng Tử mở quán nước nhỏ ở ven đê kiếm sống qua ngày (thay vì ngay lập tức trở thành người ảnh hưởng với dân chúng trong vùng như nhiều phiên bản, gồm cả LNCQ) nhấn mạnh hơn vào nỗ lực lao động cần mẫn của những người bình dân nhỏ bé. Phiên bản truyện thơ của Lê Thị Vinh vì thế đã mượn truyện cổ để ngợi ca chuyện tình yêu của tầng lớp bình dân một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, không cần nhiều tuyên ngôn như phiên bản ca kịch của Hoàng Công Khanh.

2.3. Truyện cổ tích hiện đại của Xuân Quỳnh (1984)

Phiên bản truyện cổ tích hiện đại Tiên Dung và Chử Đồng Tử của Xuân Quỳnh (1942-1988) được hoàn thành và phát hành năm 1984 dưới dạng một cuốn sách khổ nhỏ bằng bàn tay, dung lượng ngắn, có tranh minh họa của Phạm Công Thành. Ngoài tư cách là một nhà thơ, Xuân Quỳnh còn là một cây bút viết truyện dành cho thiếu nhi. Tiên Dung và Chử Đồng Tử là một phiên bản kể lại truyện cổ theo cách của bà, nằm trong mạch các tác phẩm truyện cổ được bà khai thác và kể lại với thông điệp mới như Sự tích núi Ngũ Hành, Từ Thức gặp tiên... Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử của Xuân Quỳnh bảo lưu những tình tiết cơ bản của LNCQ, song có những sự điều chỉnh nhất định. Trong đó, thông điệp nổi bật nhất gửi đến những người đọc thiếu nhi là: tình yêu cuộc sống không đến từ sự giàu sang hay nghèo khó mà từ tấm lòng thanh thản và cách con người nhìn cuộc đời.

Nhân vật Chử Đồng Tử xuất hiện với đôi mắt nhìn đời trong trẻo, lạc quan, giàu trắc ẩn, bất chấp cuộc sống còn nhiều khó khăn. Khi làng xóm còn phải ái ngại trước gia cảnh nhà họ Chử - “Nghèo thế thì sống còn khổ hơn là chết”, thì Chử Đồng Tử vẫn giữ được tình yêu cuộc sống thiết tha và một tâm hồn nhạy cảm với tự nhiên: “Chàng có thể nghe thấy tiếng hát và những cơn thịnh nộ của dòng sông. Chàng có thể hiểu niềm vui bé nhỏ của cái kiến kiếm được mồi hoặc chia sẻ nỗi nhọc nhằn với chú bò gắng sức kéo chiếc xe vượt dốc. Cuộc sống lý thú biết bao. Chỉ riêng điều được sống trên đời này thôi đối với chàng đã là vô cùng sung sướng!”27. Trong khi đó, ở đối cực còn lại, Tiên Dung được khắc họa là một nhân vật chán ngán cuộc sống giàu sang ngay từ khi chỉ mới mười bảy tuổi. Sự chán chường ấy đến từ nhận thức của nàng về sự giả dối và tù hãm phía sau những cung điện xa hoa, khiến nàng có sở thích ngao du thăm thú núi sông, đồng thời là tiền đề cho lòng cảm mến, nể phục mà Tiên Dung dành cho Chử Đồng Tử sau này. Tiên Dung (trong bản cải biên của Xuân Quỳnh) muốn kết thân với Chử Đồng Tử không chỉ vì coi đây là duyên số, mà còn vì sự ngưỡng mộ trước lý tưởng sống của chàng Chử. Qua đó, tác phẩm nhẹ nhàng bác bỏ định kiến về hạnh phúc của kẻ giàu – người nghèo, răn dạy, cổ vũ độc giả nhỏ tuổi về thái độ lạc quan trước những khó khăn vất vả trong cuộc sống và giá trị của lao động.

2.4. Tiểu thuyết Nhà Chử của Tô Hoài (1984)

Tiểu thuyết Nhà Chử của Tô Hoài (1920- 2014) mở đầu bộ ba tiểu thuyết lấy đề tài từ LNCQ gồm Nhà Chử (cải biên từ Nhất Dạ trạch truyện), Đảo hoang (cải biên từ Tây qua truyện) và Chuyện nỏ thần (cải biên từ Kim Quy truyện). Cũng như một số tác phẩm khác của Tô Hoài, tiểu thuyết Nhà Chử hướng đến đối tượng người đọc là thiếu nhi, song lại chuyển tải những diễn ngôn lớn lao của thời đại.

Trong số các phiên bản cải biên Nhất Dạ trạch truyện trong giai đoạn 1945-1986, Nhà Chử là tác phẩm có mức độ thay đổi về nội dung lớn nhất so với nguyên tác. Cốt truyện trong LNCQ chỉ đóng vai trò như một nguồn cảm hứng để triển khai tiểu thuyết. Những chi tiết gia đình nhà Chử nghèo khó, hai cha con phải đóng chung khố, hay việc Chử Đồng Tử được truyền dạy pháp thuật trong LNCQ đều tiêu biến. Thay vào đó, cốt truyện Nhà Chử của Tô Hoài triển khai dọc theo hành trình vượt sông Cái tìm về bãi Tự Nhiên để thăm ông nội của chàng trai trẻ họ Chử. Không gian sông nước tráng lệ nhưng dữ dội được Tô Hoài khắc họa sống động. Chử hiện lên trong tư thế của một con người chủ động, mạnh mẽ chinh phục tự nhiên (chèo thuyền vượt sóng gió, bắt cá, diệt thuồng luồng…). Những ký ức của Chử tiết lộ cho độc giả về một gia đình ba đời truyền nối nhau khát vọng được vươn tới những vùng đất mới. Ông Chử tiên phong tìm ra bãi Tự Nhiên ở nơi xa xôi, hiểm trở và lập được khu dân cư trù phú. Bố mẹ Chử cũng tỏa đến những vùng đất khác như bao trai gái trong làng. Chàng Chử được bố mẹ nuôi lớn từ khát vọng khám phá vùng đất mới, đồng thời luôn được dặn dò tìm về Bãi Tự Nhiên để thưa chuyện với ông về hành trình của bố mẹ. Khoảnh khắc gặp lại cháu nội, chứng kiến hậu thế tiếp nối ý chí của mình cũng là khi ông Chử có thể yên lòng nhắm mắt. Câu chuyện tìm về bãi Tự Nhiên của Chử chiếm 2/3 dung lượng và rõ ràng là trọng tâm của Tô Hoài trong tiểu thuyết này.

Mối tình của Chử với nàng Dong (Tiên Dung) chỉ xuất hiện ở phần cuối (tình tiết hai người gặp gỡ mở đầu cho Nhất Dạ trạch truyện lại gần như dùng để kết thúc tiểu thuyết Nhà Chử). Tô Hoài không dành nhiều sự quan tâm cho chuyện tình của họ từ góc độ lãng mạn. Thay vào đó, nàng Dong là một mắt xích để tiếp nối chí lớn chinh phục thế gian của “nhà Chử”. Sự cá tính của nàng vượt xa Tiên Dung trong LNCQ: xinh đẹp lộng lẫy, mạnh mẽ, quyền lực – thạo bắn nỏ, đánh vật thắng cả nam giới, có thể cưỡi voi phóng qua sông như vua bà; khước từ hạnh phúc trong không gian an toàn, dám xin vua cha đừng bận tâm kén người làm rể vì tự tin có thể gánh được việc trong nhà, ngoài cõi không thua gì đấng nam nhi. Sự rung động của nàng Dong và Chử xuất phát từ sự đồng điệu trong khát vọng vươn tới vùng đất mới của cả hai người. Tiểu thuyết kết thúc bằng cảnh hai vợ chồng Chử - Dong trên đoàn thuyền tiếp tục vượt sông ra tới bể Đông.

Như vậy, với Nhà Chử, Tô Hoài đã mượn một tích truyện xưa để tạo nên một cuốn tiểu thuyết sử thi tuyên truyền cho công cuộc khai khẩn và cải tạo kinh tế nơi vùng đất mới. Hành trình chinh phục của các nhân vật không chỉ thỏa mãn sở thích, chí hướng cá nhân, mà còn đi cùng với khát vọng làm cho “cho đất nước thêm một bờ cõi”28 được duy trì qua nhiều thế hệ nhân vật trong tác phẩm. Khát vọng ấy đã được tạo kết nối với những chuyến ngao du mang màu sắc Đạo giáo trong Nhất Dạ trạch truyện, tiếp tục đồng vọng với thông điệp trong các tiểu thuyết khác của Tô Hoài và của các tác giả khác trong cùng giai đoạn để tạo nên một lịch sử liên tục của công cuộc mở đất.

3. Kết luận

Từ trường hợp Truyện đầm Nhất Dạ , có thể thấy sự tiếp nhận văn học trung đại trong thời hiện đại không phải là một quá trình bảo lưu nguyên trạng mà là một quá trình tái cấu trúc ký ức văn hóa. Trong quá trình ấy, văn bản cổ vừa được duy trì như một dấu tích của truyền thống, vừa được cải biến, trưng dụng để phục vụ những nhu cầu tư tưởng, thẩm mĩ và chính trị trong từng thời đại. Giai đoạn 1945-1986, với những yêu cầu đặc thù của lịch sử dân tộc, đã tạo ra một hệ quy chiếu mới để đọc lại và viết lại Nhất Dạ trạch truyện. Những yếu tố có khả năng cộng hưởng với diễn ngôn hiện đại như nguồn gốc bình dân, tinh thần vượt thoát khỏi trật tự đẳng cấp, tình yêu tự do và khát vọng chiếm lĩnh đời sống mới được nhấn mạnh. Trong khi đó, những phương diện gắn với màu sắc tôn giáo, huyền thuật và tư tưởng Đạo giáo lại bị làm mờ hoặc giản lược. Điều này cho thấy số phận của một tác phẩm trung đại trong đời sống hiện đại luôn gắn với cơ chế lựa chọn và lãng quên. Một tác phẩm có thể tiếp tục tồn tại không phải vì toàn bộ hệ giá trị ban đầu của nó được bảo tồn, mà vì nó có khả năng được diễn giải lại, được đặt vào những ngữ cảnh mới và được trao cho những chức năng mới. Chính sự dịch chuyển ấy vừa làm nên sức sống lâu dài của Truyện đầm Nhất Dạ vừa đặt ra vấn đề cần nhìn nhận thận trọng hơn đối với các hiện tượng cải biên văn học trung đại: đằng sau mỗi lần “làm mới” truyền thống không chỉ là sự kế thừa, mà còn là sự thương thỏa, cắt nghĩa lại và thậm chí là sự che khuất một phần di sản quá khứ. Việc nghiên cứu các phiên bản cải biên của Truyện đầm Nhất Dạ trong giai đoạn 1945-1986 không chỉ giúp nhận diện quá trình hiện đại hóa một truyện cổ mà còn góp phần làm rõ cách văn học hiện đại kiến tạo quan hệ với truyền thống – theo nghĩa một nguồn chất liệu luôn được lựa chọn, tổ chức và tái tạo theo nhu cầu của hiện tại. Chính trong sự căng kéo giữa ghi nhớ và lãng quên, giữa kế thừa và cải biến, Truyện đầm Nhất Dạ tiếp tục chứng minh vị trí đặc biệt của mình trong lịch sử tiếp nhận văn học Việt Nam cổ truyền.

 

 

 

Chú thích:
1 Jeffrey K. Olick (2007), “From Usable Pasts to the Return of the Repressed”, The Hedgehog Review, Summer 07, p. 19; Xem thêm: Van Wyck Brooks (1918), “On Creating a Usable Past”, The Dial, April 11, p. 337-341.
2 Jeffrey K. Olick (2007), “From Usable Pasts to the Return of the Repressed”, Tlđd, p. 19; Xem thêm: Maurice Halbwachs (1992), On Collective Memory, trans. and ed. Lewis Coser, University of Chicago Press, Chicago.
3 Eric Hobsbawm and Terence Ranger (1983), The Invention of Tradition, Cambridge University Press, Cambridge.
4 Về vấn đề này, chúng tôi cũng có bài viết: Nguyễn Thanh Tùng, Trịnh Thùy Dương (2021), “Sưu tầm và cải biên truyện cổ tại Việt Nam từ năm 1945 đến 1986: Trường hợp viết lại Tây qua truyện (Truyện dưa hấu)”, Nghiên cứu văn học, số 9, tr. 35-50.
5 Xem thêm: Nguyễn Thị Oanh (2005), Nghiên cứu văn bản “Lĩnh Nam chích quái”, Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội; Tôn Tốn 孫遜, Trịnh Khắc Mạnh 鄭克孟, Trần Ích Nguyên 陳益 源 chủ biên (2011), Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tập thành tập 1 越南漢文小說集成第1 冊, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã 上海古籍出版社, Thượng Hải.
6 Tình hình văn bản cụ thể của thiên truyện này trong LNCQ thực ra vẫn cần được xử lý lại một cách tập trung và rốt ráo hơn, song đó là câu chuyện của một nghiên cứu khác. Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi chỉ sử dụng những tình tiết chung nhất giữa các bản để làm cơ sở so sánh với các bản cải biên giai đoạn từ 1945-1986. Trong đó, văn bản LNCQ ký hiệu A.33 lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và bản dịch của Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San được chọn làm bản đại diện. Xem thêm: Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh và Kiều Phú (nhuận chính), Lĩnh Nam chích quái (Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San dịch, 2020), NXB. Kim Đồng.
7 Theo bài tựa của Vũ Quỳnh: “Những truyện chép ở đây [LNCQ] là sử truyện chăng, lai lịch ra sau, có từ thời nào, tên họ người hoàn thành đều không thấy ghi rõ”. Xem: Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh và Kiều Phú (nhuận chính), Lĩnh Nam chích quái (Nguyễn Ngọc San, Đinh Gia Khánh dịch, 2020), Tlđd, tr. 20.
8 Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh và Kiều Phú (nhuận chính), Lĩnh Nam chích quái, Tlđd, tr. 20, 196.
9 Thanh Hòa Tử, Quế Hiên Tử, Hội Chân Biên (Nguyễn Thanh Tùng khảo cứu và dịch chú, 2021), NXB. Đại học Sư phạm.
10 Trần Đăng Ninh (1988), “Thiên tình sử và di tích Đa Hòa”, trong: Nhiều tác giả (1988), Chử Đồng Tử - Tiên Dung, Hội Văn học Nghệ thuật Hải Hưng, tr. 4.
11 Văn kiện của Đại hội nhấn mạnh: “Cần phải làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao và vùng biên giới tiến kịp vùng nội địa, các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và năng lực to lớn của mình, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ để tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21 – 1960, NXB. Chính trị quốc gia, tr. 609.
12 Hoàng Công Khanh, Tô Vũ (1957), Chử Đồng Tử: Nhạc vũ kịch, Kuy Sơn xuất bản.
13 Xét riêng những vở ca kịch khai thác đề tài lịch sử và văn học trung đại của Hoàng Công Khanh, có thể kể tới vở Về Hồ (1946), Phạm Tải Ngọc Hoa (1957), Cung phi Điểm Bích (1991)...
14 Hoàng Công Khanh (1954), Quan điểm văn nghệ nhân dân, Kuy Sơn xuất bản.
15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23 Hoàng Công Khanh, Tô Vũ (1957), Chử Đồng Tử: Nhạc vũ kịch, Tlđd, tr. 5, 35-35, 36, 63, 75-76, 61, 62, 50, 9-10.
24, 25, 26 Lê Thị Vinh (kể, 1957), Chử Đồng Tử, NXB. Phổ thông, tr. 5, 7, 18.
27 Xuân Quỳnh (1984), Tiên Dung và Chử Đồng Tử, NXB. Kim Đồng, tr. 5-6.
28 Tô Hoài (1985), Nhà Chử, NXB. Kim Đồng,

Bình luận

    Chưa có bình luận