Về nội hàm, văn hóa tâm linh là một hệ thống các giá trị, niềm tin, biểu tượng và hành vi mang tính thiêng liêng, thể hiện mối quan hệ giữa con người - tự nhiên - xã hội và thế giới siêu việt trong tiến trình lịch sử văn hóa. Trong đó, tính biểu tượng được xem như một phương diện quan trọng, góp phần duy trì sức sống của văn hóa tâm linh. Hành trình của văn hóa nói chung và văn hóa tâm linh nói riêng chính là một chuỗi dài những sáng tạo của con người, trong đó sáng tạo tâm linh dưới hình thức biểu tượng hóa được xuất hiện sớm nhất. Một điều có thể nhận thấy qua niềm tin vào biểu tượng trong văn hóa tâm linh của người Việt chính là sức mạnh của sự tưởng tượng, niềm tin vào cõi thiêng; các đối tượng siêu nhiên càng cao thì các đối tượng ấy càng được khoác lên mình tính uy linh, linh nghiệm, màu nhiệm mạnh mẽ.
Biểu tượng dưới góc nhìn của một lý thuyết khoa học gắn liền với tên tuổi của Clifford Geertz (1973) - một đại biểu cho trường phái Nhân học biểu tượng. Ông cho rằng văn hóa là “mạng lưới các ý nghĩa” do con người tạo dựng và giải nghĩa. Trong đó, ngôn ngữ và biểu tượng là phương tiện chủ yếu để mã hóa và truyền đạt các tầng nghĩa văn hóa. Từ nền tảng đó, bài viết lập luận việc lựa chọn lý thuyết biểu tượng trong nghiên cứu là phù hợp nhằm hướng đến nhận diện và diễn giải ý nghĩa của các biểu tượng qua hệ thống ca dao, dân ca, qua đó góp phần đi sâu, khám phá sức sống của văn hóa tâm linh trong bối cảnh xã hội đương đại.
Bàn về văn hóa tâm linh, học giả Nguyễn Đăng Duy cho rằng: “Văn hóa tâm linh bao gồm cả văn hóa vô hình, văn hóa hữu hình và văn hóa hành động” (Nguyễn Đăng Duy, 2001). Với tư cách là một thành tố thể hiện dấu ấn văn hóa tâm linh, hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Việt (văn hóa hành động) không chỉ phản ánh tính biểu tượng sớm - nghĩa là hình thành từ những quan niệm hết sức gần gũi, quen thuộc trong giai đoạn đầu của lịch sử (tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Lúa, thờ Mẫu...) cho đến khi chuẩn hóa trong hệ thống tín ngưỡng quốc gia, chịu sự chi phối của quyền lực phong kiến như tín ngưỡng thờ Thành hoàng.... Đặc biệt, trong đời sống xã hội hiện đại, tín ngưỡng dân gian của người Việt vẫn còn tồn tại như một minh chứng của giá trị văn hóa sâu sắc của dân tộc, sự tôn trọng quá khứ và tài sản văn hóa do ông cha để lại. Theo chúng tôi, để có thể tồn tại trong một hành trình dài như vậy, văn hóa tâm linh qua trường hợp của tín ngưỡng đã được con người kiến tạo những giá trị thành hệ thống các biểu tượng nhằm lưu giữ, truyền đạt trong đời sống cộng đồng và vận dụng những biểu tượng đó trong giáo dục thế hệ trẻ về tinh thần bảo tồn văn hóa dân tộc. Với quan niệm này, chúng tôi tiến hành nhận diện, phân tích các biểu tượng trong hệ thống ca dao, dân ca về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và Thành hoàng của người Việt, từ đó góp phần làm rõ giá trị, sức sống của văn hóa tâm linh trong đời sống hiện đại với mong muốn góp thêm hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu văn hóa tâm linh - tiếp cận từ ca dao, dân ca.
1. Tính biểu tượng văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
1.1. Biểu tượng của linh hồn bất tử
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy các đơn vị ca dao, tục ngữ có phản ánh quan niệm linh hồn bất tử. Họ xem tổ tiên vẫn còn hiện hữu trong không gian sinh sống của mình, nên hầu hết bất cứ sự kiện nào cũng cần trình báo để ông bà được biết, từ đó cầu mong sự chúc tụng, bảo vệ dành cho mình. Trong lễ cưới, người Việt thường có nghi lễ trình gia tiên, được thể hiện trong ca dao: “Thắp hương vái ông với bà/ Đôi ta kết ngãi đến già an cư” hay “Thắp nhang cho sáng bàn thờ, Kẻo cha mẹ quở không nhờ rể con”. Biểu tượng của linh hồn bất tử trong ca dao, tục ngữ đã phản ánh đặc trưng nổi bật của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Chính điều này đã phần nào cho thấy mối liên hệ giữa ca dao, tục ngữ và văn hóa tâm linh, cụ thể: ca dao, tục ngữ là phương tiện, cách thức để con người truyền đạt những nội dung, tính chất của văn hóa tâm linh vào đời sống, góp phần làm cho văn hóa tâm linh tồn tại, phát triển và đi sâu vào tiềm thức của con người. Văn hóa tâm linh từ đó cũng tác động trở lại ca dao, tục ngữ, trở thành những chủ đề, góp phần phản ánh phong phú mọi mặt đời sống.
1.2. Biểu tượng của sự kế thừa, tiếp nối truyền thống
Người Việt vùng Đồng bằng Bắc Bộ đã khéo léo dùng ca dao, tục ngữ trong việc đề cao tính kế thừa của gia đình, gia tộc, có thể thấy qua câu: “Trứng rồng lại nở ra rồng,/ Hạt thông lại nở cây thông rườm rà./Có cha sinh mới ra ta,/ Làm nên thì bởi mẹ cha vun trồng./ Khôn ngoan nhờ ấm cha ông,/ Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ./ Đạo làm con chớ có hững hờ,/ Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm”. Câu ca dao vừa cho thấy tinh thần gia đình người Việt, phản ánh cốt cách, truyền thống tốt đẹp được duy trì và không thay đổi qua nhiều thế hệ: “Trứng rồng lại nở ra rồng” - một sự hiển nhiên không thể thay đổi. Qua đó, người ta khéo léo dặn dò con cháu thừa hưởng những điều tốt đẹp ngày nay, phải ý thức được công ơn dưỡng dục, nuôi dạy mà ông bà, cha mẹ đã dành cả đời để “vun trồng”. Thế hệ tiếp nối cũng thể hiện tinh thần kế thừa qua câu tục ngữ: “Áo bào lau giáo đền báo tổ tông”. Vai trò, ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Việt từ đó cũng được biểu hiện một cách rõ ràng. Bằng những hành vi thờ cúng, những quan niệm tâm linh, con người đã thể hiện những tư duy, nhận thức và hướng bản thân vào những điều tốt đẹp. Đời sống tâm linh từ đó trong mối quan hệ với đời sống xã hội đã cho thấy vai trò đều hướng đến những giá trị tích cực. Không gian đời sống trở thành môi trường thuận lợi giúp con người hiện thực hóa những tư tưởng mà đời sống tâm linh mang lại; là nơi để con người soi chiếu, nhận định tính đúng sai của hành vi và niềm tin. Biểu tượng của sự tiếp nối, kế thừa phản ánh đậm đà tinh thần dân tộc và đạo lý ân nghĩa, hiếu thảo, biết ơn....
1.3. Biểu tượng của tinh thần cố kết gia đình, gia tộc
Từ các ngữ liệu, có thể thấy tinh thần cố kết gia đình được biểu hiện qua lễ giỗ. Người Việt vốn xem trọng lễ giỗ nên dù làm ăn, sinh sống ở bất cứ đâu, đến ngày giỗ họ cũng cố gắng thu xếp về để tham dự. Lễ giỗ thường được tổ chức ấm cúng trong gia đình, ngoài các nghi thức tế tự, các thành viên còn có cơ hội được gặp gỡ, chia sẻ, trao đổi tâm tư, tình cảm, công việc.... Đặc biệt là với những người có việc làm hay gia đình ở xa, đây là dịp quan trọng để họ được quay về, gần gũi và hòa mình trong không gian gia đình. Hành vi cùng làm, cùng ăn, cùng tưởng nhớ đã góp phần kéo con người lại gần với nhau. Từ đó, con người nâng cao tinh thần cố kết, phát huy được sức mạnh tinh thần của gia đình trong thực tế cuộc sống. Trong ca dao do đó có câu: “Đến đây sum họp vui cười,/ Trước là lễ tổ, viếng nơi mộ phần”. Bên cạnh đó, chính tổ tiên cũng là nguyên nhân kết nối và thúc đẩy sự ổn định của tinh thần cố kết gia đình Việt. Vượt lên trên cả của cải hay tiền bạc, tinh thần cố kết dưới sự kết nối của tổ tiên đã cho thấy giá trị tốt đẹp mà mỗi gia đình, dòng họ luôn hướng tới. Chính vì vậy mà tục ngữ có câu: “Bà con vì tổ vì tiên, không ai phải vì tiền vì gạo”. Các đơn vị ca dao, tục ngữ mang ý nghĩa biểu tượng cho tinh thần cố kết gia đình, gia tộc đặc trưng của người Việt. Sự cố kết là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Việc biểu hiện trong ca dao, tục ngữ đã cho thấy niềm tin sâu sắc, sự kết tinh của các giá trị tốt của tín ngưỡng trong dòng chảy của lịch sử.
2. Tính biểu tượng văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng
2.1. Thành hoàng - biểu tượng cho niềm tin về đối tượng thiêng
Mục tiêu của đời sống tâm linh là hướng về các giá trị thiện lành, siêu việt và linh thiêng, vì vậy việc đề cao, tôn thờ các yếu tố linh thiêng là hiện tượng phổ biến khi đề cập đến văn hóa tâm linh. Trong không gian làng xã Bắc Bộ, Thành hoàng có vị trí quan trọng trong niềm tin của nhân dân lao động. Sự linh thiêng của Thành hoàng trở thành một biểu tượng đời sống tâm linh của người Việt. Ở Đồng bằng Bắc Bộ, hệ thống Thành hoàng được thờ cúng phổ biến bao gồm: thiên thần, nhân thần và nhiên thần. Không tự nhiên mà dân gian Việt Nam thường có câu tục ngữ thể hiện hành vi thờ cúng Thành hoàng như một nghĩa vụ tâm linh mà người dân phải thực hiện: “Có lưới thì đánh, có thánh thì thờ”. Thành hoàng với sức mạnh của mình sẽ mang đến sự bình an, ấm no trong đời sống. Trong thực hành tín ngưỡng thờ Thành hoàng thường phổ biến quan niệm: “Xuân Thu nhị kỳ”, ý nói đây là hai giai đoạn quan trọng, cần phải thực hiện nghi lễ đối với thần linh. Chính thái độ đó đã góp phần nâng cao giá trị của tín ngưỡng trong đời sống xã hội, vì vậy trong ca dao có câu: “Miếu linh chẳng dám lại gần,/ Đứng xa mà khấn thánh thần chứng minh”. Niềm tin về thờ cúng Thành hoàng thường gắn liền với không gian thiêng (đình làng). Tuy vậy, trong một số câu ca dao, tục ngữ thường thể hiện sự tin tưởng, tôn thờ vượt ra khỏi không gian thờ cúng. Dù không còn không gian để họ thực hành tín ngưỡng, nhưng trong tâm thức của mình, người Việt vẫn luôn tin tưởng vào sự linh thiêng của Thành hoàng. Trong tục ngữ có câu: “Chùa nát nhưng có Bụt vàng, tuy rằng miếu đổ Thành hoàng còn thiêng”. Bên cạnh Thành hoàng, Thần linh bản thổ cũng là một đối tượng thờ tự có cùng bản chất. Mặc dù thường được đồng nhất với Thành hoàng, tuy nhiên trong quá trình khảo sát, tác giả vẫn nhận thấy đơn vị tục ngữ đề cập đến hành vi tôn thờ đối tượng này, cụ thể: “Bản Thổ đỏ vàng, Nhị Nàng dâng hương”. Bên cạnh đó, người Việt còn dùng vị thế quan trọng của Thành hoàng để răn dạy về tính tôn ti trong đời sống con người. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Sứ giả ăn trước, Thành hoàng ăn sau”. hoặc câu: “Trưởng giả ăn trước, Thành hoàng ăn sau”. Hai câu tục ngữ có ngụ ý răn dạy con người sống phải biết trên, biết dưới, đề cao tính tôn ti trong đối nhân xử thế. Thành hoàng vốn là đối tượng linh thiêng, được tôn thờ, đại diện cho quyền năng, thế lực siêu nhiên, có nhiệm vụ bảo vệ, che chở, ban phúc cho làng. “Trưởng giả” hay “sứ giả” dù vai trò xã hội có cao đến đâu nhưng vẫn không thể sánh bằng thần quyền của Thành hoàng. Thế nhưng, trong tục ngữ “trưởng giả” và “sứ giả” lại “ăn” trước Thành hoàng.
2.2. Đình, miếu, miễu - biểu tượng của không gian thiêng trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng
Theo Trần Ngọc Thêm, đình làng “là biểu tượng tập trung nhất của làng về mọi phương diện” (Trần Ngọc Thêm, 1996). Từ phương diện tín ngưỡng, đình làng cho thấy tính biểu tượng độc đáo, đặc trưng của hành vi thờ cúng Thành hoàng. Khi xem xét ngữ liệu ca dao, tục ngữ, tác giả nhận thấy sự xuất hiện tương đối dày đặc của hình ảnh đình/miếu/miễu. Nhìn chung, tính thiêng của đình/miếu/miễu được phản ánh song hành với niềm tin về Thành hoàng - đối tượng thiêng chủ đạo của tín ngưỡng. Trong không gian làng xã, đình/miếu có công năng là tập trung gặp gỡ, giao lưu, hội họp và vui chơi tập trung của dân làng. Mọi việc lớn nhỏ có liên quan đến tập thể đều được thực hiện tập trung và công khai ở đình làng, nên từ trong tâm thức của mình, người Việt xem đình làng như một không gian sinh hoạt chung: “Đình làng là đình chung. Mồng một chơi cửa chơi nhà, Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình”. Từ góc nhìn của thực hành tín ngưỡng, đình/miếu là nơi thờ cúng và tế tự Thành hoàng. Trong tâm thức của người Việt, đình/miễu gắn liền với sự linh thiêng, là nơi trú ngụ của các thế lực thiêng - những người quản lý, che chở, bảo vệ cho đời sống của họ. Sự linh thiêng của Thành hoàng làng thường được tập trung tại không gian này. Hành vi lập miếu thờ chính là biểu hiện rõ nét cho niềm tin ấy, nên người Việt có câu tục ngữ: “Có thiêng lập miễu mà thờ, Chẳng còn lơ lửng nương nhờ bóng cây”.
2.3. Thành hoàng - biểu tượng cho tính địa phương của tín ngưỡng
Người dân trong làng dựa vào “linh thiêng hóa” các Thành hoàng cũng đã khéo léo giải thích những đặc trưng của nơi mình sinh sống (trường hợp làng Phù Đổng theo dẫn chứng trong nghiên cứu của Lê Như Hoa). Xu hướng địa phương hóa hay nói cách khác là biểu tượng cho tính địa phương trong tín ngưỡng cũng được nhân dân đúc kết và trình bày như sau: “Đình nào đám ấy. Thánh làng nào làng ấy thờ. Trống làng nào, làng ấy đánh”. Qua các đơn vị tục ngữ trên có thể thấy, người Việt đã ý thức việc khu biệt từng Thành hoàng. Có thể thấy, xuất phát từ tính tự trị cao của làng xã Bắc Bộ Việt Nam, mỗi một làng được giới hạn trong phạm vi lũy tre làng, mỗi việc đều mang tính tự cung, tự cấp cao. Ngay cả trong đời sống tín ngưỡng, từ khi ra đời, tín ngưỡng thờ Thành hoàng đã được triều đình can thiệp và chuẩn hóa quy trình ban cấp sắc phong cùng những quy định cụ thể cho việc thờ cúng. Từ đó, Thành hoàng của mỗi làng càng mang tính đặc trưng riêng, được sắc phong riêng, có tên gọi, mĩ tự và các quy định cấp bậc riêng, dẫn tới hiện tượng giới hạn phạm vi quyền lực của Thành hoàng, từ đó mới xuất hiện những nhóm tục ngữ biểu hiện tính địa phương của Thành hoàng như: “Thánh làng nào làng ấy thờ”. Hệ quả của tính tự trị và ban cấp sắc phong cho từng làng còn đẩy mạnh đến mức dường như chỉ địa phương được thờ cúng mới thực hiện nghĩa vụ của mình, còn những làng khác, dù có đối diện với những thế lực tâm linh quyền phép nhiệm màu cũng không nhất thiết phải phụng thờ, vậy mới có: “Lảng vảng như Thành hoàng xuất ngoại”. Nghĩa đen là vậy, song tục ngữ trên hàm chứa ý nghĩa về những người mất đi địa vị, không còn được tôn trọng như trước. Nhiều làng cũng sử dụng tục ngữ để đề cao tín ngưỡng thờ cúng Thành hoàng của làng mình, từ đó đưa giá trị của đối tượng thiêng được phổ biến rộng rãi, trở thành niềm tự hào của người dân địa phương. Tại các khu vực làng Phù Đổng (có đền Phù Đổng, Gia Lâm) và xã Phù Linh (đền Sóc, Sóc Sơn) gắn liền với truyền thuyết Thánh Gióng, vị thánh có công bảo vệ đất nước, trở thành một trong Tứ bất tử của người Việt, có câu tục ngữ rằng: “Tục truyền mồng tám tháng tư, không xem hội Gióng cũng hư một đời.”.
3. Thảo luận
Các đơn vị ca dao, tục ngữ được hệ thống đã phản ánh một số đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như: (1) Biểu tượng cho linh hồn bất tử; (2) Biểu tượng của sự kế thừa và tiếp nối; (3) Biểu tượng cho tinh thần cố kết gia đình. Thông qua các biểu tượng, người Việt nhắn gửi vào đó truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đề cao lối sống ân nghĩa, hiếu thảo của con cháu dành cho các thế hệ đi trước. Văn hóa tâm linh từ các đơn vị ca dao, tục ngữ trên không chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình mà còn phát triển trong không gian cả nước, phản ánh mối tương tác giữa văn hóa tâm linh và môi trường xã hội. Trong khi đó, tính chất khép kín của làng xã và sự chuẩn hóa trong quy trình phong sắc thần của triều đình phong kiến đã tạo điều kiện cho các biểu tượng tín ngưỡng được thể hiện trong ca dao, tục ngữ. Từ các ngữ liệu, có thể rút ra một số biểu tượng của tín ngưỡng thờ cúng Thành hoàng như: (1) Biểu tượng cho niềm tin về đối tượng thiêng; (2) Biểu tượng của không gian thiêng; (3) Biểu tượng cho tính địa phương của tín ngưỡng. Thông qua việc vận dụng một số biểu tượng trong ca dao, tục ngữ, người Việt còn nhắn gửi vào đó những bài học đạo lý, khuyên dạy con người cách đối nhân xử thế trong cuộc sống. Qua đó, biểu tượng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và Thành hoàng đã tác động tích cực vào xã hội, giúp hình thành hành vi, giá trị, chuẩn mực trong giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên trong gia đình Việt. Môi trường xã hội là một không gian để con người thực hành tín ngưỡng, đo lường, đánh giá những tác động tâm linh vào đời sống của bản thân. Trên cơ sở đó, xem xét lưu giữ những giá trị tích cực và loại bỏ đi những điều không phù hợp. Thực tế, trước dòng chảy của lịch sử, không ít những tín ngưỡng đã không còn phù hợp, dẫn đến sự biến mất trong xã hội. Tuy nhiên, niềm tin về sự tồn tại của linh hồn luôn còn đó, hành vi chôn người mất cùng các đồ vật hàng ngày (thể hiện quan niệm trần sao âm vậy, bất tử hóa linh hồn) vẫn còn tồn tại, lễ giỗ được các gia đình người Việt tổ chức hàng năm.... Tất cả đã minh chứng một điều rằng, văn hóa tâm linh vẫn hiện diện song hành trong đời sống thực tại bởi chính những ý nghĩa tốt đẹp đã được kiểm chứng qua mối tương tác với môi trường xã hội.
4. Kết luận
Từ những biểu hiện của tính biểu tượng qua khảo sát các ca dao, tục ngữ về thờ cúng tổ tiên, Thành hoàng góp phần làm rõ giá trị của văn hóa tín ngưỡng trong đời sống cộng đồng hiện nay. Văn hóa tâm linh có sự gắn bó mật thiết với đời sống tâm linh dân gian và được nuôi dưỡng, thay đổi để phù hợp hơn trong xã hội hiện đại. Chẳng hạn, trong bối cảnh hiện đại hóa và đô thị hóa, nhiều hình thức thực hành thờ cúng tổ tiên đã giản lược, song bản chất và giá trị của nó vẫn được duy trì và thích ứng. Nhiều gia đình thành thị vẫn giữ bàn thờ tổ tiên; nhiều dòng họ lập website, sổ gia phả điện tử để duy trì ký ức cộng đồng.... Điều đó cho thấy văn hóa tâm linh có khả năng tái tạo và thích ứng cao trong các điều kiện lịch sử - xã hội khác nhau.
Chú thích:
* Trường Đại học Công đoàn.
** NCS Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội; Giảng viên Học viện Giáo dục quốc tế, Học viện Sư phạm Ngọc Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc (tác giả liên hệ).
1 Lê Như Hoa (2001), Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, NXB. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.