HIỆN THÂN CỦA TÂM THỨC VĂN HÓA HAY LÀ MỘT KẾT NỐI CỦA TÂM LINH TÍN NGƯỠNG: CÂU CHUYỆN TỪ ĐẠO HẠNH VỚI NHÓM CÁC CHÙA CHIỀN LIÊN QUAN Ở HÀ NỘI

Từ Đạo Hạnh là nhân vật độc đáo bậc nhất trong lịch sử văn hóa-tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam. Kết hợp việc đọc hiểu một cách hệ thống các tài liệu thành văn và khảo sát điền dã các di tích văn hóa vật thể, bài viết khẳng định Từ Đạo Hạnh chính là hiện thân của tâm thức văn hóa dân tộc và cũng chính là một kết nối của tâm linh tín ngưỡng dân gian.

   Trong lịch sử văn hóa - tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam, hiếm có một nhân vật nào độc đáo như Từ Đạo Hạnh (徐道行1072 -1116). Ông là nhân vật lịch sử được ghi chép rất sớm và g hi chép trong rất nhiều loại thư tịch – từ minh văn (văn bản ghi trên chuông), b i văn (văn bia) cho đến sử ký (chính sử, thiền sử), sắc phong của vua chúa, thần tích, thần phả. Ông là Thiền sư, là Thánh, là Tổ nghề và cả là Hoàng đế nữa (đầu thai kiếp mới). Ông lập và trụ trì ngôi chùa sau này trở thành nơi thờ ông trong cả nghìn năm qua, được phối thờ trong các ngôi chùa lập ra để thờ thân phụ, thân mẫu và chị gái ông. Hành tung của ông cũng phản ánh trong những ngôi chùa thờ bạn hữu của ông và cả trong ngôi chùa thờ kẻ đối địch của ông. Bản thân ông là tác giả văn chương Phật giáo (truyền đời các bài kệ) và cũng là nhân vật trung tâm trong các truyền thuyết dân gian – những truyền thuyết từ rất sớm đã được sưu biên bằng Hán văn, đến thời hiện đại lại được sưu biên bằng chữ quốc ngữ (chẳng hạn “Từ Đạo Hạnh hay là sự tích Thánh Láng” trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi). Ông đồng xuất hiện trong những lễ hội Xuân của cả miền, vùng – những lễ hội vừa là phong tục - tín ngưỡng mà cũng là tôn giáo, cầu đảo. Do đó, ông cũng được dân gian mãi mãi nhớ đến qua ca dao, tục ngữ. Ta có thể nói Từ Đạo Hạnh chính là hiện thân của tâm thức văn hóa dân tộc, một kết nối của tâm linh tín ngưỡng.

   1. Hiện thân của tâm thức văn hóa – nhân vật sớm được ghi chép và ghi chép vào nhiều thư tịch

   Chúng tôi dùng từ “hiện thân” ở đây vừa theo nghĩa thông thường (“người được coi là biểu hiện cụ thể của một điều gì”) vừa theo nghĩa mà nửa sau của mục này muốn biểu đạt. Đó là hàm nghĩa chỉ một người đã qua đời nhưng vẫn lưu lại hình ảnh của chính mình hay phủ bóng mình lên ký ức của cộng đồng qua các thế hệ, cũng có thể nói đó là một người đã lìa trần để đi vào cõi bất tử, nói như văn hào Lỗ Tấn: “Người ta chỉ thực sự chết đi khi không còn sống trong lòng một ai nữa”. Sử ký nói Từ Đạo Hạnh thị tịch (trút xác để chuyển kiếp làm vua nhà Lý) năm 1116 trong hang lưng núi Sài Sơn. Dân mang nhục thân của ngài đặt thờ trong khám. Mãi tới khi nhà Hồ đổ, giặc Minh xâm nhiễu hỏa thiêu thi thể đức ngài. Nếu đúng như vậy thì không kể quãng thời gian xấp xỉ ba thế kỷ nhà sư vẫn “hiện thân” trần thế thì thời gian năm thế kỷ tiếp theo, nhà sư cũng vẫn hiện thân trong thư tịch của các chùa chiền hay sử quán, thần tích hoặc thiền phả. Thư tịch sách vở chẳng phải cũng chính là sự phản ánh ký ức về quá khứ của cả cộng đồng? Tạm kể những tác phẩm quan trọng: Thiền uyển tập anh (禪 苑 集 英), Lĩnh Nam chích quái ( 嶺 南 摭 怪), Việt điện u linh tập (越 甸 幽 靈 集), An Nam chí lược (安 南 志 略), Đại Việt sử toàn thư (大 越 史 記 全 書), Lịch triều hiến chương loại chí (歷 朝 憲 章 類 誌), Đại Việt sử lược (大 越 史 略), Kiến văn tiểu lục (见闻小录 trong 撫 邊 雜 錄), Bắc thành địa dư chí lục (北 城 輿 地 志) và Đại Nam nhất thống chí (大 南 一 統 志, phần tỉnh Sơn Tây, mục Từ miếu và Tự quán). Các tài liệu đó hoặc ghi chép trực diện thân thế Từ Đạo Hạnh hoặc ghi chép về chùa chiền liên quan Từ Đạo Hạnh. Thậm chí có tài liệu như Kiến văn tiểu lục nhân ghi chép về thắng cảnh mà còn cho ta biết về khả năng đâu là tài liệu văn tự sớm nhất ghi chép về Từ Đạo Hạnh. Xin xem tờ 2a7-3a1 của sách này: “Sài Sơn của huyện Yên Sơn, đời Lý gọi là núi Phổ Đà Lạc, đời Trần gọi là núi Phật Tích. Trên núi có chùa và tiên động các nơi. Trong động có tám chỗ lõm, như dấu đầu người va vào, lại có dấu chân như của người khổng lồ. Dưới núi có chùa Thiên Phúc, trước có hồ lớn, sau có lầu chuông, có chuông do Thiền sư Vạn Hạnh đúc thành, vào năm Long Phù Nguyên Hoá thứ 9 (1109) triều Lý, đệ tử Huệ Hưng soạn ký, trước tác lang Nghiêm Thường khắc chữ. Trên chuông có khắc hình cây bồ lao, dùng dây sắt mà treo. Đấy là vật xưa 700 năm đến nay. Dưới lời ký có khắc sắc chỉ của vua Trần Anh Tôn cấp ruộng thờ cúng vào năm Hưng Long thứ 12 (1304)”.

   Danh sách những thư tịch có ký tải chuyện Từ Đạo Hạnh quả không ngắn. Không chỉ là một sự ghi chép với phong cách trang nghiêm với những mĩ từ khuôn sáo kiểu thần tích hay đĩnh đạc kiểu liệt truyện mà còn như kể chuyện thông tục, qua đó ta thấy được mặt đời thường của ngài. Điều quan trọng hơn chính từ vài mẩu chuyện đời thường này mà ta có thể ước đoán được phần nào chân tinh thần của đời sống văn hóa cởi mở, phóng khoáng, sùng đạo (Phật giáo), ngưỡng mộ chuyện ly kỳ (thần tiên) nhưng cũng không bài bác Nho gia của nước Việt dưới thời Lý. Chẳng hạn, ta đọc thấy ghi chép sau trong tác phẩm Thiền uyển tập anh – một tập lược sử các đại biểu cao tăng thiền sư Việt Nam trước và trong thời nhà Lý: “Lúc nhỏ, sư ham chơi, tính tình hào hiệp, có chí lớn, lại có hành động nói năng người đời không thể lường được. Sư thường kết bạn với nhà nho Phí Sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và nghệ sĩ phường chèo Vi Ất. Đêm, sư khổ công đọc sách, ngày thì thổi sáo, đánh cầu, đánh bạc làm vui. Thân phụ thường trách sư biếng nhác. Một hôm, ông lén vào phòng ngủ của sư để rình xem, thấy ngọn đèn đã tàn, sách vở chất đống, sư đang dựa án mà ngủ, tay chưa rời quyển sách, tàn đèn rơi đầy mặt bàn. Từ đấy ông cụ không lo nữa”.

   Những chi tiết như “ham chơi”, giao du với cả một bộ ba vừa có nhà nho, đạo sĩ vừa có nghệ sĩ phường chèo – những hạng mà về sau qua thời Trần bị coi là “vô loài” hoặc mê tín dị đoan. Hoặc như chi tiết đêm đọc sách, nghiên cứu, ngày thì thổi sáo, đánh cầu và cả đánh bạc nữa – đều gián tiếp phản ánh cuộc sống cởi mở của thời đại lúc đó. Chả trách khi đã thành tài, mở chùa dưới chân núi Sài Sơn, bậc cao tăng lại tiếp tục dạy dân trong vùng những trò vui như múa rối, đá cầu, đánh vật, hát chèo bên cạnh việc dạy học, hái thuốc, chữa bệnh bằng phép thuật. Hẳn vì thế mà người mới dùng rộng rãi chữ “Thầy” để gọi tên từ làng cho đến chùa và núi – những nơi liên quan tới Từ Đạo Hạnh (Làng Thầy nơi sư ở, Chùa Thầy – nơi sư trụ trì, Núi Thầy – nơi sư hóa). Thậm chí truyền thuyết về những vụng trộm với phụ nữ của thân phụ Từ Đạo Hạnh là Từ Vinh từ một góc độ nào đó cũng phản ánh loáng thoáng sự khai phóng nhất định trong đời sống tình dục thủa đó. Chính là vì chuyện đó mà Từ Vinh đã mất mạng và cuộc báo thù cho cha của vị thiền sư – một điều mà về sau nhà chùa xem là thủ ác, trái với tinh thần từ bi, lại được trần thuật nhuốm ít nhiều màu sắc hiệp khách (báo ân, báo oán) chứ không phải như là một sự thể hiện của đạo hiếu của Nho gia về sau.

   Ngay cả khi ghi chép chuyện vị thiền sư này theo phong cách sử truyện thì trong chính những đoạn như thế ta cũng vẫn có thể đoán định ít nhiều về thời đại còn chưa quá định hình thành khuôn phép Nho giáo trọng nam khinh nữ như về sau. Thử đọc đoạn mở đầu thiên “Thiền sư Đạo Hạnh” trong Thiền uyển tập anh: “Sư họ Từ, tên Lộ. Cha là Vinh, làm quan tới chức Tăng qua n đô án, thường đi học tại làng An Lãng. Lấy một người con gái họ Tăng rồi theo quê vợ. Sư là con nàng Tăng Thị”6. Đoạn này cho thấy thân phụ của sư Đạo Hạnh cư ngụ bên quê vợ (truyền thuyết ở vùng Láng nói thân mẫu của sư quê ở Thượng Yên Quyết bên kia sông Tô Lịch - nay là làng Yên Hòa, tên nôm là làng Giấy). Tình tiết đó cho thấy tục cưới vợ về nhà không ở ngụ cư như thời đại về sau chưa phổ biến.

   2. Kết nối của tâm linh tín ngưỡng - nhân vật tạo mối kết nối giữa nhiều chùa chiền và lễ hội lại với nhau

   Trong loạt các ngôi chùa có liên quan đến Từ Đạo Hạnh trong vùng ven sông Tô Lịch đến sông Đáy có nhiều ngôi có lịch sử sớm nhất là từ thời Lý. Một thống kê sơ bộ cho thấy từ Bắc vào Nam có tới hàng chục ngôi chùa thờ vị thiền sư này. Riêng ở Hà Nội đã có trên 20 ngôi chùa thờ Từ Đạo Hạnh, tập trung nhất là ở làng Láng và các làng gần bên. Làng Láng Thượng xưa nằm ở phía đầu Cầu Giấy7 (thư tịch cổ ghi cầu Tây Dương) có bốn giáp là: Giáp Bắc, Giáp Cầu Đông, Giáp Cầu Thượng và Giáp Ngọ. Láng Thượng tập trung đến ba ngôi đền và ba ngôi chùa. Hai giáp Cầu Thượng và Cầu Đông cùng thờ bà Thần Anh, là vú nuôi của vua Lý Thần Tông, ở Đền Vĩnh Giai – đền được cho là khởi công cùng lúc làm chùa Láng thờ vua Lý Thần Tông. Ba ngôi chùa của làng là chùa Nền, chùa Láng – Chiêu Thiền Tự (昭 禪 寺) và chùa Thưa.

   Có thuyết nói thủa đầu chùa Nền là ngôi đền (“Đản Thánh Cơ Từ”) dựng trên nền nhà cũ của Tăng quan Đô sát Từ Vinh và bà Tăng Thị Loan – thân phụ và thân mẫu của Từ Đạo Hạnh. Sau đó, khi thái tử Dương Hoán (con của Sùng Hiền Hầu) – hậu thân của Từ Đạo Hạnh lên ngôi vua (Lý Thần Tông) thì đền trở thành chùa – Đản Thánh Cơ Tự ( 誕 聖 基 寺) (“từ” thành “tự” 寺). “Nền” là tên Nôm vì “Đản Thánh Cơ” có nghĩa là “Nền sinh ra Thánh”. Chùa Nền lưu giữ quả chuông đồng “Đản Thánh Cơ Chung” đúc năm 1740 (Canh Thân) và một khám thờ bằng gỗ chạm lộng (thế kỷ XVIII) các hình tượng tứ linh. Hậu cung điện Thánh lưu tồn 3 đạo sắc phong cho ngài Từ Vinh của các vua triều Nguyễn vào các năm Thành Thái thứ ba (1891), Duy Tân thứ ba (1909), Khải Định thứ chín (1924). Ngày nay du khách có thể đến chùa này từ lối vào ngõ Chùa Nền trên đường vành đai Láng, từ xa đã có thấy bóng cây muỗm cổ thụ che trùm lên cổng tam quan. Bên trái sân chùa là tòa tiền đường 3 gian. Đi sâu vào chùa trong là toà điện Thánh, nơi thờ Từ Đạo Hạnh cùng song thân. Điện Thánh gồm bái đường 5 gian nối liền chính điện và hậu cung theo kết cấu hình chữ “Công”. Trên nóc Toà Tam Bảo thờ Phật có đắp bảng đề ba chữ “Đản Cơ Tự”. Sân sau của chùa có tượng Quán Thế Âm Bồ Tát áo trắng hướng mặt về phía Tây Nam. Giả sơn có bức cuốn thư “Thanh Phong Minh Nguyệt” ở vuông vườn cảnh nhỏ chính là bức bình phong áp vào hậu cung của chùa trước.

   Chùa Láng tên chữ là Chiêu Thiền Tự (昭 禪 寺), hiện ở phố Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, tương truyền được khởi dựng từ thời vua Lý Anh Tông – nhà vua là con của Lý Thần Tông – vị vua được coi là hậu thân đầu thai của Thiền sư Từ Đạo Hạnh.

   Tam Quan chùa ngoài bốn cột vuông với ba mái cong. Tam Quan trong hai tầng mái trùm cột. Qua Tam Quan ngoài là sân gạch rộng, giữa kê sập đá lớn là nơi đặt kiệu trong các ngày lễ hội. Cuối sân đến Tam Quan trong dẫn vào con đường lát gạch được che bóng bởi hai hàng muỗm cổ thụ đến cổng thứ ba. Qua cổng này là đến nhà bát giác nơi đặt tượng Từ Đạo Hạnh. Qua nhà bát giác là đến các công trình chính trong chùa: bái đường, thượng điện, các dãy hành lang, nhà tổ và tăng phòng... Chùa Láng có đến 198 pho tượng – một số lượng lớn so với bất kỳ chùa nào ở Hà Nội. Tượng Từ Đạo Hạnh, cốt đan bằng mây song, bả sơn thếp vàng phủ áo cà sa, thờ trong hậu cung cùng tượng vua Lý Thần Tông tạc bằng gỗ mít. Những đồng tiền đồng yểm trong lòng tượng (phát hiện trong lần tu bổ tượng) giúp phán đoán niên đại pho tượng trên dưới 300 năm. Vật cổ nhất của chùa có lẽ là tấm bia dựng năm 1656 thời Hậu Lê, khắc bài văn của ông nghè Nguyễn Khả Trạc (người làng Mai Dịch, quận Cầu Giấy). Văn bia có ghi chuyện Tây Quốc Công chúa Trịnh Tạc cùng vợ là công chúa Lê Thị Ngọc đến thăm và hiến cho chùa một mẫu ruộng. Bia cao 1,4m, rộng 0,8m, là một kiệt tác điêu khắc đá thời Lê. Trán bia chạm hình lưỡng long chầu nguyệt, diềm bia hai bên chạm hình chim phượng chầu hoa sen, tiên nữ đang bay. Chùa hiện lưu tàng 12 đạo sắc phong của các vua từ triều Lê qua Tây Sơn đến triều Nguyễn.

   Chùa Nền, chùa Láng cùng với chùa Thưa nằm gần nhau và cùng có sự gắn bó với chùa Thầy (Sài Sơn). Chùa Thưa thờ Từ Nương, húy là Lan (chị của Từ Đạo Hạnh). Như truyền thuyết kể, Từ Nương mang bùa yểm để phá chuyện Giác Hoàng mưu nối nghiệp nhà Lý. Xưa chùa Thưa nằm ở phía Bắc chùa Nền, giữa cánh đồng Láng Thượng. Từ giữa thế kỷ trước, chùa đã đổ nát; sau kháng chiến chống, Pháp chùa chỉ còn chút vết tích. Ngày nay chùa Thưa được dựng lại chỉ rộng chưa đầy 5m2 dưới gốc muỗm cổ thụ nằm sâu trong khuôn viên Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải (số 1252 Đường Láng), đây có lẽ là ngôi chùa bé nhất nước. Không gian dù nhỏ vẫn đủ để treo sắc phong của vua Khải Định phong thần cho Từ Nương vào năm 1924.

   Từ chùa Thưa, qua Cầu Giấy, đi đến tổ 44, ngách 275, ngõ 215 - đường bờ sông Tô Lịch, du khách có thể viếng chùa Hoa Lăng (xưa là xã Thượng Yên Quyết), nơi có ngôi mộ bà Tăng Thị Loan – thân mẫu Từ Đạo Hạnh. Tương truyền, chùa Hoa Lăng xưa có cổng Tam Quan hướng về Quảng Phúc Môn của Kinh thành Thăng Long thời Lý-Trần. Vua Lý Thần Tông cho dựng tượng Thánh phụ Thánh Mẫu (Từ Vinh - Tăng Thị Loan) để thờ. Chùa cũng được vua cấp 5 mẫu ruộng cho các sư cày cấy, hoa lợi dùng cho việc hương đăng. Truyền thuyết kể sau ngày Từ Vinh bị Đại Điên đánh chết, mẹ Đạo Hạnh sang chùa Hoa Lăng tu8. Sau khi mất, bà được chôn trong vườn chùa. Bản thân Đạo Hạnh lên Sơn Tây tu ở chùa Thiên Phúc, làng Sài Sơn, rồi sang Tây Trúc học được phép lạ, trở về đánh chết sư Lê Đại Điên để trả thù cho cha.

   Trong phường Quan Hoa còn chùa Duệ liên quan đến câu chuyện Từ Đạo Hạnh. Xưa chùa này thuộc thôn Tiền, xã Dịch Vọng, tên chữ là Quảng Khai Tự. Tương truyền chùa được xây từ đời vua Lý Nhân Tông bởi thiền sư Đại Điên (sư húy người họ Lê, húy Nghĩa). Bản ngọc phả năm 1579 chép rằng sau khi song thân qua đời, Lê Nghĩa hiến đất nhà mình để dựng chùa Quảng Khai Tự làm nơi tu hành.

   Như đã nói, các chùa này nối kết với nhau bởi huyền tích Từ Đạo Hạnh. Liên hệ giữa các chùa được duy trì nhờ hội Láng là lễ hội lớn được đồng thời tổ chức bởi các chùa. Hội Láng mở cùng ngày với hội chùa Thầy. Tục ngữ địa phương có câu: “Nắng ông Từa, mưa ông Gióng” (ngày hội Thánh Gióng mùng 9 tháng Tư âm lịch trời hay mưa, ngày hội Thánh Từa thì trời hay nắng. Thánh Từa chính là Từ Đạo Hạnh, thánh của làng Láng. Ca dao cổ lưu truyền câu: “Nhớ ngày mồng bảy tháng ba/ Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy”. Năm được mùa to, hội kéo dài trong 10 ngày. Gặp năm hạn hán thì đám rước qua sông Tô (gọi là “độ hà”) sang làng Thượng Yên Quyết để Thánh thăm mẹ. Hội Láng ngoài tế và rước có phần vui chơi (chọi gà, cờ bỏi, thổi cơm thi, hát chèo). Chính hội đúng ngày 7 tháng Ba âm lịch, nhưng từ ngày mồng 5 đã bắt đầu tế ở chùa Nền. Hôm đó, kiệu Thánh được rước lên chùa Nền (Thánh về thăm lại nơi sinh). Hôm sau lại rước Thánh xuống chùa Tam Huyền ở làng Mọc (Thượng Đình) để thăm cha9, đến tối rước tượng Thánh trong chùa Cả ra ngự tại nhà bát giác để Thánh xem các cô múa hát. Mồng 7, đám rước chính hội phấp phới cờ, quạt, lọng, phướn và vang lừng chiêng trống. Hội Láng có nét đặc trưng là vừa có lễ Thánh, vừa có lễ Phật, lại có cả lễ vua (biểu đạt 3 kiếp hoá của Từ Đạo Hạnh). Đám rước kiệu Thánh Từ Đạo Hạnh đến ngõ Vụt đầu làng An Hòa đối diện với chùa Duệ thờ Đại Điên thì hai bên đều đốt pháo thăng thiên, diễn cảnh đánh đấu giữa hai vị10; đúng chính ngọ, đám rước quay về chùa Láng.

   Để có thể hình dung một cách tập trung Từ Đạo Hạnh như một kết nối của tâm linh tín ngưỡng, chùa chiền, lễ hội, xin đọc đoạn nghiên cứu quan trọng sau đây của tác giả Đỗ Danh Huấn: “Nếu có thể kẻ một đường thẳng theo hướng Tây - Nam, lấy Thăng Long - Hà Nội làm hệ quy chiếu, kết nối các điểm di tích tại các làng, chúng ta sẽ hình thành nên một không gian sinh hoạt văn hoá Phật giáo với hệ thống chùa, các sinh hoạt lễ hội và những truyền thuyết lịch sử gắn với cuộc đời Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Đường thẳng đó, lấy điểm mở đầu là chùa Láng (nay thuộc phường Láng Thượng - quận Đống Đa - Hà Nội), đi ra khỏi khu vực Thăng Long kết nối với các chùa như: chùa Tổng (xã La Phù - huyện Hoài Đức - tỉnh Hà Tây), chùa Cả - Trung Hưng tự (thôn La Phù - xã La Phù - huyện Hoài Đức), chùa Thiên Vũ (thôn La Dương - xã Dương Nội - huyện Hoài Đức), chùa Ngãi Cầu (thôn Ngãi Cầu - huyện Hoài Đức), chùa Thầy (Thày) (xã Sài Sơn - huyện Quốc Oai - tỉnh Hà Tây) và điểm cuối cùng của đường thẳng là chùa Đồng Bụt - Thiền Sư tự (thôn Đồng Bụt - xã Ngọc Liệp - huyện Quốc Oai - tỉnh Hà Tây). Như vậy, về cơ bản các ngôi chùa nêu trên có thể hình thành nên ba khu vực rõ rệt […]. Nét đặc trưng của các ngôi chùa này là mô hình thờ tự tiền phật, hậu thánh”11.

 

 

 

Chú thích:
1 Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập I, NXB. Giáo dục.
2 Lý Thần Tông (1128- 138).
3 Theo Đại Việt sử toàn thư: “Bính Thân, Hội Tường Đại Khánh năm thứ 7 [1116], (Tống Chính Hòa năm thứ 6). Mùa hạ, nhà sư Từ Đạo Hạnh trút xác ở chùa núi Thạch Thất (Thạch Thất là tên huyện, tức là huyện Ninh Sơn ngày nay, tên núi là Phật Tích. Từ Đạo Hạnh đến chơi núi ấy, thấy tảng đá trong hang núi có vết chân người, lấy chân ướm vào vừa đúng: tục truyền đó là chỗ Đạo Hạnh trút xác). Trước là phu nhân của Sùng Hiền Hầu là Đỗ thị đã có mang, đến đây trở dạ mãi không đẻ. Hầu nhớ lại lời Đạo Hạnh dặn khi trước, sai người chạy ngựa đi báo. Đạo Hạnh lập tức [17b] thay áo tắm rửa, vào hang núi trút xác mà qua đời. Sau đó phu nhân sinh con trai, tức là Dương Hoán. Người làng cho là việc lạ, để xác Đạo Hạnh vào trong khám để thờ. Nay núi Phật Tích tức là chỗ ấy. Hàng năm, mùa xuân, cứ đền ngày mồng 7 tháng 3, con trai, con gái hội họp ở chùa, là hội vui có tiếng một vùng. Người đời sau ngoa truyền là ngày giỗ của sư (xác Đạo Hạnh đến khoảng năm Vĩnh Lạc nhà Minh, bị người Minh đốt cháy, người làng ấy lại đắp tượng lại thờ như cũ, hiện nay hãy còn)”. Truyền thuyết lưu truyền ở làng Láng lại kể rằng sư hóa vào ngày 26 tháng 9, vì thế mà có lệ dâng lễ chay vào ngày này (tức cho rằng lúc đó Từ đã là nhà sư). Ngược lại làm cỗ mặn vào sinh nhật mồng 7 tháng 3 (hàm ý lúc đó Từ mới chào đời vẫn là người phàm).
4 Lê Mạnh Thát (2016), Nghiên cứu về Thiền Uyển Tập Anh, NXB. Phương Đông, hoặc: “Thiên 51. Thiền sư Đạo Hạnh ( - 1117), Phần II – Thiền uyển tập anh ngữ lục, quyển hạ”, https://thuvienhoasen.org/a10792/nghien-cuu-ve-thienuyen-tap-anh.
5,6 “Lĩnh Nam chích quái” (thiên “Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không”, Nguyễn Hữu Vinh dịch), https:// trandinhhoanh.wordpress.com/linh-nam-chich-quai/.
7 Cũng ghi là cầu Thượng Yên Quyết. Đại Nam nhất thống chí (phần tỉnh Hà Nội, mục Tân lương, nói “tục gọi cầu Giấy, cầu dài ba trượng, có lợp ngói ở về huyện Từ Liêm”. Từ Cầu Giấy đi xuôi sông Tô đến cầu Yên Quyết. Cầu này bắc ngang sông Tô Lịch ở địa phận làng Yên Quyết (thuộc huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ), tên nôm gọi là cống Cót). Tiếp nữa là cầu Nhân Mục (tên nôm cống Mọc). Học giả Lê Mạnh Thát nói đây phải là cầu Hạ Yên Quyết, còn Cầu Tây Dương chính là cầu Thượng Yên Quyết. Ông cũng chú thích (số 13) về tên gọi cầu Giấy như sau: “Cầu Tây Dương gọi là cầu Giấy tối thiểu bắt đầu từ thời Lý, bởi vì gần cầu đó có xóm chuyên chế tạo giấy, tên là xóm Chỉ Tác hay xóm làm Giấy. Xem Đại Việt sử lược 3 tờ 29a11” (Lê Mạnh Thát (2016), sđd).
8 Học giả Lê Mạnh Thát lại cho rằng “Đại Điên trụ trì chùa Thánh chúa làng Dịch vọng ở sát làng Thượng Yên Quyết, thì khi đánh chết Từ Vinh, xác Vinh tất ném xuống sông Tô lịch từ khoảng cầu Tây Dương, trôi xuôi cho đến cống Cót, nơi có nhà Diên Thành Hầu rồi dừng lại. Tới khi Đạo Hạnh ném gậy mình từ bến Cót, nếu trôi ngược nó tất nhiên phải lên đến cầu Tây Dương hay cầu Thượng Yên Quyết, chứ không thể cầu nào khác” (Lê Mạnh Thát (2016), sđd).
9 Truyền thuyết kể Đại Điên chém Từ Vinh thành ba khúc, vứt xuống sông Tô Lịch. Khúc đầu trôi xuống làng Mọc (Thượng Đình), chân trôi xuống làng Lủ Cầu, mình trôi xuống làng Pháp Vân. Dân ở ba chỗ đó vớt mỗi phần lên chôn cất, thờ cúng. Trong vùng có câu ngạn ngữ: “Làng Mọc thờ đầu, Lủ Cầu thờ chân, Pháp Vân thờ mình”.
10 Người làng Láng và làng Vòng kể tích Đạo Hạnh báo thù cho cha: Đạo Hạnh sau khi đắc đạo, ném thiền trượng xuống sông Tô. Thiền trượng chạy ngược từ cống Cót qua cầu Giấy lên làng Vòng. Dân chúng đổ ra bờ sông xem. Đại Điên cũng có mặt trong đám đông. Thiền trượng rẽ ngay vào chỗ Đại Điên vụt đúng giữa đầu. Đại Điên ôm đầu chạy về đến nhà thì chết. Nơi cây thiền trượng vụt Đại Điện gọi là Ngõ Vụt.
11 Ngày 5/12/2008, Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 với chủ đề Việt Nam – hội nhập và phát triển do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức chính thức khai mạc tại Hà Nội. Chùa Tổng tên chữ Thiên Hương tự, chung cho cả tổng La Phù xưa.

Bình luận

    Chưa có bình luận