Từ thế kỷ XX, chúng ta đã chứng kiến những bước chuyển mình mạnh mẽ của các nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn khi tiếp cận các hiện tượng đời sống. Các nhà nghiên cứu chủ trương nhìn xã hội trong “cái đang là” (sự vận động, kiến tạo) chứ không phải “cái đã là” (bản chất vốn có của đời sống). Cùng với xu thế đó, nghiên cứu di sản cũng không ngoại lệ, chúng ta vẫn thường quen thuộc với cách hiểu di sản là “cái của thời trước để lại”1 như một thực thể có sẵn, khách quan, nằm ngoài quy luật biến động của đời sống xã hội thì với góc nhìn di sản học phê phán, mở đầu Chương 1 trong chuyên luận Uses of heritage, Laurajane Smith đã bắt đầu bằng một mệnh đề có sức chất vấn mạnh mẽ, buộc ta phải đặt câu hỏi phản tư di sản thực sự là gì: “Thực tế, không hề tồn tại cái được gọi là di sản”2. Phát biểu này không nhằm mục đích phủ nhận sự tồn tại của các di tích, ký ức, nghi lễ, truyền thống mà nhấn mạnh rằng những yếu tố ấy chỉ trở thành di sản khi được bệ đỡ bởi một cơ chế diễn ngôn nhất định. Theo bà, nhận thức của chúng ta luôn bị ảnh hưởng bởi các diễn ngôn di sản và đặc biệt là diễn ngôn di sản có thẩm quyền đã định hình cách chúng ta nghĩ, hiểu và viết về di sản, từ đó đưa ra phán đoán đâu là điều được truyền lại và trao gửi đến thế hệ tương lai. Có thể thấy, di sản không chỉ là phần còn lại của quá khứ mà là một “quá khứ trong hiện tại”, là một phương tiện kiến tạo ý nghĩa cho hiện tại. Đằng sau việc lựa chọn và quyết định cái gì là di sản sẽ là những cơ chế ngầm ẩn nhằm tổ chức nhận thức về cộng đồng, lịch sử, quyền lực và quốc gia - dân tộc. Nói cách khác, di sản vận hành như một thực hành diễn ngôn không chỉ phản ánh quá khứ mà còn tham gia “sản xuất” những hình dung về cộng đồng; không chỉ lưu giữ ký ức mà còn kể lại một cách có chọn lọc về nguồn gốc, tính liên tục vị thế và vị trí của cộng đồng nhằm phục vụ mục đích nhất định. Chính từ đây, di sản gặp gỡ với bản sắc, di sản cung cấp chất liệu để cộng đồng xác lập cảm thức thuộc về và nhận diện mình khi đối diện với dòng chảy của lịch sử dân tộc và bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Bản sắc sẽ mang nhiệm vụ trả lời câu hỏi chúng ta có thể trở thành gì, được biểu đạt thế nào và điều đó tác động ra sao đến cách chúng ta biểu đạt bản thân mình qua các tự sự quốc gia - dân tộc:
“Chúng ta nên nghĩ về di sản như một thực hành diễn ngôn. Đó là một trong những cách quốc gia dần dần kiến tạo cho chính nó một dạng ký ức xã hội tập thể. Cũng như các cá nhân và gia đình kiến tạo bản sắc của mình bằng cách “tự sự hóa” những sự kiện ngẫu nhiên và những bước ngoặt bất định trong đời sống thành một câu chuyện duy nhất, mạch lạc, các quốc gia cũng kiến tạo bản sắc bằng cách chọn lọc và gắn kết những đỉnh cao được lựa chọn cùng những thành tựu đáng ghi nhớ vào một “câu chuyện quốc gia” đang mở ra. Câu chuyện này được gọi là “t ruyền thống””3.
Nhận định này đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa di sản, diễn ngôn, ký ức và bản sắc. Di sản không chỉ là một chứng tích của quá khứ, biểu đạt một quá khứ hiện tồn mà nó là thực hành diễn ngôn cung cấp những thành tựu đỉnh cao, những ký ức đáng ghi nhớ để kể lại câu chuyện quốc gia - dân tộc thống nhất và liên tục. Chính câu chuyện ấy giúp cộng đồng hình dung mình như một chủ thể có lịch sử, có cội nguồn và có bản sắc riêng. Vì vậy, nghiên cứu di sản từ góc nhìn diễn ngôn và di sản học phê phán không chỉ là nghiên cứu cái được bảo tồn, mà còn là nghiên cứu cách quá khứ được kể lại, ai có quyền kể lại quá khứ ấy và câu chuyện đó phục vụ cho việc kiến tạo những hình dung nào về cộng đồng, bản sắc và quốc gia - dân tộc trong hiện tại.
Trong giai đoạn 2025-2026, đời sống văn hóa - chính trị Việt Nam được đánh dấu bởi nhiều sự kiện quy mô quốc gia, đặc biệt xoay quanh hai ngày lễ lớn của dân tộc: 30.4 và 02.9. Đây không chỉ là những dịp kỷ niệm lịch sử mà còn mở ra những không gian trình diễn di sản, ký ức cộng đồng, nơi lịch sử dân tộc được tái hiện bằng nghi lễ, âm nhạc, nghệ thuật và truyền thông đại chúng. Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý đến năm sự kiện:
1. Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30.4.1975- 30.4.2025) (gọi tắt là sự kiện A50)
2. Lễ Kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19.8.1945 -19.8.2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02.9.1945-02.9.2025) (gọi tắt là sự kiện A80)
3. Concert Tổ quốc trong tim
4. Concert Tự hào là người Việt Nam
5. Concert Âm vang Tổ quốc
Năm sự kiện trên được chúng tôi quan tâm không chỉ bởi đây là những sự kiện gắn liền với ngày lễ lớn của dân tộc mà quan trọng hơn, đây là những sự kiện mang tầm vóc quốc gia và được tổ chức bởi các bộ phận chuyên trách thuộc đảng bộ, nhà nước thực hiện hoặc ủy quyền thực hiện. Chúng tôi nhìn các sự kiện này từ tính chất thực hành xã hội và khả năng huy động cộng cảm từ cộng đồng. Như vậy, đây sẽ là minh chứng rõ ràng nhất cho việc các diễn ngôn di sản, nhất là các diễn ngôn di sản có thẩm quyền đã tác động đến đời sống của đương đại ngày nay nhằm kiến tạo và truyền dẫn những ý niệm về văn hóa, truyền thống của đất nước. Đặc biệt, khi kể tự sự quốc gia và nhìn tự sự ấy trong chiều dài thống nhất và liên tục, các chủ thể diễn ngôn dường như đều có một điểm chung là tìm về điểm khởi phát trong lòng văn hóa, văn học dân tộc bắt nguồn từ triều đại Lý - Trần4. Vì vậy, chúng tôi muốn khám phá cách thức thơ văn Lý - Trần cùng các diễn ngôn văn học của thời kỳ được di sản hóa5, tái diễn giải và sử dụng trong đời sống ngày nay qua lớp ngôn từ, hình tượng nghệ thuật trong năm sự kiện trên và đi trả lời câu hỏi những di sản đó đã được vận dụng nhằm biểu đạt mục đích nào của quốc gia Việt Nam đương đại?
1. Thời Lý - Trần và những di sản được kiến tạo từ diễn ngôn văn học quá khứ
Lý - Trần vốn là một thuật ngữ được giới chuyên môn sử dụng để chỉ chung khoảng thời gian lịch sử kéo dài gần 500 năm kể từ khi Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 giành lại quyền độc lập, tự chủ, mở ra thời kỳ mới của dân tộc ta: độc lập, phục hưng, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc đến năm 1418 - khi Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh xâm lược, trong đó hai triều đại Lý và triều đại Trần là tiêu biểu nhất6. Tương ứng với đó, văn học Lý - Trần để chỉ giai đoạn văn học từ năm 938, khi đất nước thoát khỏi ách đô hộ 1000 năm Bắc thuộc đến năm 1418. Có thể nói, đây là giai đoạn văn học phản ánh thành tựu tổng hợp của sáu triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê, Lý, Trần, Hồ và là thời kỳ có tính chất mở đầu và mở đường, xây dựng và hình thành bản sắc của dân tộc ta. Cần làm rõ rằng, giới hạn khảo sát của khái niệm thơ văn Lý - Trần trong bài viết không chỉ bó hẹp trong các sáng tác văn học viết thuần túy. Nó bao hàm cả hệ thống di sản văn học dân gian, đặc biệt là huyền thoại lập quốc đã được các Nho gia hệ thống hóa, ghi chép lại trong văn bản Lĩnh Nam chích quái ra đời vào thời Trần.
Văn học thời Lý - Trần có thể nói là một giai đoạn văn học phong phú về thể loại, đa dạng về nội dung. Nói về thành tựu của giai đoạn văn học này, không ít nhà nghiên cứu đã trình bày thành tựu của văn học thời Lý - Trần từ điểm đến diện với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Vì vậy, ở đây, chúng tôi sẽ không đi sâu vào thành tựu văn học thời Lý - Trần đã đạt được mà sẽ bàn đến di sản nào đã được hình thành từ diễn ngôn văn học của thời kỳ. Khi nhắc đến nền văn học thời Lý - Trần, ta phải nói đến bộ phận văn học mang nội dung thể hiện tình yêu nước, kết tinh tinh thần dân tộc kiên cường bất khuất cùng ý thức độc lập chủ quyền dân tộc tạo thành di sản trong dòng văn học này. Qua những tác phẩm gắn với ý thức độc lập, chủ quyền và tinh thần chống ngoại xâm, văn học Lý - Trần đã góp phần kết tinh một hình dung về dân tộc Việt Nam: một dân tộc có bản lĩnh tự chủ, có ý chí bảo vệ non sông và có khả năng vượt qua được những thử thách của lịch sử. Bên cạnh đó, từ các diễn ngôn về nguồn gốc cộng đồng cùng các diễn ngôn tạo nên sợi dây gắn kết giữa vua - tôi, vua - dân như mối quan hệ thân tộc đã hình thành di sản về tinh thần đoàn kết dân tộc. Nếu lòng yêu nước tạo nên trục giá trị gắn với ý thức bảo vệ và khẳng định đất nước thì tinh thần đoàn kết lại tạo nên nền tảng liên kết cộng đồng, giúp các cá nhân khác nhau trong xã hội được hình dung như thuộc về cùng một chỉnh thể. Chính hai di sản này đã vượt ra khỏi phạm vi diễn ngôn văn học để tiếp tục được tái hiện, diễn giải và làm mới trong các thực hành văn hóa xã hội thông qua các sự kiện mang tính quốc gia. Ngoài hai di sản chúng tôi nhắc đến trên đây, thời Lý - Trần còn những diễn ngôn văn học khác đã trở thành di sản nhưng trong phạm vi bài viết chúng tôi sẽ chỉ bàn tới hai di sản này vì nó là hai di sản Lý - Trần được “trình diễn” trong các sự kiện văn hóa - chính trị mà chúng tôi quan tâm, khảo sát.
2. Từ diễn ngôn văn học đến di sản về bản sắc yêu nước cùng sức mạnh dân tộc
Văn học thời Lý - Trần đã để lại cho chúng ta những thành tựu rực rỡ, những diễn ngôn khi xưa của nền Nho học đã trở thành di sản ngày hôm nay. Như có nói ở phần trước, một trong các di sản quan trọng nhất mà các tác giả Nho gia đã kiến tạo nên là tinh thần yêu nước cùng sức mạnh dân tộc. Những di sản trong thơ văn Lý - Trần đã trở thành những “mảnh ghép văn hóa” của thời đại và được huy động trong các sự kiện mang tầm vóc quốc gia để hình thành nên bản sắc của dân tộc ta. Ở đây, chúng tôi sẽ không tách bạch một cách hoàn toàn giữa văn học và sử học, bởi lẽ, di sản học vốn là một ngành khoa học liên ngành. Vì vậy, nghiên cứu di sản của văn học cũng cần huy động đến các tri thức xung quanh các sự kiện lịch sử và lần theo dấu chỉ dẫn trong các ca từ, hình tượng đương đại được sử dụng trong các sự kiện để nhìn nhận rõ nét hơn.
Chúng ta vẫn thường quen thuộc với các mệnh đề về tinh thần yêu nước nồng nàn của con người Việt Nam ta, đây không chỉ là truyền thống quý báu mà còn đại diện cho sức mạnh dân tộc. Lòng yêu nước là một cấu trúc cảm xúc - giá trị, nó không chỉ được nảy sinh từ các tương tác cộng đồng mà được hình thành và nuôi dưỡng liên tục thông qua các thực hành ghi nhớ mang tính biểu tượng. Nói cách khác, lòng yêu nước vừa là di sản được kế thừa vừa là kết quả của quá trình nhà nước chủ động thiết lập các không gian nghi lễ để tái sinh và định hình cảm xúc cộng đồng trong hiện tại. Trong năm sự kiện thuộc phạm vi khảo sát, chúng tôi nhận thấy một nội dung chiếm tỉ trọng đa số là sự khẳng định sức mạnh dân tộc, vượt qua thử thách gian lao để giành lại độc lập, tự do và hòa bình cho đất nước. Nó chính là biểu hiện cụ thể của tình yêu nước được nối dài trong các tác phẩm từ thời kỳ cổ - trung đại đến ngày nay trong vốn văn hóa của dân tộc, là một nguồn lực tinh thần cho hiện tại. Điều này, ta có thể thấy trong lời bài hát Viết tiếp câu chuyện hòa bình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung:
“Cha ông ta ngày xưa ngã xuống để cho đời ta ngày sau đổi lấy hòa bình
Giữa khói binh ai cũng nguyện lòng hy sinh
Xin tri ân những người chiến sĩ quên đi niềm riêng, quên đi cả bản thân mình
Cuộn chảy trong lòng một dòng máu nóng, dòng máu Lạc Hồng
Tạ ơn những người gìn giữ nước non Đại Việt nghìn năm trước (huh huh huh huh)
Tạ ơn người Cha già của chúng ta trên con đường cứu nước (huh huh huh huh)”7.
Ở đây, tác giả đã sử dụng đến hai yếu tố văn hóa, văn học, lịch sử nước ta là “Lạc Hồng” và “Đại Việt”. “Lạc Hồng” chỉ đến nguồn gốc dân tộc bắt nguồn từ Hồng Bàng thị truyện trong Lĩnh Nam chích quái, từ khi xuất hiện trong Hồng Bàng thị truyện, bản thân nó đã truyền dẫn các diễn ngôn khác nhau nhưng ở đây, kết hợp với động từ “cuộn chảy” và “dòng máu” nó đã được vận dụng để tạo thành một ký ức tập thể và bản sắc nằm trong xương máu của dân tộc Việt Nam ta về lòng quả cảm hi sinh anh dũng bảo vệ tổ quốc từ ngàn xưa. Hơn nữa, câu chuyện về họ Hồng Bàng được ra đời, một trong những nguyên nhân quan trọng nhất chính là để khẳng định độc lập và chủ quyền dân tộc đối lập với Trung Hoa. Vì vậy, khi tái sử dụng “con Lạc cháu Hồng” bên cạnh niềm tự hào về nguồn gốc dân tộc, đồng thời sẽ bao hàm cả ý niệm về sự tự chủ, tự quyết, ý niệm về một quốc gia riêng biệt thống nhất. Bên cạnh đó, yếu tố “Đại Việt” xuất hiện trong lời ca khiến ta liên tưởng đến Đại Việt là quốc hiệu của Việt Nam từ thời vua Lý Thánh Tông năm 1054 - năm 1400 và từ năm 1428 - năm 1804. Nó có một chiều sâu lịch sử gắn liền với nhiều triều đại và các chiến công chống ngoại xâm tạo nên sự xuyên suốt trong lịch sử. Khi đi vào ca từ, “Đại Việt” không còn là một dữ kiện lịch sử thuần túy mà trở thành ký hiệu di sản huy động ký ức quốc gia xa xưa cùng các thành tựu quá khứ được tái diễn trong hiện tại tạo cảm giác về một đường dây liên tục từ cha ông “gìn giữ nước non Đại Việt nghìn năm trước” đến “người cha già” trên con đường cứu nước. Chính sự sắp đặt cạnh nhau này đã biến những mảnh ký ức rời rạc thành một tự sự thống nhất về dân tộc: từ thời kỳ khởi nguyên của dân tộc đến hiện đại luôn là một cộng đồng không ngại hi sinh để bảo vệ nền độc lập và chủ quyền đất nước. Nó tạo thành một truyền thống bất khuất của con người Việt Nam, khẳng định cho sức mạnh và cho lý tưởng của dân tộc. Qua đó, ca từ của bài hát đưa ra thông điệp cho thế hệ tương lai kế thừa, “viết tiếp” bản sắc truyền thống này, khắc sâu thêm tình yêu nước, độc lập dân tộc và các giá trị hòa bình, ổn định, phát triển quốc gia. Như vậy, chúng ta có thể thấy qua cách biểu đạt của Nguyễn Văn Chung, các di sản thơ văn Lý - Trần mang ấn tượng một quá trình văn hóa được cộng đồng lựa chọn, diễn giải và sử dụng để khắc sâu thêm bản sắc yêu nước của con người Việt Nam.
Cùng chung mạch nguồn tìm về lòng yêu nước từ các sự kiện, tác phẩm văn học quá khứ, ca nhạc sĩ Bùi Trường Linh tiếp tục huy động kho ký ức văn học - lịch sử thời trung đại để cộng đồng thấy được một Việt Nam “thịnh vượng”:
“Thời gian khắc ghi từ ngàn xưa
Việt Nam vẫn luôn huy hoàng
Bao chiến công anh hùng
Muôn đời nhớ ơn mãi luôn rền vang
Lời Nam Quốc Sơn Hà định phận
Đông Như Nguyệt sáng soi
Mực in dấu quân dân nhà Trần
Lời hịch còn vang sấm truyền
Trời xanh như áng thiên thư Bình Ngô
Danh nhân họa nước non
Ngàn thu vững tuyên ngôn độc lập
Thịnh vượng Việt Nam sáng ngời
Đời đời ngàn muôn ấm no
Cọc chông cắm nơi Bạch Đằng giang
Nhiều phen phá tan quân thù”8.
Trong bài hát, tác giả Bùi Trường Linh sử dụng liên tiếp gợi ra ấn tượng về các tác phẩm và các sự kiện bằng thủ pháp liên văn bản. Các ký hiệu như Nam quốc sơn hà gợi lên ý thức về cương vực và chủ quyền, Hịch tướng sĩ giúp khơi dậy tinh thần trách nhiệm, danh dự và khí phách dân tộc, sông Như Nguyệt và sông Bạch Đằng là những địa điểm nơi chiến thắng quân xâm lược không được nhắc lại nhằm minh họa kiến thức lịch sử mà để tạo nên một “bản đồ ký ức” về sức mạnh dân tộc. Mỗi địa danh, tác phẩm, sự kiện đều là một điểm neo của ký ức tập thể, khi được xâu chuỗi trong ca từ, chúng tạo thành một tự sự liền mạch về chiến công của dân tộc. Nhờ đó, ý niệm về “thịnh vượng” không phải sự ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của một truyền thống, bản sắc yêu nước đã được khắc sâu và nhấn mạnh thêm qua các chứng tích của lịch sử. Sức mạnh này càng được khẳng định rõ hơn khi trong tiết mục đồng diễn ca khúc này trong sự kiện A80 đã xuất hiện hình ảnh của ngọn cờ Đông A - ngọn cờ đại diện cho sức mạnh của Đại Việt, đất nước ba lần đánh đuổi được quân Nguyên Mông xâm lược.
Sức mạnh này không chỉ nằm ở bề mặt ngôn từ mà được cộng hưởng mạnh mẽ thông qua không gian trình diễn văn hóa - chính trị. Khi ca khúc được vang lên trong Lễ kỷ niệm A80 tại Quảng trường Ba Đình, ngọn cờ Đông A hòa cùng âm vang sau cuộc diễu binh của các khối lực lượng đã tạo ra sự chuyển hóa về chất. Di sản văn hóa - văn học đã trở thành một thực hành ghi nhớ mang tính biểu tượng, một tuyên ngôn sống động. Nhà nước thông qua thực hành diễn ngôn đã huy động vốn biểu tượng của các cuộc chiến tranh vệ quốc thời trung đại để cộng hưởng với sức mạnh quốc phòng hiện đại. Sự thể hiện của ca từ và biểu diễn nghệ thuật đã đi theo một mạch thống nhất, tương hỗ lẫn nhau, chúng làm sống dậy các diễn ngôn văn học quá khứ được di sản hóa nhằm kiến tạo nên hình ảnh bản sắc Việt Nam có sự kế thừa không chỉ từ bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên đến bản tuyên ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn có thể xa hơn nữa về câu chuyện Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, vua Lê Đại Hành đánh bại quân Tống năm 981 và Hưng Đạo Đại Vương chiến thắng quân Mông Nguyên năm 1288. Bằng sự trình diễn những ký ức ấy, di sản đã trở thành một kinh nghiệm thẩm mĩ, nơi người xem không chỉ tiếp nhận thông tin về quá khứ mà cùng tham dự vào cảm giác tự hào, biết ơn và cảm thức thuộc về cộng đồng để từ đây tình yêu nước trong mỗi người dân ngày một thêm nồng nàn và lan tỏa.
Không chỉ “trưng dụng” thơ văn và ký ức lịch sử để khẳng định sức mạnh dân tộc trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, Thịnh vượng Việt Nam sáng ngời còn mở rộng diễn ngôn yêu nước sang bình diện của khát vọng kiến thiết quốc gia và nâng cao vị thế Việt Nam trong thời bình:
“Ai biết khi xưa Thăng Long thành
Rồng thiêng từ đây vút bay”9.
Hai hình ảnh “Thăng Long thành” và “rồng thiêng” gợi nhắc ta nhớ về câu chuyện vua Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư về Đại La, đồng thời đánh thức lớp ký ức văn học - chính trị trong Thiên đô chiếu:
“Kỳ địa quảng nhi thản bình: quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô”10.
(Địa thế rộng mà bằng: đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời).
Trong tác phẩm, việc định đô không chỉ là một quyết định hành chính mà còn là một diễn ngôn về sự phát triển của tương lai đất nước: nơi đất bằng phẳng, để dân sinh được an lạc, chốn tụ hội của bốn phương. Điều này càng được củng cố cùng huyền thoại về rồng bay lên. Chúng tôi không lạm bàn về câu chuyện chính trị đằng sau tác phẩm Thiên đô chiếu và lý do mong muốn rời đô của vua Lý Công Uẩn. Nhưng một sự thật rằng, ý nghĩa gắn liền với sự phồn thịnh của đất nước trong tác phẩm đã trở thành di sản của cộng đồng qua các diễn ngôn có thẩm quyền trong cách truyền lại cho thế hệ trẻ tạo nên sức ảnh hưởng trong sáng tác đương đại. Điều này cũng được thể hiện trong bài hát Đất nước vươn mình của nhạc sĩ Đức Trịnh:
“Mơ ước ngàn năm cất cánh bay lên,
khát vọng rồng thiêng cất cánh bay lên,
vượt qua chính mình vươn ra biển lớn,
thế đứng tự cường sánh bước năm châu”11.
Ở đây, “rồng thiêng” trong bài hát này cũng được sử dụng để thể hiện ước mơ phát triển của đất nước, biểu thị trong nội lực dân tộc và khát vọng hòa nhập trong bối cảnh mới. Đặt trong mối quan hệ với nhan đề, với các từ, cụm từ “vươn ra biển lớn”, “tự cường”, “sánh bước năm châu” đã cho thấy sự dịch chuyển của diễn ngôn yêu nước đương đại, yêu nước không chỉ là sự sẵn sàng hi sinh mà còn là trách nhiệm làm cho đất nước giàu mạnh hơn.
Bên cạnh “rồng thiêng”, ký ức về Thánh Gióng - Phù Đổng thiên vương cũng được di sản hóa nhằm biểu đạt ý nghĩa tương tự trong bài hát Phù Đổng thiên vương của nhạc sĩ Hồ Hoài Anh:
“Đưa cao danh Việt Nam
Lên cao hơn trăng treo đỉnh đầu
Ngước lên tạ phước nhờ đời ông và đời cha
Hướng về trước mắt đạp chông gai đang đợi ta
Chẳng cần ngợi ca, vì nước vì nhà
Như Phù Đổng Thiên Vương, chở che ngàn đời xa”12.
Bên cạnh ý nghĩa về sự bảo vệ Tổ quốc như câu chuyện thời trung đại được ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái, chúng tôi nhận thấy di sản Phù Đổng thiên vương được tái diễn giải trong thời bình nhắc nhở về trách nhiệm của mỗi người với quốc gia cần “đưa cao danh Việt Nam”13 vươn xa ra thế giới dẫu phải “đạp chông gai”14 phía trước. Như vậy, ý nghĩa của hình tượng Phù Đổng thiên vương cũng đã chuyển dịch dần từ sự chiến thắng kẻ thù xâm lược sang nâng cao vị thế quốc gia, từ bảo vệ biên cương bờ cõi sang ý nghĩa giúp đất nước được nhận diện, tự hào trong không gian thế giới. Nói cách khác, di sản của hình tượng Phù Đổng thiên vương vẫn giữ được ý nghĩa hạt nhân về ý chí vươn lên, tinh thần vì nước, sức mạnh phi thường đối diện với thử thách nhưng được chuyển sang một hệ quy chiếu mới - hệ quy chiếu của sự phát triển hội nhập và trách nhiệm mỗi công dân. Qua đó, ta có thể thấy, các di sản dường như không có sự cố định tuyệt đối về nghĩa, trong bối cảnh đương đại, những ý nghĩa mới vẫn được tạo sinh trong các tương tác thực hành xã hội. Nói cách khác, các diễn ngôn di sản không chỉ truyền đạt ý nghĩa mà còn tham gia vào các hoạt động hình thành và diễn giải căn tính, bản sắc của cộng đồng trong bối cảnh thời đại mới. Vì vậy, “Thăng Long thành”, “rồng thiêng”, “Phù Đổng Thiên Vương” không chỉ là những chất liệu văn hóa mà chúng đã trở thành những ký hiệu, biểu tượng tham gia kiến tạo bản sắc yêu nước trong hiện tại. Nếu “Thăng Long thành”, “rồng thiêng” gợi ý niệm về chính danh, thế nước và khát vọng phồn thịnh thì “Phù Đổng Thiên Vương” cho thấy sự mở rộng về nghĩa của lòng yêu nước bên cạnh giữ nước còn có trách nhiệm dựng nước, nâng tầm quốc gia.
3. Từ diễn ngôn văn học đến di sản về bản sắc đoàn kết dân tộc
Nếu như bản sắc yêu nước và sức mạnh dân tộc được kiến tạo qua nhiều chất liệu phong phú khác nhau trong văn học Lý - Trần nói riêng và thơ ca trung đại nói chung thì bản sắc đoàn kết dân tộc trong văn hóa đương đại thường đều bắt đầu từ một điểm xuất phát - dấu ấn của Hồng Bàng thị truyện - huyền thoại dân tộc về Lạc Long Quân, Âu Cơ và bọc trăm trứng. Đây không chỉ là truyện kể về nguồn gốc mà còn là một cơ chế biểu tượng giúp cộng đồng hình dung chính mình như một chỉnh thể thống nhất. Trong ý nghĩa đó, huyền thoại về họ Hồng Bàng đã cung cấp một sự liên tưởng về sự gắn bó dân tộc, bằng danh xưng giàu sức liên kết - “đồng bào”. Từ góc nhìn di sản học phê phán, điều đáng chú ý là cách huyền thoại này được tái diễn giải trong ngữ cảnh trình diễn đương đại để tạo nên cảm giác thuộc về, vận hành trong hiện tại như một thực hành kiến tạo bản sắc. Trong Lĩnh Nam chích quái, câu chuyện này có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau nhưng khi đi vào ca khúc đương đại và các sự kiện quốc gia, lớp nghĩa được “kích hoạt” mạnh nhất là ý niệm cùng chung cội nguồn, chung dòng máu, như anh em trong cùng một gia đình. Có thể thấy di sản không vận hành theo cơ chế như một kho lưu giữ ký ức mà như một phương thức diễn giải và kết nối quá khứ với hiện tại hình thành bản sắc đoàn kết, gắn bó khối đại đoàn kết dân tộc, cố kết cộng đồng. Điều này được thể hiện rõ trong bài hát Tình yêu đất nước tại concert Tự hào là người Việt Nam:
“Việt Nam đoàn kết kiên cường vững bền
một lòng son sắt giữ yên biển trời là bao
máu xương hy sinh quên mình
vì tình yêu đất nước Việt Nam vững bền.
Việt Nam, con cháu rồng tiên mang dòng
máu Lạc Hồng chảy trong tim ta xây
Tổ quốc sáng tươi muôn đời”15.
Biểu tượng “con cháu rồng tiên”, “Lạc Hồng” đã giúp chuyển hóa cộng đồng chính trị - xã hội thành một cộng đồng thân tộc “tưởng tượng”. Đặc biệt, kết hợp với “dòng máu”, mối quan hệ chung cội nguồn ấy càng được khắc sâu thêm, nó đã làm chuyển dịch nền tảng liên kết cộng đồng sang quan hệ huyết thống. Đây là một thao tác diễn ngôn quan trọng, bởi nó làm sự đoàn kết không xuất hiện như một yêu cầu từ bên ngoài mà như một yêu cầu nội tại. Từ điều kiện chung một dòng máu, tính đoàn kết cùng nhau “giữ yên biển trời”16, “xây Tổ quốc sáng tươi muôn đời”17, khiến ta cảm thấy đoàn kết như một lẽ dĩ nhiên, một điều tất nhiên phải thực hiện hơn là một nhiệm vụ phải gánh vác.
Tiếp nối với câu chuyện huyền thoại về nguồn gốc chung của dân tộc, trong sự kiện concert Âm vang tổ quốc gần đây, cùng với ý nghĩa đoàn kết dân tộc thì trong lời dẫn của sự kiện, tính đoàn kết dân tộc được đẩy lên thành sự kết tụ quốc gia:
“Một nửa miền xuôi nơi đại hạ, năm mươi mạn ngược chốn hoang sơ. Huyền tích khai sinh dân tộc bắt đầu với năm mươi con theo cha vươn khơi giữ biển, năm mươi con theo mẹ lên non giữ rừng. Một cuộc chia xa để mở lối cho ngày trùng phùng vĩ đại. Từ khởi nguyên ấy, lịch sử bắt đầu âm thầm mà mãnh liệt. Chia xa mà không cách biệt, mở ra bản trường ca bất tử. Không chỉ là những bước chân tỏa đi muôn hướng, mà là sự hình thành của không gian sống, của bản sắc, của ý chí người Việt. Dòng chảy ấy bền bỉ qua ngàn năm, vững vàng qua dâu bể, đa dạng mà thống nhất, khác biệt mà đồng lòng. Tất cả hội tụ về cội nguồn thiêng liêng, nơi khởi phát và nâng đỡ tinh thần dân tộc trường tồn”18.
Ở phần đầu của lời dẫn, người viết khái quát huyền tích một cách sáng tạo, mở đầu là chia xa nhưng kết thúc lại ở điểm hội tụ, kết nối các tộc người với nhau: “Một cuộc chia xa để mở lối cho ngày trùng phùng vĩ đại”19. Theo logic thông thường, chia xa có thể tạo ra đứt gãy nhưng ở đây, chia xa lại được diễn giải là để mở rộng không gian sống cho cộng đồng. Huyền thoại vì thế đã thể hiện trong một trạng thái chuyển động từ lan tỏa đến quy tụ lại với nhau. Điều này khiến diễn ngôn đoàn kết không chỉ mang ý nghĩa tình cảm mà còn mang tính chất một cuộc kiến thiết: đoàn kết để dựng xây. Trong phần sau của lời dẫn, ý nghĩa này càng được đẩy mạnh hơn: “Không chỉ là những bước chân tỏa đi muôn hướng, mà là sự hình thành của không gian sống, của bản sắc, của ý chí người Việt. Dòng chảy ấy bền bỉ qua ngàn năm, vững vàng qua dâu bể, đa dạng mà thống nhất, khác biệt mà đồng lòng”20. Hình ảnh “những bước chân tỏa đi muôn hướng” không chỉ là lời kể thông thường mà còn ẩn dụ cho quá trình hình thành các khu vực văn hóa khác nhau mang bản sắc khác biệt nhưng tất cả đều chung một mái nhà Việt Nam - “đa dạng mà thống nhất, khác biệt mà đồng lòng”21. Ở đây, người viết đã kiến tạo thông điệp về sự đa dạng bản sắc văn hóa nhưng tất cả sự khác biệt ấy đều gắn kết chặt chẽ bằng ký ức quốc gia về cội nguồn. Di sản về “con rồng cháu tiên” đã được sử dụng để trả lời cho câu hỏi lý do vì sao cùng một đất nước lại có sự khác biệt về văn hóa giữa các cộng đồng và quan trọng hơn là cố kết các cộng đồng ấy thành một mối, kết tụ thành sức mạnh, trở thành bản sắc của nước Việt Nam. Có thể thấy, đoạn lời dẫn đã sử dụng huyền thoại Hồng Bàng để củng cố diễn ngôn đoàn kết dân tộc kiến tạo nên bản sắc quốc gia. Nhưng đoàn kết không chỉ ở chỗ “cùng một nhà” mà xa hơn là sự phân công, khai mở, gìn giữ, dựng xây và tụ hội. Từ bọc trăm trứng đến các không gian rừng - biển, từ chia xa đến trùng phùng, từ khác biệt đến đồng lòng, lời dẫn kiến tạo nên một hình dung về Việt Nam đa dạng mà vững bền, thống nhất. Chính trong quá trình ấy, bản sắc đoàn kết được hình thành như một giá trị quốc gia, thay vì xóa bỏ khác biệt, thì đã biến sự khác biệt thành nguồn lực chung cho sự trường tồn của dân tộc.
4. Kết luận
Từ việc khảo sát ca từ, lời dẫn, hình tượng trong các sự kiện văn hóa - chính trị quy mô quốc gia, có thể thấy thơ văn Lý - Trần nói riêng và các tác phẩm trung đại nói chung không chỉ được nhắc đến như một tri thức văn hóa, văn học, lịch sử thông thường mà được di sản hóa qua các diễn ngôn trở thành hình tượng, biểu tượng kiến tạo ký ức quốc gia, hình thành nên bản sắc cộng đồng người Việt Nam. Quá trình di sản hóa ở đây không chỉ là lựa chọn tác phẩm phù hợp mà còn bao gồm cả sự lựa chọn những lớp nghĩa phù hợp để trao cho chúng vị thế của di sản.
Qua các trường hợp được phân tích, chúng ta có thể thấy hai mạch giá trị nổi bật được kiến tạo là bản sắc yêu nước, sức mạnh dân tộc và tinh thần đoàn kết cộng đồng. Nếu các yếu tố như Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, sông Bạch Đằng, sông Như Nguyệt đại diện cho sức mạnh dân tộc kiên cường, bất khuất phá tan quân thù, tạo thành sự nối liền trong truyền thống bảo vệ nước nhà thì các yếu tố về “rồng thiêng”, thành Thăng Long lại có sự chuyển biến sức mạnh dân tộc và tình yêu nước trong thời bình giờ đây là nhiệm vụ dựng xây và phát triển quốc gia. Biểu tượng về Phù Đổng thiên vương có thể nói nằm ở giao điểm giữa hai diễn ngôn di sản kiến tạo bản sắc về tình yêu nước này, nó biểu thị cho tính linh hoạt và biến động của di sản văn học, văn hóa trung đại trong các thực hành, tương tác xã hội của đời sống đương đại, hình thành ý nghĩa mới phù hợp với đời sống ngày hôm nay. Còn huyền thoại về họ Hồng Bàng đã giúp khắc sâu thêm hình dung về một cộng đồng quốc gia Việt Nam đa dạng nhưng thống nhất, khác biệt mà đồng lòng. Như vậy, từ diễn ngôn văn học đến ký ức quốc gia, thơ văn Lý - Trần tiếp tục có đời sống riêng của nó trong xã hội hiện đại. Giá trị của bộ phận văn hóa, văn học này được thể hiện ở khả năng tái tạo nghĩa, trình diễn và tham gia vào việc định hình bản sắc Việt Nam.
Chú thích:
1 Hoàng Phê (Chủ biên, 2003), Từ điển tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng, tr. 254.
2 Laurajane Smith (2006), Uses of Heritage, Routledge, Abingdon, Oxon, p. 11.
3 Stuart Hall, Whose Heritage? Un-settling ‘The Heritage’, Re-imagining the Post-nation, Trong Susan L.T. Ashley và Degna Stone (Chủ biên, 2023), Whose Heritage? Challenging Race and Identity in Stuart Hall’s Post-nation Britain, Routledge, Abingdon, Oxon.
4 Chúng tôi không khẳng định rằng tất cả các di sản văn học được sử dụng trong bốn sự kiện nói trên đều sử dụng chất liệu từ thơ văn Lý - Trần nhưng chất liệu từ thơ văn Lý - Trần được sử dụng chiếm tỉ trọng đa số và để phù hợp hơn với khuôn khổ của bài báo lần này, chúng tôi sẽ giới hạn phạm vi tìm hiểu, khảo sát trong chất liệu thơ văn Lý - Trần được vận dụng như di sản để “trình diễn” trong đời sống đương đại.
5 Được gợi dẫn từ góc nhìn di sản học phê phán, ở đây, di sản mà chúng tôi muốn bàn đến không phải là những tác phẩm văn học ra đời từ thời Lý - Trần mà là những ý nghĩa, diễn ngôn được kiến tạo, vận dụng và tái sử dụng mới là di sản mà chúng tôi muốn bàn đến.
6 Xem thêm trong Viện Văn học (1977), Thơ văn Lý - Trần - tập 1, NXB. Khoa học xã hội, tr. 7 và Nguyễn Công Lý (2018), Văn học Việt Nam thời Lý - Trần, NXB. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 69.
7 Hạ An (tổng hợp, 2025), “Lời bài hát Viết tiếp câu chuyện hoà bình”, VTC News, đăng ngày 8.5.2025, truy cập ngày 2.5.2026, từ: https://vtcnews.vn/loi-bai-hatviet-tiep-cau-chuyen-hoa-binh-ar942117.html
8,9“Thịnh vượng Việt Nam sáng ngời”, truy cập ngày 2.5.2026, từ: https://www.musixmatch. com/lyrics /buitruonglinh/Th%E1%BB%8BnhV%C6%B0%E1%BB%A3ng-Vi%E1%BB%87t-NamS%C3%A1ng-Ng%E1%BB%9Di.
10 Viện Văn học (1977), Thơ văn Lý - Trần - tập 1, NXB. Khoa học xã hội, tr. 229-230.
11 Liên khúc Đất Nước Vươn Mình, Nối Vòng Tay Lớn, Lễ Kỷ Niệm 50 Năm Giải Phóng Miền Nam 30/4, truy cập ngày 2.5.2026, từ: https://www.youtube.com/ watch?v=ydDxS_1IJN0.
12, 13, 14 “Phù Đổng Thiên Vương Lyrics”, truy cập ngày 2.5.2026, từ: https://genius.com/Uc-phuc-phu-ongthien-vuong-lyrics.
15, 16, 17 “Tình yêu đất nước”, Concert “Tự hào là người Việt Nam”, truy cập ngày 2.5.2026, từ: https://www. youtube.com/watch?v=HVWGMMA0UxE.
18, 19, 20, 21 Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam (VOV), “Âm vang Tổ quốc- Chương trình nghệ thuật chính luận đặc biệt”, truy cập ngày 2.5.2026, từ: https://www.youtube.com/ watch?v=VMkwEI0Bzyg.