GỐM BIÊN HÒA TRONG CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI

Bài viết phân tích vai trò của gốm Biên Hòa trong kiến trúc Việt Nam qua các giai đoạn, làm rõ giá trị thẩm mĩ, văn hóa và tín ngưỡng. Từ đó, khẳng định gốm Biên Hòa là phương tiện biểu đạt bản sắc văn hóa, đồng thời đề xuất định hướng bảo tồn và ứng dụng sáng tạo trong kiến trúc đương đại.

   Gốm Biên Hòa là một trong những dòng gốm tiêu biểu của Việt Nam, hình thành và phát triển hơn 300 năm, gắn liền với lịch sử khai phá và giao thoa văn hóa ở vùng đất Nam Bộ. Không chỉ đơn thuần là sản phẩm thủ công mĩ nghệ, gốm Biên Hòa còn là một di sản văn hóa đặc sắc, bao gồm nhiều loại hình như đồ gia dụng, đồ mĩ nghệ và đặc biệt là các sản phẩm phục vụ trang trí kiến trúc. Với hệ thống men màu phong phú, nổi bật là men xanh đồng trổ bông độc đáo, gốm Biên Hòa đã từng bước khẳng định vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế.

   Ban đầu, sản phẩm gốm Biên Hòa chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường ngày như lu, hũ, chén, dĩa. Theo thời gian, cùng với sự phát triển của kỹ thuật và nhu cầu thẩm mĩ, dòng gốm này đã mở rộng sang các sản phẩm gốm men nghệ thuật và trang trí kiến trúc như tượng gốm, phù điêu và tranh gốm. Những sản phẩm này được ứng dụng rộng rãi trong các công trình tôn giáo và công cộng, góp phần tạo nên diện mạo đặc trưng cho nhiều di tích như Chùa Bửu Phong, Chùa Long Thiền hay Đình Tân Lân. Các họa tiết truyền thống như cuốn thư, rồng ngậm châu, tứ linh, hoa sen… không chỉ mang giá trị trang trí mà còn chứa đựng ý nghĩa biểu tượng sâu sắc trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Việt Nam.

   Đáng chú ý, gốm Biên Hòa là kết quả của sự giao thoa giữa kỹ thuật gốm bản địa và ảnh hưởng từ gốm Trung Hoa, từ đó hình thành nên một phong cách riêng biệt, vừa kế thừa truyền thống vừa có tính sáng tạo cao. Trong kiến trúc truyền thống, vật liệu gốm không chỉ đóng vai trò trang trí mà còn góp phần định hình bản sắc thẩm mĩ và không gian văn hóa của công trình. Tuy nhiên, trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng và xu hướng hiện đại hóa kiến trúc hiện nay, việc sử dụng gốm Biên Hòa trong xây dựng đang có nhiều thay đổi. Một mặt, các giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một do sự thay thế của vật liệu công nghiệp; mặt khác, việc ứng dụng gốm trong kiến trúc hiện đại vẫn chưa được nghiên cứu và khai thác một cách hệ thống, dẫn đến hạn chế trong việc phát huy tiềm năng của loại hình vật liệu này.

   Chính vì vậy, việc nghiên cứu gốm Biên Hòa trong các công trình kiến trúc từ truyền thống đến hiện đại là cần thiết, nhằm làm rõ vai trò, đặc điểm và giá trị của gốm trong từng giai đoạn phát triển. Đồng thời, bài viết cũng hướng đến việc đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị gốm Biên Hòa trong bối cảnh đương đại, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và thúc đẩy sự phát triển bền vững của kiến trúc Việt Nam.

   Gốm Biên Hòa có lịch sử lâu đời, bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XX. Theo Phan Đình Dũng, Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Yên Tri trong cuốn Gốm Biên Hòa1, gốm Biên Hòa nổi bật bởi sự đa dạng về hình dáng và màu sắc, cùng với kỹ thuật trang trí tinh xảo, đã được sử dụng trong nhiều công trình kiến trúc quan trọng như đền chùa, cung điện và các công trình dân dụng. Gốm Biên Hòa được biết đến với các loại men màu đặc trưng, phong phú về mẫu mã và kiểu dáng, từ đó tạo ra những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc. Trong kiến trúc truyền thống, gốm Biên Hòa được sử dụng chủ yếu trong các công trình tôn giáo và dân dụng. Nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Trảng - Nguyễn Đại Phúc trong sách Tượng gốm Đồng Nai - Gia Định2 cho thấy, gốm Biên Hòa được dùng để trang trí các bức tường, mái ngói, tượng phật và các chi tiết kiến trúc khác. Những hoa văn, họa tiết trên gốm thường mang đậm yếu tố văn hóa và tôn giáo, thể hiện qua các hình tượng rồng, phượng, hoa sen và các motif dân gian.

   Trong bối cảnh hiện đại hóa, gốm Biên Hòa không chỉ được bảo tồn mà còn ứng dụng rộng rãi trong kiến trúc hiện đại. Các công trình mới tích hợp gốm Biên Hòa để kết nối giữa quá khứ và hiện tại, sử dụng nó trong thiết kế tòa nhà cao tầng, khu nghỉ dưỡng và công trình công cộng, tạo phong cách độc đáo. Dù gốm Biên Hòa đã đạt nhiều thành tựu, việc bảo tồn và phát triển trong bối cảnh hiện đại vẫn gặp nhiều thách thức. Theo các nghiên cứu của Phạm Quang Sơn (2004)3 và Trần Minh Yến4, việc hiện đại hóa và đô thị hóa nhanh chóng có thể làm mất đi những giá trị truyền thống của gốm Biên Hòa nếu không có các biện pháp bảo tồn hiệu quả. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để gốm Biên Hòa phát triển và ứng dụng rộng rãi hơn trong kiến trúc hiện đại, góp phần tạo nên những công trình kiến trúc độc đáo và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

   Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào việc bảo tồn và phát triển gốm Biên Hòa trong kiến trúc hiện đại. Theo bài viết Vật liệu gốm trong kiến trúc hiện đại của Nguyễn Thị Minh Phương5 và “Ứng dụng những giá trị gốm truyền thống vào các công trình kiến trúc nghệ thuật công cộng tại Biên Hòa” của Tô Văn Thăng6, đã đề cập về việc kết hợp gốm với các vật liệu xây dựng hiện đại, nhằm tạo ra các sản phẩm kiến trúc bền vững và thẩm mĩ. Nghiên cứu này không chỉ giúp bảo tồn các giá trị truyền thống mà còn mở ra những hướng phát triển mới cho gốm Biên Hòa trong kiến trúc hiện đại. Sách Di sản thủ công mỹ nghệ của Bùi Văn Vượng7 cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn nghệ thuật gốm, như một phần của di sản văn hóa phi vật thể quý báu của Việt Nam.

   Tóm lại, gốm Biên Hòa đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong kiến trúc Việt Nam, từ truyền thống đến hiện đại. Việc nghiên cứu và bảo tồn gốm Biên Hòa không chỉ góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống mà còn mở ra những cơ hội mới cho sự phát triển của ngành kiến trúc. Các nghiên cứu hiện tại và tương lai sẽ tiếp tục khám phá và khai thác những tiềm năng của gốm Biên Hòa, đóng góp vào sự phát triển bền vững và đa dạng của kiến trúc Việt Nam.

   1. Ứng dụng gốm Biên Hòa trong kiến trúc

   Đình Tân Lân Đình Tân Lân, xây dựng trên khuôn viên 3.000m², bao gồm tiền đình, chính điện và hậu cung. Kiến trúc kết hợp giữa phong cách Triều Nguyễn và vùng Hoa Nam, với khung gỗ, tường bao, mái ngói âm dương. Trang trí trên mái, bờ nóc, bờ chảy là hệ thống tượng theo điển tích như vinh quy bái tổ, hội triều thiên đình. Người xưa coi trọng sự cân đối giữa kiến trúc và trang trí, tạo sự hài hòa tổng thể. Đồ án gốm được sắp xếp theo từng chủng loại, đảm bảo tính thống nhất, với các nhóm tượng như cổ lầu, phong cảnh, linh thú, chim muông và hoa lá.

   Gốm trang trí trên mái đình Tân Lân gồm hai phần, hệ thống tiểu tượng mang tính chất nghi thức, có nội dung rõ ràng cụ thể. “Việc giải mã các đề tài này tốn nhiều công sức, đòi hỏi người viết phải có kiến thức và am hiểu tỏa tường về điển tích, phong tục tập quán và văn hóa làng xã cổ xưa”8. Đầu tiên là quần thể tiểu tượng, đặt theo chiều ngang, được xếp ba hàng và trang trí theo chiều dọc, bên trái và bên phải gắn biển chữ Hán, với nội dung “Chợ Lớn Mai Sơn” và “Đồng Hòa Diêu Tạo”. Nhóm tượng trung tâm có minh văn chữ Hán đề “Sở Bang”, có thể đây là điển tích “Hán Sở Tranh Hùng”, giống với đồ án trang trí tiểu tượng ở Phước An, Hội Quán Quận 5 - Thành phố Hồ Chí Minh. Nhân vật gồm có Hán Vương, Sở Vương, Tướng Soái, Phu nhân Tướng Soái, Nữ Tỳ, Phiếu Mẫu và Khán Chúng.

   Trên dãy Đệ Nhất Tiến có các tượng trang trí độc lập mang dấu ấn văn hóa phương Đông, như tượng Bát Tiên tượng trưng cho sự trường sinh bất lão và sự gắn kết cộng đồng, tượng Lý ngư hóa long biểu thị may mắn và thành đạt, tượng ông Nhật và bà Nguyệt thể hiện âm dương hòa hợp, và tượng Phụng Hàm Thư đại diện cho tài năng. Các tiểu tượng này, do lò gốm Bửu Nguyên chế tác, có kiểu dáng cơ bản giống nhau. Đệ Nhị Tiến, hàng ngang thứ hai, có cụm tượng chính với 7 khối vuông mang chữ “Đồng Hòa Diêu Tạo”. Các nhân vật hí tượng thể hiện sự vui tươi, cửa lầu ốc trang trí với lưỡng long và cá chép vượt vũ môn, màu chủ đạo xanh lá, xanh nước biển và vàng nhạt. Đệ Tam Tiến, hàng thứ ba, gồm lưỡng long tranh châu, kỳ lân, phượng ngậm cuốn thư và rùa bơi dưới nước, biểu thị cầu chúc quốc thái dân an. Hệ thống tượng trên bờ mái Tiền điện với Lý ngư hóa long, Long phi và Quy phụng thể hiện khát vọng thành công.

   Đình Tân Lân, với phần trên mái tiền đình trang trí nhiều mảng tranh gốm sử dụng màu men xanh, thể hiện sức sống và sự phồn thịnh của đô thị Cù lao Phố, mang giá trị thẩm mĩ và văn hóa sâu sắc.

   2. Ứng dụng gốm Biên Hòa trên cổng Chợ Bến Thành

   Theo một số tài liệu nghiên cứu lịch sử Sài Gòn - Gia Định, đầu năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định, binh lính được lệnh hỏa công chợ tạm Bến Thành. Một năm sau, trên nền chợ cũ, người Pháp cho xây dựng lại một ngôi chợ khác bằng cột gạch, sườn gỗ, mái lợp lá. Đến năm 1870, ngôi chợ này bị cháy nên phải xây cất lại, khi đó có tất cả 5 gian, gồm có gian thực phẩm, gian hàng cá, gian hàng thịt, gian hàng ăn uống và gian hàng tạp hóa. Năm 1911, ngôi chợ này trở nên cũ kỹ và hư hỏng. Để tránh tai họa, người Pháp cho xây dựng lại, từ đó chợ Bến Thành còn có tên là “chợ mới”.

   Trong bài viết “Tìm lại tác giả phù điêu chợ Bến Thành” trên Tạp chí Mĩ thuật, tác giả Nguyễn Minh Anh cho biết “các bức phù điêu gốm này do ông Lê Văn Mậu sáng tác và các nghệ nhân Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa thực hiện theo đơn đặt hàng, Ông lấy đất cuốc (cao lanh) từ chiến khu D, ngày trước thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai nay thuộc thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đem về để tạo hình, tráng men rồi đưa vào lò nung củi, công đoạn này làm xong khoảng chừng 3 tháng”. Trong đó kỹ thuật men được cho là khó khăn nhất, vì nhà thầu yêu cầu kỹ thuật rất cao, sản phẩm mang tính bền vững lâu dài, trường tồn với thời gian, chịu được thời tiết mưa nắng bất thường khắc nghiệt, thì nhất định gốm phải được nung liên tục nhiều ngày, với nhiệt độ khoảng từ 3.700 ºC đến 4.280ºC, trong khi sản phẩm gốm sứ thông thường chỉ cần nung ở ngưỡng 1.150ºC.

   Trong số 12 bức phù điêu được gắn ở 4 cửa chợ Bến Thành: Đông, Tây, Nam, Bắc, có nội dung chủ đề về động thực vật, mang tính biểu trưng, định hướng thương mại, mua bán liên vùng trong khu vực với nhau, được phối bởi 2 màu men quen thuộc, là màu trắng ta và màu xanh đồng. Bức lớn có kích thước 2,2m x1,5m, bức nhỏ 2,0m x1,4m. Mỗi cửa gắn 3 bức, bức lớn ở phía trên và 2 bức nhỏ ở phía dưới như hiện nay. Thời gian hoàn thành công trình gắn phù điêu gốm lên tường khoảng gần hai tháng. Cửa Đông với phù điêu hình con bò và 2 con vịt ở giữa, bên trái là bò và heo, bên phải là vịt. Cửa Tây có phù điêu cá đuối và nải chuối ở giữa; cửa Nam có phù điêu bò và cá; cửa Bắc có phù điêu vịt và nải chuối. Để tránh vênh méo, phù điêu lớn được cắt nhỏ và ghép lại như gạch lát, sau đó chấm men, phơi khô và nung. Lò đốt bằng củi không đều lửa, tạo ra những vùng cháy cục bộ, khiến men chảy không đều, tạo nên các mảng xám vàng tự nhiên, mang vẻ đẹp độc đáo.

   3. Ứng dụng gốm Biên Hòa trên Văn miếu Trấn Biên

   Năm 1715 chúa Nguyễn Phúc Chu sai trấn thủ Nguyễn Phan Long và ký lục Phạm Khánh Đức xây dựng Văn miếu Trấn Biên. Đây là Văn miếu đầu tiên được hình thành tại xứ đàng trong. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có ghi “Văn miếu Trấn Biên được xây dựng tại thôn Tân Lai, tổng Phước Dinh, huyện Phước Chánh, nay thuộc phường Bửu Long Biên Hòa”. Còn trong mô tả của Đại Nam nhất thống chí, “Văn miếu Trấn Biên được xây dựng trên thế đất đẹp, phía Nam trông ra sông Phước Giang, phía Bắc dựa vào núi Long Sơn, là một nơi cảnh đẹp thanh tú, cỏ cây tươi tốt, bên trong rường cột chạm trổ, tinh xảo”.

   Năm 1998, một công trình mới mang tên Văn miếu Trấn Biên được khởi công, khôi phục lại trên nền Văn miếu cũ tại phường Bửu Long, Biên Hòa, Đồng Nai. Ngay từ cổng chính đi vào, lần lượt là nhà bia Khuê Văn Các, hồ Thiên Quang, cổng Đại Thành, nhà thờ Đức Khổng Tử và sau cùng là nhà thờ chính. Ở nhà bia, tấm bia đá kiên cố được khắc bài văn “Trấn Biên - Đồng Nai rạng rỡ ngàn năm văn hiến” do Giáo sư - Anh hùng lao động Vũ Khiêu biên soạn. Trên nóc của Trấn Biên được trang trí “Lưỡng Long tranh châu”, trước cổng chính trang trí 2 tấm phù điêu hình rồng, là linh vật có nhiều vượng khí nhất trên sắc ấn phong thủy, là con vật đứng đầu trong các loài linh thú, ngoài việc hóa giải song sát, nó còn tăng cường phát huy ưu thế quyền lực. Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Quyết, nhà nghiên cứu văn hóa cho biết “rồng là linh vật đứng hàng đầu trong tứ linh: long, lân, quy, phụng. Dân tộc Việt Nam có truyền thuyết về rồng từ rất sớm, bởi nó gắn liền với mây, mưa, với việc trồng lúa nước, với sự tích con Rồng, cháu Tiên”.

   Đặc biệt, trên hệ thống di sản, hình tượng con rồng mang nhiều ý nghĩa, trở thành đề tài trang trí xuất hiện trên hệ thống cột, kèo, bình phong, hoành phi, câu đối. Nhiều cụm “Lưỡng Long Tranh Châu”, “Lưỡng Long Chầu Nhật” hay “Lưỡng Long Chầu Pháp Lam” được trang trí rất công phu, thể hiện tài năng khéo léo của các nghệ nhân gốm. Không chỉ đơn thuần là di tích lịch sử có giá trị to lớn, Văn Miếu Trấn Biên còn trở thành điểm đến tâm linh thu hút mọi người trong hành trình khám phá Đồng Nai, gây ấn tượng mạnh mẽ với kiểu dáng kiến trúc truyền thống, toát lên vẻ đẹp sang trọng, đậm chất đền miếu ngày xưa. Đây là nơi người dân thường xuyên lui tới cúng dường, cầu thành công, may mắn.

   Bảo tàng Đồng Nai cũng sử dụng gốm Biên Hòa trong các phòng trưng bày và khu vực triển lãm, góp phần giới thiệu và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống. Ngoài ra, Gốm Biên Hòa được sử dụng để tạo nên các bức tranh tường, các mô hình di tích lịch sử và các tác phẩm nghệ thuật, làm nên một không gian trưng bày phong phú, hấp dẫn. Công viên Biên Hùng cũng được trang trí và sắp đặt nhiều tác phẩm điêu khắc cùng với tiểu cảnh gốm men xanh, tạo nên một quần thể giải trí và nghệ thuật trưng bày độc đáo. “Nhóm tác phẩm điêu khắc được tạo hình công phu, sống động, với nhiều đề tài chủng loại khác nhau, thể hiện tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống. Các biểu tượng văn hóa và tác cảnh thiên nhiên, đã góp phần tạo nên một không gian nghệ thuật mở đầy sáng tạo”9. Gốm Biên Hòa không chỉ hiện hữu ở chùa chiền, trên các công trình như Nhà hội Bình Trước, Quảng trường Sông Phố, Văn miếu Trấn Biên, Đài Kỷ niệm… mà còn được bạn bè thế giới biết đến qua các hiện vật được sưu tầm, triển lãm từ những năm 20 của thế kỷ trước cho đến tận hôm nay.

   4. Ứng dụng gốm Biên Hòa trên Nhà hội Bình Trước

   Nhà hội Bình Trước giữ nguyên hình dáng ban đầu, mang nét trang nghiêm với mái ngói âm dương truyền thống và rồng chầu trái châu.

   Hai bức phù điêu gốm chạm nổi tinh vi, thể hiện văn hóa lễ hội và hoa văn Việt. Cửa chính có hai câu đối ghép thành tên “Bình Trước”, cùng hai bức tranh gốm người cưỡi ngựa và cặp lân chạm khắc công phu. Tranh gốm với đề tài rồng, mây, sóng nước được trang trí sắc sảo, chủ yếu dùng màu xanh cô-ban trên nền trắng, tương tự mái nhà bái đường Văn miếu Trấn Biên. Hai tấm phù điêu gốm chạm nổi được thể hiện tinh vi. Cửa chính có hai câu đối, chữ đầu mỗi câu ghép thành tên “Bình Trước”. Đối diện cửa phụ là hai bức tranh chạm gốm người cưỡi ngựa, hai bên cửa là cặp lân đá chạm khắc công phu. Nhà hội, xây dựng dưới sự chủ trương của tỉnh trưởng Biên Hòa Bolen, là nơi hội họp và làm việc của hương chức địa phương. Gần trung tâm thành phố, Nhà hội Bình Trước nổi bật với kiến trúc dân gian uyển chuyển và trang trí bằng gốm Biên Hòa, phản ánh nét đẹp của nghệ thuật gốm truyền thống Việt Nam.

   Theo Thạc sĩ Đinh Công Việt Khôi, giảng viên Khoa Gốm, Trường Cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai cho biết, “nhiều năm nay nhà trường thường xuyên phối hợp với các đơn vị, địa phương tham gia phục chế gốm theo những mẫu tượng trên các di tích, đền đài. Thời gian trôi qua, nhiều tượng gốm trên các di tích đã và đang bị xuống cấp”. Tại công viên 30/4, gốm Biên Hòa được sử dụng để trang trí, tạo nên một không gian văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Các bức tượng và phù điêu thể hiện những cảnh sinh hoạt đời sống thường ngày và các nhân vật lịch sử, góp phần tạo nên một không gian mở đầy tính nghệ thuật. “Tại Nhà thờ Biên Hòa, các bức tường và cột cũng được trang trí bằng gốm, tạo nên vẻ đẹp trang nghiêm cho không gian tôn giáo”10. Những họa tiết trên gốm là hình tượng các thiên thần, hoạt cảnh trong Kinh Thánh và hoa văn trang trí, tạo nên một không gian nghệ thuật, mang tính cộng đồng, linh thiêng và sống động.

   Bảo tồn và gìn giữ giá trị gốm Biên Hòa trên các công trình di tích, là cách để góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Nói đến tu sửa, tôn tạo gốm trên di tích, nghệ nhân Hoàng Ngọc Hiến (chủ cơ sở gốm Hiến Nam, Hóa An, Biên Hòa) cho rằng, “hiển nhiên đó là một công việc cực khó”. Để cảm được vẻ đẹp và giá trị của gốm trăm năm tuổi trên di tích đòi hỏi năng lực thẩm định bao hàm việc nghiên cứu, học hiểu, tiếp xúc trực tiếp nhiều hiện vật… mới có khả năng nắm bắt.

   Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống sẽ mang lại sức sống mới cho gốm Biên Hòa. Công tác trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử và cơ sở tín ngưỡng đang được chú trọng. Nhiều trường học, như Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, Trấn Biên và Trịnh Hoài Đức, tổ chức lớp học làm gốm và tham quan di tích, giúp học sinh định hướng nghề nghiệp và nâng cao ý thức bảo tồn di sản. Trường Cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai sử dụng gốm Biên Hòa để trang trí các công trình kiến trúc, bảo tàng và khu vui chơi, tạo môi trường học tập hiện đại nhưng vẫn giữ được giá trị truyền thống.

   5. Phân loại gốm Biên Hòa ứng dụng trong kiến trúc hiện nay

   Các công trình sử dụng gốm Biên Hòa có thể được phân thành ba loại. Thứ nhất, công trình di sản cổ trùng tu và bảo tồn bao gồm các di tích lịch sử như nhà cổ, đình, đền, chùa, miếu, cung điện và lăng tẩm. Những công trình này từ lâu đã được xây dựng chủ yếu bằng vật liệu gốm, do đó việc sử dụng gốm trong quá trình trùng tu và bảo tồn là cần thiết để duy trì tính nguyên bản của di tích. Thứ hai, công trình xây mới theo phong cách truyền thống bao gồm những ngôi đền, chùa mới xây dựng nhưng giữ nguyên thiết kế và công năng truyền thống, cùng với các khu văn hóa truyền thống như chùa Bửu Long tại Đồng Nai.

   Ngoài ra, còn có các công trình mới với chức năng hiện đại nhưng mang phong cách truyền thống, chẳng hạn như các quán cà phê, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng ở khu vực Đồng Nai và lân cận. Những công trình này sử dụng gốm Biên Hòa để tạo sự hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên. Thứ ba, công trình sử dụng gốm tráng men và gốm mosaic bao gồm những kiến trúc sử dụng gốm tráng men và gạch mosaic trang trí. Loại vật liệu này thường được dùng để ốp lát nhà vệ sinh, bể bơi, bể cảnh và làm tranh tường. Ví dụ cụ thể bao gồm khu du lịch Bửu Long, Đồng Nai sử dụng gạch mosaic và gốm tráng men trong các công trình kiến trúc và không gian xanh; khu nghỉ dưỡng Thiên Đường Bảo Sơn, Đồng Nai, nơi các khu vực công cộng và các phòng nghỉ được trang trí bằng các bức tranh tường và các mặt sàn bằng gốm mosaic; và nhà hàng và quán cà phê Nghệ Anh, Biên Hòa, sử dụng gốm mosaic để trang trí không gian nội thất và ngoại thất, tạo điểm nhấn nghệ thuật cho không gian.

   Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng và sự lan tỏa mạnh mẽ của xu hướng kiến trúc toàn cầu, việc bảo tồn và phát huy giá trị của Gốm Biên Hòa không thể chỉ dừng lại ở việc lưu giữ hình thức hay hoài niệm quá khứ, mà cần được tiếp cận như một chiến lược phát triển văn hóa kiến trúc mang tính bền vững. Trước hết, cần chú trọng bảo tồn tri thức nghề và kỹ thuật chế tác truyền thống thông qua công tác tư liệu hóa, đào tạo và truyền nghề cho thế hệ trẻ, đảm bảo tính kế thừa liên tục của di sản. Việc bảo tồn cần gắn với không gian tồn tại nguyên bản của gốm trong các công trình kiến trúc lịch sử, tiêu biểu như Chùa Bửu Phong, Chùa Long Thiền hay Đình Tân Lân, nhằm giữ gìn mối liên hệ hữu cơ giữa vật liệu, nghệ thuật và không gian văn hóa.

   Quan trọng hơn, để gốm Biên Hòa thực sự “phát triển bền vững” trong đời sống đương đại, cần đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng trong kiến trúc hiện đại thông qua đổi mới thiết kế, đa dạng hóa sản phẩm và kết hợp với các công nghệ vật liệu tiên tiến, từ đó tạo ra những giải pháp kiến trúc vừa mang bản sắc truyền thống vừa đáp ứng yêu cầu công năng và thẩm mĩ mới. Bên cạnh đó, việc phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch làng nghề và xây dựng thương hiệu gốm Biên Hòa trên nền tảng số sẽ góp phần mở rộng giá trị kinh tế và nâng cao nhận diện quốc tế. Cuối cùng, một hệ thống chính sách hỗ trợ đồng bộ cùng sự liên kết liên ngành giữa kiến trúc, mĩ thuật và quy hoạch sẽ đóng vai trò then chốt trong việc tái định vị gốm Biên Hòa như một nguồn lực sáng tạo, qua đó không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững và khác biệt của kiến trúc Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

   6. Kết luận

   Ứng dụng của gốm Biên Hòa trong kiến trúc không chỉ đơn thuần dừng lại ở chức năng trang trí, mà còn giữ vai trò như một phương tiện biểu đạt các giá trị văn hóa, lịch sử và bản sắc địa phương trong từng không gian xây dựng. Thực tế cho thấy, từ các di tích truyền thống như đình Tân Lân, Văn miếu Trấn Biên, Nhà hội Bình Trước… đến các hoạt động triển lãm, giới thiệu nghệ thuật trên trường quốc tế từ thế kỷ XX, gốm Biên Hòa đã từng bước khẳng định giá trị thẩm mĩ độc đáo cũng như vị thế văn hóa của mình trong và ngoài nước. Tuy vậy, trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, di sản này đang đứng trước nhiều thách thức như biến đổi thị hiếu xã hội, áp lực phát triển không gian đô thị, cũng như nguy cơ mai một trong quá trình truyền nghề.

   Trước thực trạng đó, việc bảo tồn và phát huy giá trị gốm Biên Hòa cần được tiếp cận theo hướng đồng bộ và có định hướng lâu dài, từ việc tích hợp quy hoạch làng nghề với phát triển đô thị và du lịch văn hóa, đến nghiên cứu các giải pháp ứng dụng trong kiến trúc đương đại theo tiêu chí bền vững và thân thiện môi trường. Việc kết hợp gốm với các vật liệu xây dựng hiện đại không chỉ mở rộng phạm vi ứng dụng mà còn tạo nên những hình thức biểu đạt thẩm mĩ mới, góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ kiến trúc Việt Nam. Đồng thời, cần chú trọng đào tạo đội ngũ kế thừa, nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích sáng tạo trong thiết kế, nhằm giúp gốm Biên Hòa thích ứng với nhu cầu đương đại mà vẫn giữ được giá trị cốt lõi. Qua đó, việc thúc đẩy sự hiện diện của gốm Biên Hòa trong kiến trúc hiện nay không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn di sản, mà còn mở ra hướng đi thiết thực trong việc tái khẳng định một giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống hiện đại, góp phần xây dựng nền kiến trúc Việt Nam giàu bản sắc và phát triển bền vững trong tiến trình hội nhập.

 

 

 

Chú thích:
* Trường Đại học Văn Lang
1, 8, 10 Phan Đình Dũng, Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Yên Tri (2004), Gốm Biên Hòa, NXB. Tổng hợp Đồng Nai.
2 Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc (1997), Tượng gốm Đồng Nai - Gia Định, NXB. Đồng Nai.
3 Phạm Quang Sơn (2004), Làng nghề truyền thống Việt Nam, NXB. Văn hóa Dân tộc.
4, 9 Trần Minh Yến (2004), Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB. Khoa học xã hội.
5 Nguyễn Thị Minh Phương (2020): “Vật liệu gốm trong kiến trúc hiện đại”, Tạp chí Kiến trúc số 06. 6 Tô Văn Thăng (2015): “Ứng dụng những giá trị gốm truyền thống vào các công trình kiến trúc nghệ thuật công cộng tại Biên Hòa”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Gốm Đồng Nai và các vùng phụ cận, từ truyền thống đến hiện đại, NXB. Đồng Nai.
7 Bùi Văn Vượng (2000), Di sản thủ công mỹ nghệ, NXB. Thanh Niên.

Bình luận

    Chưa có bình luận