Các triều đại phong kiến Trung Hoa đã để lại rất nhiều di sản là những công trình lăng mộ có quy mô tầm cỡ thế giới. Điển hình như vùng cố đô Nam Kinh. Nhưng Nam Kinh đã khai thác phát triển di sản hiệu quả từ di tích lăng mộ sáu triều đại (lục triều) và lăng mộ Tôn Trung Sơn (thời chính phủ Quốc dân) hiệu quả; thu hút hàng triệu du khách đến viếng hàng năm. Con đường dẫn vào khu lăng mộ được trồng hai hàng cây ngô đồng (lá giống như lá phong nhưng kích thước to) tạo nên sự hấp dẫn cho du khách, mặc dù loài cây này được du nhập từ châu Âu. Di tích lăng mộ quy hoạch bố trí theo trục Nam - Bắc, bình đồ hình chiếc chuông báo thức. Từ khu cổng đến khu mộ kết nối một trục bậc thang hàng trăm bậc, kiến trúc lợp ngói lưu ly màu xanh lam, hình khối trang nghiêm. Lăng bố trí đầy đủ các khối chức năng như cổng chào, nhà bia, trụ biểu, đền thờ (có tượng đá ngồi do nhà điêu khắc Ba Lan Paolo Trantorzky tạc) và mộ. Sau khi tham quan xong, du khách trở ra được đón chào là hai dãy hàng quán bán đồ ăn uống, hàng chục cửa hàng bán quà lưu niệm. Quà lưu niệm đặc trưng nhất của khu núi Tử Kim Sơn này là các loại đá được khai thác tại đây, màu sắc phong phú, mẫu mã đa dạng đáp ứng nhu cầu du khách lựa chọn thoải mái. Ngoài ra còn có nhiều loại quà tặng khác, từ những bức tranh thư pháp, đến ấn triện đá, vật cài áo, trâm cài tóc, vật trang trí tủ lạnh... Hình ảnh kiến trúc tổng thể lăng mộ cũng được chọn khai thác làm nhiều mẫu quà tặng, đặc biệt là hình ảnh chiếc lá ngô đồng, lá bạch quả được làm thành nhiều mẫu quà tặng phong phú - đó là những sản phẩm có giá trị biểu tượng cao. Hầu như du khách nào cũng ghé mua cho mình ít nhất vài sản phẩm có nét đặc trưng để mang về làm kỷ niệm.
Tại Việt Nam, vài khu du lịch di sản nổi tiếng thu hút hàng triệu du khách đến tham quan theo mô hình tâm linh như khu du lịch Tràng An Bái Đính ở Ninh Bình, hay khu du lịch tâm linh núi Bà Đen ở Tây Ninh, nổi tiếng với hệ thống chùa cổ và các công trình Phật giáo hiện đại trên núi. Năm lăng mộ vua Nguyễn tại Huế được khai thác khá tốt nhưng chưa phát huy hết hiệu quả để di sản càng lan tỏa bởi nhiều lý do khách quan và chủ quan hoặc do cách tiếp cận khai thác mô hình điểm đến du lịch chưa đạt hiệu quả cho sự phát triển di sản văn hóa trong bối cảnh đương đại có nhiều điểm lựa chọn mới.
Theo tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), “điểm đến du lịch” là một không gian vật chất tích hợp dịch vụ. Nó có ranh giới hành chính, hình ảnh riêng và khả năng cạnh tranh. Từ cơ sở đó, ngành du lịch đã định hình các khái niệm mới, những cơ sở luận về điểm đến du lịch cụ thể giúp nhận diện được mô hình điểm đến du lịch trong bối cảnh hiện nay. Từ góc nhìn của ngành công nghiệp du lịch, một điểm đến du lịch lý tưởng gồm có 5 yếu tố quan trọng: (1) Attractions (điểm đến hấp dẫn); (2) Accessibility (khả năng tiếp cận); (3) Amenities (tiện nghi); (4) Available packages (gói sản phẩm); (5) Activities (hoạt động). Tầm quan trọng của mô hình điểm đến này là giúp các nhà quản lý xây dựng được chiến lược marketing phù hợp loại hình, nâng cao năng lực cạnh tranh thị trường du lịch di sản và hình thành mô hình phát triển bền vững cho phát triển di sản văn hóa trong tương lai.
Cùng với mô hình điểm đến du lịch là mô hình công nghiệp quà tặng (ngành Mĩ thuật ứng dụng) phải phát triển đồng bộ và hiệu quả. Trong bối cảnh ngành du lịch phục hồi sau đại dịch Covid-19, từ năm 2021 trở lại đây có phần khởi sắc nhưng thị trường sản phẩm quà tặng vẫn nghèo nàn, mẫu mã thiếu nét đặc trưng và chưa tinh xảo; sản phẩm kém phong phú về chất liệu. Vì thế, rất cần sự phát động kèm với chính sách mang tính chiến lược về đầu tư phát triển cho thị trường sản phẩm quà tặng. Các nhà thiết kế, tạo mẫu, nhà đầu tư sản xuất phải vào cuộc kết hợp với ngành du lịch và di sản văn hóa tạo nên chân vạc vững chắc khai thác thị trường tiềm năng này. Năm 2025, hội chợ quà tặng, quà lưu niệm (Gift show HCMC) đã được Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức từ ngày 27 đến 29 tháng 03 tại trung tâm triển lãm SECC quận 7. Hội chợ quy tụ các sản phẩm đa dạng từ dệt may, da giày, thủ công mĩ nghệ, tranh nghệ thuật, trang sức, mĩ phẩm đến thực phẩm và đồ uống... Các sản phẩm hướng đến chất lượng và bản sắc văn hóa Việt Nam. Hội chợ quốc tế quà tặng và hàng thủ công mĩ nghệ (LifeStyle Vietnam 2025) diễn ra từ ngày 18-21/10/2025 là điểm hẹn tầm khu vực và quốc tế. Quy mô hội chợ hơn 1.200 gian hàng gần 600 nhà triển lãm Việt Nam và quốc tế đến từ hơn 30 quốc gia. Hội chợ này là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam giao lưu học hỏi các nước phát triển mạnh về ngành công nghiệp quà tặng, đồng thời cũng là dịp các làng nghề trưng bày giới thiệu những sản phẩm mang tính bản sắc với thế giới.
Những công trình lăng mộ vua Nguyễn, như: lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Tự Đức, lăng Khải Định... được quy hoạch thiết kế và xây dựng khi các vị vua còn sống vì thế có phân chia thành hai khu là lăng và tẩm. Khu lăng là nơi chôn cất thi thể, còn tẩm là nơi thờ, vì nằm trong cùng một khu di tích nên gọi chung là lăng tẩm. Lăng tẩm các đời vua Nguyễn là những công trình kiến trúc có giá trị lịch sử và nghệ thuật cao. Trong đó, lăng Khải Định là một trong những lăng còn giữ được tính nguyên bản như thời đại của nó. Đỉnh cao của giá trị trang trí lăng này là nghệ thuật trang trí khảm sành sứ bên trong điện thờ đã tương phản với chất liệu ô dước xi măng bên ngoài thô ráp và nhuốm màu xám, đen. Vua Khải Định ảnh hưởng văn hóa phương Tây và yêu thích kiến trúc phương Tây nên tự thiết kế lăng cho mình theo hình thức Đông – Tây kết hợp tạo nên di tích có vẻ đẹp lạ thu hút du khách tham quan rất đông. Lăng vua Minh Mạng và vua Tự Đức xây dựng theo lối truyền thống phương Đông, kiến trúc mang đậm dấu ấn nghệ thuật trang trí Huế hòa vào thiên nhiên núi đồi, mặt nước đã thu hút hàng trăm du khách mỗi ngày. Lăng Thiệu Trị xây dựng quy mô cũng khá lớn, tương đồng với các lăng khác, nhưng thực trạng chưa được chính quyền đầu tư khôi phục chỉnh trang tốt như các lăng kia để đạt hiệu quả thu hút du khách, mặc dù giá vé thấp nhất nhưng du khách vẫn đến không nhiều (vé tham quan được miễn phí ngày mùng một đầu năm mới, ngày thường là 150.000/ vé, duy chỉ có lăng Thiệu Trị là 50.000 đồng nhưng vẫn rất ít người tham quan). Khi kết thúc hành trình tham quan tại các lăng, du khách sẽ nhận được những giá trị tinh thần như thông tin lịch sử, kiến thức mĩ thuật trang trí kiến trúc, phong thủy, chất liệu pháp lam, nghệ thuật khảm sành sứ... Còn giá trị vật chất thì du khách tìm cho mình những món quà lưu niệm tại từng địa điểm như sách, đồng tiền, các con giáp bằng đồng, con tem, bưu ảnh, nón lá, tượng gỗ cô gái Huế mặc áo dài, bình rượu Minh Mạng...
Nhìn chung mô hình khai thác di tích lăng mộ để phát triển giá trị di sản văn hóa thông qua năm lăng mộ tại Huế chưa hiệu quả. Nguyên nhân cơ bản có thể kể đến: Đầu tư chưa đồng bộ; do tài lực và nhân lực không đủ nên chỉ ưu tiên trùng tu các di tích trọng điểm. Trả lời báo Công an Nhân dân, nhà nghiên cứu văn hóa Huế - Phan Thuận An cũng từng lưu ý là cần tránh lối suy nghĩ tính toán lăng nào thu được lợi nhuận thì đầu tư còn lăng nào chưa thu được thì bỏ.
Trở lại vùng đất thành phố Hồ Chí Minh, tuy không có những di tích lăng tẩm các vua như Huế, nhưng mô hình du lịch di sản vẫn có với những gói sản phẩm tham quan các công trình kiến trúc cổ thời Pháp, đình, chùa của người Hoa, người Việt trong nội đô. Gần đây, có thêm một số gói tham quan các điểm đến lịch sử gắn với nhiều sự kiện chính quyền Sài Gòn xưa. So với Huế, gói sản phẩm du lịch điểm đến di sản văn hóa lăng mộ ở Thành phố Hồ Chí Minh thật hiếm hoi. Hiện nay, chỉ có điểm đến tham quan di tích lăng Tả quân Lê Văn Duyệt tại khu chợ Bà Chiểu ở quận Bình Thạnh (nay là phường Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh). Công trình kiến trúc quy hoạch theo trục Nam - Bắc, có cổng chào tam quan, vào sân thấy khu mộ trước, rồi đến khối kiến trúc tiền điện, trung điện và cuối cùng là chánh điện thờ tượng Tả quân, dãy nhà Đông lang và Tây lang hai bên. Phong cách lăng mộ này xây theo phong cách trang trí triều Nguyễn. Tuy từng được xem là tội thần bị vua Minh Mạng xích mộ, nhưng lăng không vì thế mà xây dựng và trang trí khác phong cách lăng tẩm Huế. Đến thời vua Thiệu Trị được minh oan nên lăng ông được nhân dân Gia Định tôn tạo giữ gìn đến hôm nay. Lăng đã trở thành điểm đến tham quan độc nhất tại chợ Bà Chiểu vùng Bình Thạnh. Ngoài yếu tố tâm linh thu hút đồng bào trong nước đến tham quan viếng lăng còn có du khách quốc tế đến tham quan vì vẻ đẹp kiến trúc có ảnh hưởng phong cách Huế, độc đáo nhất là phần trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc lăng. Công trình không bán vé tham quan, du khách tự do đến tham quan, thắp hương, chiêm ngưỡng di tích. Quan sát thấy một vài điểm bán nhang cho khách trước cổng, hoàn toàn không thấy các điểm bán quà tặng cho du khách. Khi hỏi bác Ngọc (trưởng ban quản lý di tích) về sản phẩm quà tặng đặc trưng của lăng thì ông nói chỉ có bức tượng đức Tả quân ngồi làm bằng nhựa sơn nhũ vàng kích thước cao khoảng 25cm, logo hình vuông cài áo là hình ảnh cổng tam quan của lăng, sách kỷ yếu 110 năm thành lập Hội Thượng công Quý tế (nay là Ban Quý tế) 1914 - 2024 và sách Đình miếu Nam Bộ. “Hiện nay, lăng miếu Tả quân Lê Văn Duyệt đã trở thành di sản quý giá trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam”.
Di chuyển lên khu Phú Nhuận, đến số 41 Nguyễn Thị Huỳnh là lăng mộ của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu một trong ngũ hổ tướng Gia Định xưa, làm Phó Tổng trấn Gia Định Thành. Khuôn viên rộng hơn hai ngàn mét vuông. Phần khu mộ được xây bằng gạch thô (gạch có đóng dấu từng viên) và hợp chất truyền thống. Các mảng tường bình phong trước và sau mộ đã bong tróc hư hại nặng, các hoa văn trang trí bị phai mờ, khó nhận diện. Lăng được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 2004, đã được đề xuất tu bổ nhiều lần nhưng do tính đặc thù của chất liệu cổ nên đến nay vẫn chưa tìm ra phương án bảo tồn phù hợp. Đền thờ cạnh bên khu mộ đã được trùng tu lớn hai lần, tuy vật liệu mới nhưng vẫn giữ nguyên dáng kiến trúc theo phong cách đình miếu Nam Bộ xưa. Trải qua gần 200 năm, lăng mộ này được giữ gìn gần như nguyên vẹn nhưng không trở thành điểm đến du lịch thu hút khách tham quan hiệu quả, mặc dù cách trục đường lớn Nguyễn Văn Trỗi không xa. Một điểm đến khác là lăng mộ của một danh tướng nắm toàn bộ thủy quân triều Nguyễn hơn hai trăm năm tại đường Cô Giang, phường Cầu Kiệu – lăng mộ Bình giang Quận công Võ Di Nguy. Lăng xây dựng từ năm 1801 gồm có phần điện thờ trước, khu mộ cổ phía sau rất quy mô, bề thế hơn mộ Trương Tấn Bửu. Năm 1993 khu lăng mộ Võ Di Nguy được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Các linh vật mang tính biểu tượng cao như lân, rái cá được sử dụng nhiều trong trang trí khu mộ, đặc biệt là hình tượng hai con rái cá được trang trí trên thành tường bao mộ như là biểu tượng binh nghiệp thủy quân của ông. Xung quanh tường bao được trang trí đắp nổi hoa lá, chim, tùng, lộc, tứ linh, và chữ Hán khắc âm. Trước mộ là bình phong rất to có khắc chữ, hai bên có lân chầu được nghệ nhân điêu khắc rất sống động. Đặc biệt hơn nữa là hai bên tường bao tạo hình tượng tả thanh long, hữu bạch hổ. Bên phải còn có phần mộ của vợ ông và con trai, bên trái có phần mộ của cháu dâu và mộ vô danh. Trước khu mộ là đền thờ với kiến trúc tứ trụ truyền thống Nam Bộ cùng hai dãy nhà Đông, Tây. Giữa khu đền thờ và khu mộ còn có một cái giếng cổ miệng tròn, ngày xưa lấy nước xây dựng lăng mộ, đến nay không còn sử dụng nên che miệng giếng lại. Tuy thời gian tàn phá di tích nhưng có thể thấy lăng mộ Võ Di Nguy là một trong những di tích còn giữ được nguyên bản, bề thế mang đậm dấu ấn phong cách kiến trúc nghệ thuật như lăng mộ vua chúa thời Nguyễn. Lăng mộ danh tướng thủy quân Võ Di Nguy cách đường lớn Phan Đình Phùng không quá 100 mét nhưng cũng không thu hút được du khách tham quan nhiều. Cùng với quần thể lăng mộ cổ vùng đất Phú Nhuận còn có lăng mộ Võ Tánh – vị tướng trung quân, trung nghĩa và khí tiết thời nhà Nguyễn, người đã tự thiêu để cứu binh lính. Lăng mộ ông đã tồn tại hơn 200 năm tại số 19 Hồ Văn Huê, Phú Nhuận nay là phường Đức Nhuận. Qua cổng tam quan đi vào sân bên phải là khối kiến trúc đền thờ, đầu tiên là khối nhà tiền đường giống như khu võ ca trong các đình làng Nam Bộ, cách một khoảng sân thông thiên là điện thờ chính, nơi bài vị được thờ trên trang thờ cùng với bao lam chạm khắc tinh tế dát vàng. Hình tượng trang trí chạm nổi bong kênh sinh động các hoa lá, mẫu đơn, chim chỉ, trung tâm bao lam là đôi chim phượng hoàng. Phía trong khuôn viên sau chánh điện là phần khu mộ được sơn màu mới vàng kem với nhiều bức tranh trang trí, trước khu mộ có bức bình phong vẽ hình long mã và hình con hổ (thờ ông ba mươi giống như tục thờ trong các đình làng Nam Bộ). Bình phong sau mộ phần thì đắp nổi hình chim hạc và mây. Công trình này được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố năm 2019. Di tích không chỉ có giá trị lịch sử và nghệ thuật mà còn nhắc nhớ hậu thế về khí tiết trung quân của tiền nhân. Di tích cũng không trở thành một điểm đến du lịch di sản văn hóa trong ngành du lịch, du khách không biết nhiều về di tích này.
Có thể thấy, hầu hết các công trình di sản hiện nay đều xuống cấp và nguyên nhân được nhắc đến đầu tiên là đầu tư bảo tồn, trùng tu quá ít không đủ phục hồi như cũ. Đầu tư trùng tu di tích chính là để di tích trở lại hình hài vốn có của nó. Ngoài nguồn kinh phí trùng tu, nhà nước còn bao cấp chi trả lương cho hệ thống quản lý hằng tháng. Vì thế, nhà nước – mà trực tiếp là các Sở Văn hóa, thể thao và du lịch – cần có hướng để di tích phải phát huy được những giá trị vốn có để trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn. Có như vậy, di tích mới có thể “tự lo cho mình” bằng nguồn thu đầy tiềm năng và ổn định – nguồn thu từ vé tham quan, sản phẩm quà tặng để bán cho du khách. Vấn đề đặt ra là: Nếu áp dụng 5 yếu tố (5A) trong mô hình điểm đến du lịch (Tourism Destination) thì sẽ đạt hiệu quả như thế nào đối với di sản lăng mộ?
(1) Attractions (điểm đến hấp dẫn): Khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên địa phương, các yếu tố lịch sử, văn hóa vùng để làm cho câu chuyện riêng về lịch sử của mỗi công trình trở thành điểm đến hấp dẫn hơn, thu hút du khách. Du lịch tham quan điển đến tâm linh không phải là mới. Việc này đã được Huế triển khai rất tốt trong nhiều năm qua bằng gói du lịch tham quan lăng mộ vua Nguyễn. Nhưng tại Thành phố Hồ Chí Minh, mô hình khai thác di sản này chưa hiệu quả, nhiều di sản còn bỏ trống.
(2) Accessibility (khả năng tiếp cận): Hạ tầng giao thông, đường sá phải thuận tiện cho các loại phương tiện di chuyển. Nếu như hạ tầng không thay đổi được thì phương thức di chuyển phải kết hợp đồng bộ nhiều mô hình linh hoạt để đưa du khách đến di tích. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, vị trí các lăng mộ cũng thuận tiện giao thông nhưng diện tích không rộng, đủ chỗ cho nhiều phương tiện giao thông, đáp ứng nhu cầu tiếp cận di sản của du khách.
(3) Amenities (tiện nghi): Đáp ứng đầy đủ các nhu cầu lưu trú, ăn uống, giải trí, mua sắm. Đối với các di tích lăng mà du khách có thể tham quan trong một buổi thì nhu cầu lưu trú không có nhưng các nhu cầu khác lại cần thiết, trong đó nhu cầu mua sắm quà tặng làm quà lưu niệm là nhu cầu rất tiềm năng, cần được khai thác. Vì vậy, vấn đề kết nối các làng nghề cung ứng nguồn sản phẩm quà tặng mang tính bản sắc, đa dạng chất liệu là vô cùng cần thiết.
(4) Available packages (gói sản phẩm): Đa dạng gói sản phẩm dịch vụ du lịch từ ngắn hạn đến dài hạn. Đa dạng loại hình phục vụ, tham quan du lịch. Đối với di tích lăng có thể tách ra tham quan từng lăng theo từng ngày hay gộp lại tham quan trong ngày.
(5) Activities (hoạt động): Thiết kế các hoạt động tại chỗ đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí cho du khách. Khai thác các hoạt động gắn với địa phương, công trình, di tích.
Đối với lĩnh vực khai thác quà tặng, quà lưu niệm, cần bổ sung thêm nhiều mẫu mã. Các đề tài làm quà tặng cần phải khai thác các giá trị có tính biểu trưng của từng di tích. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông: “Cho dù, niềm tín mộ mang chất tâm linh vẫn dành cho Phật giáo, nhưng trong nghệ thuật tạo hình, đề tài của tam giáo vẫn mang tính thống soái, quẩn quanh với những mô thức cổ điển như tứ linh, tứ quý, tứ hữu, bát bửu...”. Bình phong là một thành phần đặc trưng trong đời sống người dân Huế, từ đời sống thực tại đến mộ phần vĩnh hằng luôn gắn với bình phong, nhưng sản phẩm quà tặng lại không thấy khai thác giá trị từ bình phong này. Nghệ thuật Pháp Lam cũng được trang trí nhiều trong lăng, cần có hướng khai thác chất liệu rất đặc trưng của Huế làm quà tặng ấn tượng. Lăng Lê Văn Duyệt có cổng tam quan rất đặc trưng cũng chưa được các nhà đầu tư khai thác thành sản phẩm quà tặng phong phú đáp ứng nhu cầu mua sắm cho khách tham quan.
Trong xu hướng quà tặng hiện nay, có nhiều định hướng mới nhưng nhìn chung theo xu thế chung, có các xu hướng tiêu biểu sau:
- Xu hướng quà tặng có giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc: là loại sản phẩm khai thác được dấu ấn đặc trưng của địa chỉ di sản, tính biểu tượng cho từng sản phẩm sẽ góp phần đưa hình ảnh di sản văn hóa đi xa hơn. Xu hướng này cần sự đóng góp ý tưởng và thiết kế của ngành mĩ thuật ứng dụng.
- Xu hướng quà tặng thân thiện với môi trường: góp phần bảo vệ thiên nhiên, tạo ấn tượng tốt, sản phẩm tinh tế, độc đáo thẩm mĩ. Xu hướng này cần khai thác thế mạnh sản phẩm từ các làng nghề truyền thống địa phương.
- Xu hướng quà tặng cơ hội trải nghiệm: liên kết các đối tác để mở rộng marketing, giúp du khách có thêm cơ hội trải nghiệm ẩm thực, mua sắm, nghỉ dưỡng, giải trí. Xu hướng này cần kết hợp liên ngành để xây dựng mô hình khép kín hiệu quả mang tính cộng sinh.
Di sản Việt Nam đứng trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, công nghiệp du lịch, công nghiệp quà tặng là những thách thức không nhỏ đối với ngành du lịch trước “bài toán” làm thế nào để đưa di sản văn hóa vào đời sống đương đại nhưng vẫn giữ gìn được hồn cốt văn hóa và giá trị lịch sử của nó. Các công trình di tích lăng mộ ở Huế và Thành phố Hồ Chí Minh có điểm chung là đại diện cho chính thể kiến trúc tiêu biểu có dấu ấn bản sắc văn hóa của người Việt. Vì vậy, phát triển di sản văn hóa cốt lõi phải từ yếu tố bản sắc, đưa các giá trị bất biến của bản sắc vào đời sống hiện đại để lịch sử không còn nằm trong trang sách mà bước ra ngoài bằng hình thể mới đa dạng, linh hoạt có khả năng tiếp cận dễ dàng với du khách. Có như vậy, các di sản văn hóa mới tự thân phát triển và vận hành bền vững. “Nói đến bản sắc văn hóa tức là nói đến cái mặt bất biến của văn hóa trong quá trình phát triển của lịch sử”. Nhưng cái bất biến của văn hóa thì tồn tại trong nội dung vốn của nó còn hình thức sẽ phải linh hoạt biến chuyển để dễ truyền tải thông điệp, ý nghĩa nội dung đi xa hơn trong thế giới đương đại, đó chính là ngành công nghiệp quà tặng kết hợp cùng ngành công nghiệp du lịch.
Nhìn từ giá trị di sản văn hóa lăng mộ đến khai thác du lịch hiệu quả hơn thông qua lý thuyết điểm điển đến du lịch kết hợp ngành công nghiệp quà tặng có bản sắc là hướng tiếp cận mang tính thời sự trong bối cảnh hôm nay. Khi cuộc cạnh tranh quyết liệt về sự phát triển di sản trên khắp cả nước, nhiều dự án khai thác địa điểm cũ, đầu tư xây dựng mới hiện đại để đáp ứng nhu cầu tham quan du lịch ngày càng cao đã làm cho một số di sản dường như bị bỏ lại phía sau. Nhu cầu về đời sống tâm linh là có thật, nó là mạch nguồn chảy trong dòng máu dân tộc. Dòng chảy tâm linh ấy bắt đầu từ nền văn minh sông Hồng ở Bắc Bộ, di chuyển về miền Trung rồi vào Nam, nó là cái nền vững chắc nhất trong mối quan hệ làng xã. Cho đến hôm nay, người dân Việt luôn cúi đầu trước những di sản văn hóa tâm linh với lòng thành kính. Các di sản trở nên gắn bó với đời sống con người, trở thành nhu cầu đáp ứng yếu tố tinh thần không thể thiếu trong thời đại mới. Vì thế nhu cầu du lịch khám phá các di tích tâm linh là tiềm năng lớn; đòi hỏi nhà nước, chính quyền quản lý di tích và người dân có ý thức chung tay góp phần tôn tạo và giữ gìn di sản để phát triển cho ngành du lịch. Đầu tư phát triển di sản văn hóa không chỉ là nguồn lợi kinh tế mà đầu tư di sản góp phần rất lớn vào việc bảo tồn di tích, bảo vệ được các giá trị nhân văn từ lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc cho hậu thế mai sau còn có di sản mà nhớ về cội nguồn dân tộc.
Chú thích:
* Trường Đại học Văn Lang.
1 https://cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/Langtam-nhung-vi-vua-trieu-Nguyen-i288744/.
2 Bùi Thị Ngọc Trang (2020), Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt nghệ thuật kiến trúc trang trí lễ hội, NXB. Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, tr. 135.
3 Nguyễn Hữu Thông (2014), Mĩ thuật thời chúa Nguyễn dẫn liệu từ di sản lăng mộ, NXB. Thuận Hóa, tr. 156. Phan Ngọc (2010), Bản sắc Văn hóa, NXB. Văn học, tr. 34.