Kỷ nguyên mới được định danh là “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc. Vì thế, kỷ nguyên mới không chỉ là việc xác định mốc thời gian mà cơ bản là sự thay đổi toàn diện về chất lượng, giá trị, diện mạo của quốc gia, dân tộc. Kể từ khi khái niệm dân tộc được đưa ra tại hội nghị Westphalia năm 1648 thì việc tìm hiểu các khía cạnh của mỗi dân tộc, trong đó có bản sắc dân tộc, được xác định là nền tảng sức mạnh trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định rất đúng đắn về tư tưởng và khoa học rằng: văn hóa là nền tảng tinh thần, sức mạnh mềm và nguồn lực nội sinh quan trọng, đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị. Nghị quyết số 80 tập trung xây dựng con người, công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và bảo tồn di sản. Trong đó, Nghị quyết nhấn mạnh đến tầm nhìn là sự phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc, hiện đại, dân chủ, nhân văn, đặt trọng tâm ở con người, xác định con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Như vậy, Đảng và Nhà nước đã rất coi trọng lĩnh vực văn hoá, quyết tâm phát triển đất nước gắn liền với việc phát triển văn hoá và trên hành trình đó, việc tiếp thu, tiếp nhận các giá trị văn hoá truyền thống được coi như nền tảng nội sinh vững chắc để kiến tạo những giá trị văn hoá hiện đại, đương đại. Tư tưởng này đã được hiện thực hoá bằng hệ thống lý luận chính trị và được minh chứng bằng các chỉ đạo cụ thể, bằng các thành tựu văn hoá văn minh của thời kỳ đương đại, của kỷ nguyên mới.
1. “Kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc
Trong thời gian trước, trong và sau Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ XIV, cụm từ “kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” được nhắc đến trong các diễn đàn, các văn kiện đại hội, các bài phát biểu của các lãnh đạo Đảng và nhà nước. Trong “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam”, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tinh thần “triển khai thực hiện các quyết sách chiến lược để đột phá phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”1. Hàm ý của kỷ nguyên vươn mình cũng được nhận thức một cách sâu sắc và triển khai toàn diện, đồng bộ trong các diễn văn, diễn ngôn khác, như lời Phát biểu khai mạc Đại hội Đảng lần thứ 14 của đồng chí Lương Cường khẳng định Đại hội này là “Đại hội của ý chí tự chủ, chiến lược, tự lực, tự cường, của khát vọng vươn lên”2.
Trong thực tiễn và quá trình xây dựng, phát triển lý luận, khái niệm “kỷ nguyên vươn mình” đã được nhắc đến sớm hơn, trước khi Đại hội Đảng XIV diễn ra. Ngày 31.10.2024, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, GS. TS. Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có buổi trao đổi một số nội dung về “Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, trong đó khái niệm “kỷ nguyên” được xác định là “một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi những đặc điểm quan trọng hoặc sự kiện có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội - văn hóa - chính trị - tự nhiên. Kỷ nguyên thường được sử dụng để phân chia thời gian trong lịch sử theo những biến cố lớn hoặc có sự thay đổi căn bản trong đời sống chính trị hay khoa học, công nghệ, môi trường. Kỷ nguyên vươn mình hàm ý tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực, nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại. Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu3. Trong dịp khác, tham dự Tuần lễ cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 79 và làm việc tại New York, Hoa Kỳ, sáng 23.9.2024, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tới thăm và phát biểu chính sách tại Đại học Colombia, cũng đề cập đến các khái niệm này. Như vậy, khái niệm “kỷ nguyên vươn mình” đã có một hành trình mang tính lịch sử, từ nhận thức đến hành động, từ thực tiễn đến lý luận và ngược lại.
Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng việc sử dụng khái niệm “kỷ nguyên vươn mình” thể hiện tư tưởng “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” đó đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong 80 năm qua, luôn gắn cách mạng nước ta với trào lưu tiến bộ của thời đại và sự nghiệp chung của nhân loại”4. Điều quan trọng, có ý nghĩa hơn cả là một khái niệm có tính chính trị, mang tư tưởng chiến lược, hoạch định sự phát triển của đất nước lại được toàn thể nhân dân đón nhận một cách tự nhiên, giản dị, nhận thức một cách rõ ràng, sâu sắc. Bởi lẽ khái niệm đó đã được bắt nguồn từ trong tâm thức, triết lý dân gian, từ những biểu tượng thần thoại, truyền thuyết của các dân tộc Việt Nam. Hai chữ “vươn mình” mang màu sắc huyền thoại, là motif người khổng lồ chống đỡ bầu trời. Các bản kể Thần trụ trời (Kinh), Người khổng lồ (Xơ Đăng), Vũ trụ thuở khai sinh (Xơ Đăng), Đẻ đất đẻ người (Mạ)… là thần thoại sáng thế của các tộc người mà nhân vật trung tâm là các thần khổng lồ. Vì bầu trời mặt đất ở gần nhau, hỗn độn, vướng víu nên họ đã vươn mình đứng dậy, đội bầu trời lên, đạp mặt đất xuống, chống đỡ bầu trời, kiến tạo nên vũ trụ như bây giờ5. Hình tượng đẹp đẽ của thần thoại các dân tộc Việt Nam sánh ngang hình tượng Promete của Hy Lạp, Nữ Oa của Trung Quốc... Người Mạ kể chuyện Người khổng lồ vươn vai chống trời; người Dao kể chuyện Trời và đất; người Mông kể chuyện Tại sao bầu trời và mặt đất xa nhau; người Thái kể chuyện Chặt cây khau cát; người Mảng kể chuyện Bầu trời và mặt đất xa nhau… Trong các bản thần thoại, người khổng lồ trở thành biểu tượng của vũ trụ, của người kiến tạo nên vũ trụ, mang hàm ý về sự bền vững, sự phát triển. Các thần thoại đã vừa thể hiện nhận thức của người nguyên thuỷ về thế giới, vừa thể hiện ước mơ, khát vọng chinh phục thế giới, tạo lập địa bàn cư trú, sáng tạo nên các giá trị văn hoá, văn minh của thời đại. Những công cụ lao động mà thần sử dụng (chày, cối, gậy, thang tre, đất đá…) đã phản ánh các thành tựu lao động, sáng tạo của người xưa, cũng mang hàm ý: mọi khát vọng, ước mơ đều dựa trên những thành tựu cụ thể, vững chắc của cộng đồng.
Tiếp nối thời đại thần thoại, truyền thuyết và sử thi anh hùng đã xây dựng hệ thống nhân vật anh hùng, mang trong mình khát vọng lớn lao, gắn với các bước chuyển mình lớn của thời đại. Người anh hùng Đăm Săn chặt cây thần smuk, đi bắt Nữ thần Mặt trời (khan Đăm Săn – Ê Đê); Xinh Nhã từ cậu bé mồ côi đã rèn luyện võ nghệ, đánh giết kẻ thù trả thù cho cha, đem lại vinh quang cho cộng đồng (khan Xinh Nhã – Ê Đê); người anh hùng Chương Han chiến đấu với các mường khác, chiến thắng cả mường ma và mường trời đem lại uy danh lừng lẫy và sự giàu có cho bản mường (Chương Han – Thái)… Điểm chung của hình tượng người anh hùng trong sử thi là đại diện cho vẻ đẹp lý tưởng của cộng đồng, đại diện cho tinh thần đoàn kết, sức mạnh và khát vọng vươn lên của cộng đồng. Họ trở thành biểu tượng đẹp đẽ cho ý chí, tinh thần, sức mạnh, truyền thống của mỗi cộng đồng. Với người Việt, hình tượng Gióng mang ý nghĩa như vậy. Hình ảnh chú bé lên ba lớn lên phi thường nhờ cơm với cà, bằng tầm vóc người anh hùng khổng lồ được tìm thấy trong nhiều truyền thuyết dân gian vùng Đông Nam Á. Theo sự phân tích của nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng, “sự tích Phù Đổng tuy rất ảo mà lại rất thực, chính là lối cấu trúc tương phản mà đối ứng làm nên sức cuốn hút đến say mê của biết bao thế hệ người Việt Nam “yếu thắng mạnh, nhỏ thắng lớn”, bình thường mà phi thường, dân thường mà anh hùng. Phù Đổng là biểu tượng của tuổi trẻ anh hùng Việt Nam, biểu tượng của chính Việt Nam, của cả chính Việt Nam, của cả Việt Nam anh hùng”6. Biểu tượng vươn mình hào hùng của lịch sử dân tộc được tiếp nối thành dòng chảy bền bỉ, mạnh mẽ đầy sức sống của các thế hệ anh hùng Việt Nam, cảm hứng sử thi bất tận tạo nên những vần thơ hào hùng, nuôi dưỡng mơ ước vươn mình to lớn của mỗi trẻ em đất Việt: “Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt. Gỗ trăm cây đều muốn hoá nên trầm. Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt. Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng” (Chế Lan Viên), “Mai sau con lớn vung chày lún sân/ Mai sau con lớn phát mười ka-lưi” (Nguyễn Khoa Điềm)…
Trong diễn ngôn của lãnh đạo Đảng và nhà nước, khái niệm “kỷ nguyên vươn mình” đã thể hiện sự tiếp nối với truyền thống, di sản văn học truyền miệng của dân tộc. Những phát ngôn của đại diện lãnh đạo Đảng và nhà nước đã khẳng định sự hiện hữu của một dân tộc, có bề dày truyền thống và công việc hiện tại là bắt tay để chứng minh và làm rực rỡ truyền thống đó. Như Anne Marie Thiesse đã viết: “Toàn bộ quá trình hình thành bản sắc bao gồm việc xác định di sản mỗi dân tộc và quảng bá sự tôn thờ nó”7. Dân tộc và bản sắc dân tộc không thuộc về một thời kỳ lịch sử hay cá nhân nào mà nó được sinh ra từ những hoạt động cụ thể, từ lao động sản xuất, sinh tồn đến những lĩnh vực trừu tượng, hư cấu. Nhưng điều quan trọng là bản sắc dân tộc đó được thấu hiểu, được tán thành, được vận dụng qua các hoạt động thực tế của cá nhân và cộng đồng. Như vậy, khái niệm “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” đã được những người sử dụng nó tái tạo từ các huyền thoại văn chương trong một bối cảnh/ ngữ cảnh mới. Việc này không chỉ tạo nên những đối thoại với huyền thoại văn chương mà còn kiến tạo nên ý nghĩa mới, diễn ngôn của thời đại mới. Thời đại đó mang trong mình khát vọng vươn lên của một dân tộc để khẳng định bản lĩnh, tầm vóc của mình. Sức mạnh kiên cường, ý chí bền bỉ, ước mơ lớn lao và nỗ lực hết mình là tiền đề cho sự vươn mình lớn dậy của dân tộc.
2. Diễn ngôn kỷ nguyên mới: vượt nắng, thắng mưa
Để kiến tạo nên bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới, các dân tộc cần thể hiện sự hiện đại về mọi mặt, nhất là các lĩnh vực nổi bật như chính trị, kinh tế, văn hoá, gắn liền với sự chuyển đổi số. Trước sự thay đổi mạnh mẽ của khoa học, của kỹ thuật số, thì hằng số bất biến vẫn là bản sắc văn hoá của dân tộc. Chính vì vậy Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV đề ra 8 nội dung xuyên suốt tập trung triển khai các quyết sách chiến lược của đất nước, trong đó nội dung số 4 xác định yếu tố “văn hoá và con người, là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực phát triển đất nước”8. Việc tiếp nhận sức mạnh văn hoá, truyền thống dân tộc không chỉ ở phương diện lý luận mà muốn thực sự tạo ra bước chuyển biến của dân tộc, đạt được thành tựu về kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, văn hoá, giáo dục… thì mọi nghị quyết phải đi vào cuộc sống, chuyển hoá các lý luận thành những chỉ đạo cụ thể. Các tư tưởng chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã được Chính phủ thực hiện một cách đầy đủ, quyết liệt. Đó là tinh thần “vượt nắng thắng mưa không thua gió bão” khi triển khai đường dây 500 KV mạch 3 dài 519 km, vượt địa hình hiểm trở để đưa điện ra miền Bắc; là “vượt nắng thắng mưa, say sưa luyện rèn” trong các đợt huấn luyện của quân đội; “vượt nắng, thắng mưa. Ngày làm không đủ, tranh thủ làm đêm”…9. Thủ tướng Chính phủ đã dẫn thực tế, ngay trong những ngày nghỉ Tết dương lịch 2024, trên các công trình giao thông trọng điểm khắp cả nước vẫn hoạt động, với tinh thần: “chỉ bàn làm, không bàn lùi”, “vượt nắng, thắng mưa”; “ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương”, thi công “3 ca 4 kíp”; làm việc xuyên lễ, xuyên Tết, xuyên ngày nghỉ để đẩy nhanh tiến độ công trình, dự án; “chỉ bàn làm, không bàn lùi để thúc đẩy mạnh mẽ động lực chuyển đổi số”; “chỉ bàn làm, không bàn lùi, quyết tâm hoàn thành 3000 km cao tốc trước 31.12.202510… Những lời chỉ đạo của người đứng đầu Chính phủ là những phát ngôn kế thừa từ cấu trúc tục ngữ: “Không cầu mà được, không ước mà nên”; “Không ai nắm tay đến tối, không ai gối đầu đến sáng”; “Làm chị phải lành, làm anh phải khó”.
Người Việt nói chung ưa cách nói ví von, vần vè. Những cách sử dụng lối nói vần vè đó mang cấu trúc của ca dao, tục ngữ, vè dân gian là một thói quen ngôn ngữ, cũng chính là lối tư duy mang đậm chất folklore. Xét về phương diện cách thức sáng tạo tác phẩm truyền miệng, những khuôn mẫu mang tính lặp lại đó được gọi là công thức truyền miệng (oral formula) – khái niệm cơ bản của lý thuyết truyền miệng được khởi xướng bởi các học giả folklore Hoa Kỳ. Ba thế hệ giáo sư Đại học Harvard (Milman Parry, Albert Lord, John Foley11) đã đề xuất và hoàn thiện lý thuyết truyền miệng. Dựa trên việc khảo sát những từ ngữ lặp đi lặp lại trong sử thi Illiad, Odyssey của Homer, các nhà nghiên cứu cho rằng sự lặp lại những công thức truyền miệng đó là dấu hiệu nhận biết di sản truyền thống của cộng đồng. Tư tưởng chủ yếu trong lý thuyết truyền miệng là sự khẳng định rằng phương thức sáng tác folklore là truyền miệng, dựa trên việc sắp xếp, tái sử dụng những thủ pháp, công thức đặc thù, các công thức này là hữu hạn và mang tính truyền thống của mỗi cộng đồng. Mỗi dân tộc có truyền thống sáng tác truyền miệng, kết tinh ở các khuôn mẫu có tính chất lặp đi lặp lại, các công thức này có thể là một từ, một cụm từ, một đoạn mang những nội dung và chủ đề nhất định mà người sáng tác/ nghệ nhân sẽ lấy đó làm hạt nhân để sáng tạo, tái tạo hoặc diễn xướng tác phẩm. Quan điểm này gặp gỡ với nhà nghiên cứu folklore ngôn từ ở chỗ khẳng định tính lặp lại, tính định thức của văn bản văn học dân gian là một thuộc tính mang tính thẩm mĩ. Lý thuyết về công thức truyền miệng ở Hoa Kỳ cũng có nhiều điểm tương đồng với lý thuyết liên văn bản được khởi xướng bởi Julia Kristeva12. Vào cuối thập niên 1960, trong bối cảnh tiếp thu và phát triển các khái niệm ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure, ký hiệu học của Roland Barthes và đặc biệt là lý thuyết đối thoại của Mikhail Bakhtin, Kristeva lần đầu đưa ra thuật ngữ “intertextualité” trong các bài viết đăng trên Tạp chí Tel Quel. Kristeva: “Any text is constructed as a mosaic of quotations; any text is the absorption and transformation of another13, nghĩa là bất kỳ văn bản nào cũng là một khảm ngữ những trích dẫn; là sự hấp thụ và biến đổi của văn bản khác. Theo đó, một văn bản không thể được xem là một đơn vị tự trị, thuần nhất và khép kín và đặc hữu của nhà văn mà ở đó, văn bản có độ mở để tạo không gian rộng lớn để tiếp nhận các văn bản khác, thâm nhập ở các cấp độ khác nhau. Thông thường, văn bản sau sẽ hấp thụ, nhào nặn các văn bản trước đó và việc này không chỉ lặp lại về mặt hình thức mà còn kiến tạo lớp ý nghĩa mới cho văn bản. Như vậy, lý thuyết về liên văn bản và lý thuyết về công thức truyền miệng ra đời gần như cùng một thời điểm (những năm 1960) ở châu Âu và Hoa Kỳ, đều quan tâm lý giải, cắt nghĩa quá trình sáng tạo nghệ thuật ở lĩnh vực folklore và văn học. Trong đó, quá trình sáng tạo của dân gian hay bác học, truyền miệng hay thành văn thì đều có sự tương tác giữa truyền thống, với những khuôn mẫu sẵn có, cố định mang giá trị biểu đạt và thẩm mĩ, với những đổi mới sáng tạo, gắn với vai trò của nghệ nhân diễn xướng hay nhà văn sáng tác. Việc sử dụng các khuôn mẫu có sẵn không chỉ là tuân thủ các mô hình cấu trúc, mang tính hình thức mà còn thể hiện sự duy trì, kế thừa các truyền thống sáng tác, có cả ý thức và tiềm thức của nhà văn để truyền tải thông điệp của thời đại hoặc của cá nhân người sáng tạo. Điều này phù hợp với quy luật về kiến tạo văn hoá, bản sắc dân tộc khi những giá trị liên tục được sáng tạo, bồi đắp, xoá bỏ và tái tạo để có thể sinh tồn trong một không gian, bối cảnh mới, tạo nên những lớp nghĩa mới, thích ứng với những hoàn cảnh cụ thể. Các diễn ngôn được cấu trúc trong thời đại mới vẫn không mất đi cấu trúc cơ bản của nó theo nguyên tắc nhị nguyên: giữa chính quyền và nhân dân; giữa lãnh đạo và thực thi; giữa văn bản và truyền miệng; giữa truyền thống và hiện tại... Vì vậy, những phát ngôn từ phía chính quyền đã được nhân dân dễ dàng đón nhận, diễn giải và đồng cảm.
Bên cạnh việc diễn đạt vần vè cân đối, tạo âm hưởng, nhịp điệu để dễ nhớ, dễ thuộc mà lối diễn đạt đó còn biểu đạt một tư duy, triết lý dân gian sâu sắc. Tinh thần vượt khó, chiến thắng các điều kiện thời tiết, thiên tai thấm nhuần triết lý sống vừa hoà hợp, vừa đấu tranh với tự nhiên của người Việt từ xưa đến nay. Trong thế ứng xử với tự nhiên vừa nương nhờ, vừa độc lập, vươn mình lên để tạo lập các thành quả lao động sản xuất, con người đã sáng tạo những type truyện thần thoại vô cùng độc đáo, xây dựng những hình tượng đẹp đẽ: Bắn rơi mặt trời, Bắt thần sấm ăn thịt, Chặt cây thần, Cóc kiện trời, Đi đánh thần hạn, Thần sấm thần sét…14. Cho nên tinh thần lao động, sản xuất, chiến đấu của quân dân trong thời gian qua không chỉ là những lời hô khẩu hiệu mà đó là thực tế xuất phát từ nội lực, từ ý chí kiên cường, từ truyền thống đấu tranh để khẳng định bản thân và cộng đồng trước thiên nhiên và thiên tai. Diễn ngôn của thời đại mới đã được kế thừa và tiếp nối từ cấu trúc, mô hình của diễn ngôn truyền thống.
3. Thành tựu văn minh của kỷ nguyên mới
Chúng ta đang ở những ngày tháng đầu của kỷ nguyên mới nhưng cảm nhận về không khí đổi mới hàng ngày không chỉ ở tinh thần, khí thế từ những phát ngôn, những khẩu hiệu mà còn ở những thành quả trực tiếp hàng ngày. Trong năm 2025, Trung tâm Triển lãm Việt Nam (VEC) tọa lạc tại xã Đông Anh, Hà Nội đã được khánh thành và đi vào hoạt động, kịp thời tổ chức Đại Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh đất nước. Đây là một tổ hợp với nhiều hạng mục, bao gồm 2 hạng mục quan trọng nhất là Nhà triển lãm Kim Quy và khu vực triển lãm ngoài trời. Trong đó, Nhà triển lãm Kim Quy được xem là nhà triển lãm hình tròn lớn nhất thế giới với tổng diện tích 104.863 m2, cao hơn 56 m; có thể đáp ứng tốt việc trưng bày nhiều thiết bị, máy móc lớn. Nhà triển lãm Kim Quy gồm 9 đại sảnh với diện tích từ 9.419 đến 10.478 m2. Các đại sảnh được thiết kế thông minh, có thể kết nối để tạo nên không gian triển lãm liên thông quy mô lớn thứ 2 thế giới; hoặc tách thành các phân khu độc lập, cho phép nhà tổ chức sắp xếp linh hoạt và tối ưu không gian triển lãm15. Việc chọn Kim Quy là biểu tượng của công trình kiến trúc cấp quốc gia, tại mảnh đất Đông Anh cho thấy sự tiếp nối, kế thừa truyền thống, tái sáng tạo biểu tượng văn hoá, tâm linh của dân tộc.
Theo Lĩnh Nam chích quái, Thần Kim Quy là “sứ Thanh Giang, con rùa từ phương đông nổi trên mặt nước, nói sõi tiếng người, thông tỏ việc trời đất, âm dương quỷ thần”16. Thần giúp An Dương Vương tiêu diệt tinh con gà trắng, xây thành ốc, ban móng vuốt làm nỏ thần và cuối cùng hiện thân chỉ rõ cho nhà vua kẻ bán nước là Mỵ Châu. Thần linh không phải là biểu tượng của trí tưởng tượng hư cấu mà chính là sự thần thánh hoá bản chất của con người, mà mỗi vị thần đều “cầm trên tay một công cụ lao động, biểu trưng cho thành tựu về lao động, sản xuất, trình độ văn minh của cộng đồng đó. Thần Kim Quy chính là vị thần sáng thế trong thần thoại của cộng đồng Tày - Thái, đã luôn đồng hành cùng con người từ thuở hồng hoang. Thần Rùa và con người tạo dựng mối quan hệ sinh tồn bền bỉ, ân tình, tương trợ nhau trong môi trường sinh thái của các dân tộc miền núi, nơi đó người cứu rùa, đưa nó đến nguồn nước, rồi rùa lại giúp người vượt qua thử thách của trời. Có nhiều dị bản thần thoại kể về trời giả chết để thử lòng muôn vật, nhờ có rùa báo cho mà người mới biết, rồi sau đó người được làm chủ muôn loài. Cuối cùng, rùa còn dạy cho người cách làm nhà sàn như thân hình của nó. Nhà sàn như một tiểu vũ trụ, tương đồng với con rùa. Các mô hình cấu trúc đồng dạng (rùa = nhà sàn = trời đất) đã tạo ra mối liên kết tự nhiên, sinh học, con người gắn kết, biểu đạt thế giới quan, nhân sinh quan của người xưa. Có thể nói có cả một nền tảng triết học qua thế giới biểu tượng đó. Nơi mà con rùa trở thành biểu tượng trung tâm của văn hoá Tày - Thái, với khởi nguyên là biểu tượng cho vũ trụ đa tầng, trời tròn đất vuông. Vũ trụ đó được thu nhỏ trong hình hài con rùa và mô hình nhà sàn: mái nhà là mai rùa; bốn cột nhà là chân rùa… Đó là một tổng thể của kiến trúc hài hoà, cân đối, bền vững. Cho nên không có gì ngạc nhiên khi thần của người Tày - Thái đó đã phù trợ cho thủ lĩnh của người Tày là Thục Phán – An Dương Vương trong việc xây thành tại Cổ Loa. Chỉ có người “kiến trúc sư” đầu tiên, tiêu biểu đó mới biết cách xây toà thành ốc, ở vùng sông nước rất khó khăn. Sự hiểu biết về xây dựng, về vật liệu, về kiến trúc của người Việt cổ (và Tày - Thái cổ) đã được hình tượng hoá bằng biểu tượng thần Kim Quy. Bên cạnh đó, thần còn tượng trưng cho trí tuệ, cho sự hiểu biết của dân gian: con rùa sống lâu trăm tuổi là biểu tượng của trí tuệ cộng đồng, sự thông tuệ của nhân dân. Thêm nữa, móng rùa làm nỏ thần cũng là tia hồi quang của thành tựu về kim khí, về vũ khí mang sức mạnh quân sự, phản ánh thành tựu nhiều mặt của người Việt cổ. Các kho mũi tên đồng ở Cổ Loa, các làng rèn đúc kim loại ở vùng trung châu là những bằng chứng lịch sử, khảo cổ cho thấy sự tồn tại và phát triển của nền văn minh đó.
Từ đó, có thể nói công trình Triển lãm quốc gia, với tên gọi Kim Quy được chế tạo theo kết cấu thép, mái vòm đã hội tụ đầy đủ các ý nghĩa, nội hàm của biểu tượng thần Kim Quy trong thần thoại, truyền thuyết của cộng đồng các dân tộc Việt, Tày, Thái cổ. Tái hiện một biểu tượng truyền thống trên chính mảnh đất Cổ Loa, Đông Anh xưa đã cho thấy sự tiếp nối nguồn mạch dân tộc, sự trân trọng với di sản quá khứ của cha ông, tạo nên sức mạnh cộng hưởng, huy động sức mạnh truyền thống, sức mạnh thần kỳ dân tộc trong thời kỳ xây dựng, kiến thiết đất nước hiện nay.
4. Kết luận
Trong tương lai, những công trình như nhà thi đấu, sân vận động mang tên Trống Đồng nếu thành hiện thực, sẽ tiếp tục nguồn mạch tái tạo các biểu tượng truyền thống, làm sống dậy ký ức tập thể, ký ức của cộng đồng. Nhà xã hội học Émile Durkheim (1858-1917), trong công trình Những hình thức cơ bản của đời sống tôn giáo17 đã đưa ra khái niệm “ký ức tập thể” để chỉ tập hợp các thông tin được tổ chức thành ký ức của hai hay nhiều thành viên trong nhóm và chúng liên tục được tái tạo, chia sẻ bởi những nhóm nhỏ hơn. Ký ức tập thể sẽ là dòng chảy liên tục của cộng đồng và những ai đã trải nghiệm qua sẽ dễ gợi nhớ về nó hơn và sẽ được trao truyền qua các thế hệ. Trong ký ức của cộng đồng, những tài sản, giá trị của di sản folklore truyền miệng tồn tại một cách vô thức và hình thành nên nếp suy nghĩ, cảm xúc và tư duy của mỗi thành viên trong cộng đồng. Ở bất kỳ thời đại nào, nếu lực lượng đại diện cho chính quyền sử dụng chất liệu folklore truyền thống đó để kiến tạo nên tri thức cho thời đại mình thì đều có thể hình thành nên diễn ngôn của thời đại. Như vậy, nhìn nhận sự tồn tại của các chất liệu folklore trong các ngôn bản của kỷ nguyên mới đã góp phần khẳng định vai trò quan trọng, sự hiện diện đa dạng, hấp dẫn, đáng tin cậy của văn học dân gian trong diễn ngôn đời sống đương đại. Qua đó, chúng ta thấy được mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng lý luận chính trị - thực tiễn điều hành chỉ đạo đất nước – thành quả kinh tế, văn hoá là một hệ thống có tính liên kết chặt chẽ, tiền đề và kết quả, điều kiện và kết quả không tách rời. Đồng thời, những kết quả này cũng góp phần khẳng định sức sống mạnh mẽ của truyền thống dân gian, truyền thống dân tộc sẽ là nguồn mạch trong lành, mạnh mẽ và bền bỉ trong việc duy trì, gắn kết cộng đồng, cộng hưởng kiến tạo bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên mới.
Chú thích:
* Cụm bài báo khoa học hướng tới kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tập 2, tr. 19.
2 Văn kiện, tập 1, tr. 13.
3 https://lyluanchinhtri.vn/noi-dung-chuyen-decua-tong-bi-thu-to-lam-ve-ky-nguyen-moi-ky-nguyenvuon-minh-cua-dan-toc-6526.html-, truy cập ngày 3.5.2026.
4 https://vov.vn/ky-nguyen-vuon-minh/tieu-diem/ bai-viet-cua-tong-bi-thu-to-lam-vuon-minh-trong-hoinhap-quoc-te-post1189266.vov, truy cập ngày 3.5.2026.
5, 14 Nguyễn Thị Huế (Chủ biên, 2012), Từ điển Type truyện dân gian Việt Nam, NXB. Lao động, tr. 78, 49-55.
6 Trần Quốc Vượng (2005), Hà Nội như tôi hiểu, NXB. Tôn giáo, tr. 278.
7 Anne-Marie Thiese (2025, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Hoàng Như Thanh dịch), Sự tạo thành bản sắc dân tộc châu Âu, thế kỉ XVIII-XIX, NXB. Đại học Sư phạm, tr. 23.
8 Văn kiện, tập 1, tr. 32.
9https://baotayninh.vn/vuot-nang-thang-muatrong-huan-luyen-a88126.html; https://www.qdnd.vn/ quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/vuotnang-thang-mua-say-sua-luyen-gioi-668343;https:// thanhnien.vn/thu-tuong-chinh-phu-vuot-nang-thangmua-vuot-dai-dich-thang-bao-gia-de-hoan-thanh-caotoc-185230429122739535.htm;https://dantri.com.vn/ thoi-su/bo-doi-phong-hoa-vuot-nang-thang-mua-saysua-tap-luyen-cho-le-dieu-binh-20250613220651108.htm -, truy cập 3.5.2026.
10https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/thu-tuongchi-ban-lam-khong-ban-lui-quyet-tam-hoan-thanh3000-km-cao-toc-truoc-31-12-2025-119240614095741909. htm.
11 Milman Parry (1912-1935), là học giả về thơ truyền miệng, Giáo sư Đại học Harvard; Albert Lord (1912- 1991), Tiến sĩ về Văn học so sánh năm 1949. Ông được giữ lại làm giáo sư giảng dạy Văn học so sánh và văn học Sla-vơ ở Harvard từ năm 1950 và chính thức trở thành giáo sư năm 1958. John Miles Foley (1947-2012) là Giáo sư chuyên nghiên cứu so sánh truyền thống truyền miệng, về Hy Lạp cổ đại – đặc biệt là Homer – và sử thi Serbia. Ông là người điều hành Trung tâm nghiên cứu truyền thống truyền miệng của Trường Đại học Missouri; là Tổng Biên tập đồng thời cũng là tác giả hàng đầu của Tạp chí Truyền thống truyền miệng (Journal of Oral Tradition).
12 Julia Kristeva, sinh năm 1941, người Bulgari, đề xuất khái niệm liên văn bản khi mới 25 tuổi.
13 Kristeva, J. (1980), Word, Dialogue and Novel, In L. S. Roudiez (Ed.), Desire in Language: A Semiotic Approach to Literature and Art (p. 64-91), New York, NY: Colombia University Press.
15 https://nld.com.vn/ky-vong-cong-trinh-bieu-tuongmoi-o-thu-do-196250807210351912.htm -, truy cập 3.5.2026.
16 Kiều Thu Hoạch (Chủ biên, 2004), Tổng tập văn học dân gian người Việt, NXB. Khoa học xã hội, tập 4, tr. 376.
17 High points in anthropology , Edited with introductions, by Paul Bohannan and Mark Glazer, New York, 1973, p. 254-263.