Hiện nay, sáng tạo những hình thức biểu đạt mới cho các giá trị nghệ thuật truyền thống là một xu hướng ngày càng trở nên phổ biến. Trong quá trình này, các tác phẩm không chỉ đơn thuần được phục dựng hay bảo tồn, mà còn trải qua quá trình biến đổi, tái cấu trúc trên nhiều phương diện như hình thức nghệ thuật và ý nghĩa chuyển tải; ẩn sau đó là những hệ giá trị thẩm mĩ, thị hiếu và diễn ngôn mới. Bài xẩm Mục hạ vô nhân là một trường hợp tiêu biểu cho sự vận động đó. Khởi nguồn từ bài thơ vịnh của Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), tác phẩm dần được chuyển hóa, bồi đắp thành các phiên bản xẩm, trước khi được tái sinh trong âm nhạc đương đại qua ca khúc của Soobin và Binz (2025). Hành trình ấy cho thấy tính “mở” của tác phẩm, luôn sẵn sàng cho những diễn giải mới, cũng như sức sống bền bỉ và khả năng thích ứng của di sản trong đời sống hiện đại.
1. Vài nét về bài xẩm Mục hạ vô nhân và những gợi mở sự tái triển
“Mục hạ vô nhân” (dưới mắt không người) là một thành ngữ chỉ thái độ sống cao ngạo, coi thường người khác. Đây cũng là tên gọi của một bài xẩm phổ biến trong khoảng cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, được cho là bắt nguồn từ một bài thơ của Nguyễn Khuyến. Khảo sát các thư tịch Hán Nôm, chúng tôi tìm thấy bài thơ của Tam Nguyên Yên Đổ mang nội dung và văn từ tương tự, hiện diện dưới ba phiên bản: 1) Quế Sơn thi tập (Viện Nghiên cứu Hán Nôm [VNCHN], ký hiệu: VHv.2154); 2) Tam Nguyên Yên Đổ thi ca (VNCHN, ký hiệu: VNb.40, VNb.46); 3) Quốc văn tùng ký (VNCHN, ký hiệu: AB.383).
Cả ba phiên bản này đều không mang nhan đề Mục hạ vô nhân, mà được sử dụng với những nhan đề khác. Phiên bản trong Quế Sơn thi tập (VHv.2154) khá đáng tin cậy, được hoàn thành sớm nhất vào năm 1915 (chỉ khoảng 8 năm sau khi Nguyễn Khuyến qua đời), chép tay chỉn chu, kèm ghi chú “Thừa sao chính bản” (Vâng sao bản chính) trên bìa sách. Bài thơ xuất hiện với nhan đề Vịnh cổ (Vịnh anh mù), tuân thủ theo cách đặt tên nhiều bài thơ vịnh của Nguyễn Khuyến (Vịnh anh giả điếc, Vịnh mẹ Mốc…), dung lượng ngắn, kết cấu cô đọng.
Hai văn bản Tam Nguyên Yên Đổ thi ca (VNb.40; VNb.46) có nội dung giống nhau và gần như tương đồng với VHv.2154, chỉ tồn tại một số sai dị nhỏ ở bình diện câu chữ. Tuy nhiên, tác phẩm đã được ghi nhan đề là Bài hát xẩm cho thấy vào thời điểm ghi chép văn bản, bài thơ không còn chỉ hiện diện dưới hình thức văn học viết (thơ vịnh) mà đã được lưu hành trong môi trường diễn xướng. Sự chuyển đổi này càng được thể hiện rõ hơn nữa ở Quốc văn tùng ký (AB.383), nơi tác phẩm được ghi tên là Hát xẩm với dung lượng đã được mở rộng đáng kể và gần nhất với bài Mục hạ vô nhân phổ biến ngày nay. Việc gia tăng số câu, mở rộng lớp ngôn từ và bổ sung các chi tiết mang tính trình diễn cho thấy tác phẩm dường như không còn đơn thuần là tiếng nói cá nhân của một nhà nho, mà đã dần chuyển thành tiếng nói cộng đồng, mang dấu ấn của môi trường dân gian và chủ thể diễn xướng xẩm
Sự vênh lệch khá lớn về nhan đề, câu chữ giữa các phiên bản Hán Nôm không chỉ phản ánh những sai dị trong quá trình tác phẩm được lưu truyền qua các văn bản chép tay, mà còn gợi ra khả năng tác phẩm đã liên tục được bồi đắp khi bước vào môi trường diễn xướng. Người đọc đương đại ít biết đến phiên bản bài thơ vịnh, thay vào đó lại quen hơn với một phiên bản đã biến đổi trong quá trình lưu truyền xẩm. Vì vậy, Mục hạ vô nhân cần được nhìn nhận như một “di sản sống”, luôn vận động, tái tạo và tái diễn giải qua nhiều thời đại.
Trước hết, tiềm năng tái triển của Mục hạ vô nhân nằm ngay trong tính “mở” của mỗi phiên bản. Ở phiên bản của một bài thơ vịnh ngắn, tác phẩm này cũng có nhiều cách đọc. Có thể nhìn nhận đây là một bài thơ châm biếm nhẹ nhàng, dí dỏm của Nguyễn Khuyến với một anh chàng mù nhưng vẫn có chút ngông nghênh (Anh nay mục hạ vô nhân), bên trong đa tình, tha thiết (Thấy em xuân sắc mười phân não nùng), nhưng bề ngoài lại ra vẻ đạo mạo, lạnh lùng (Anh cũng có trông đâu nào) để rồi hối tiếc khi ái tình vụt mất (Lấy tay sờ chỗ em ngồi)2. Mặt khác, với lối viết nhập thân vào nhân vật anh mù (không phải lúc nào cũng có trong các bài thơ vịnh của Nguyễn Khuyến), đây còn có thể đọc như một bài thơ tự trào của một cái tôi nhà nho ngạo nghễ, kiêu bạc nhưng cũng ý thức về sự bất toàn, bất lực và giới hạn của chính mình. Cái tôi trong bài thơ giằng xé giữa ý thức của nhà nho truyền thống (cố gắng tự kiểm soát cảm xúc, tự chất vấn, tự giễu) và phẩm chất tài tử (quý trọng nhan sắc). Chính trạng thái mâu thuẫn và lưng chừng này đã làm bật lên tiếng cười trào phúng, cũng đồng thời là sự tự trào. Giọng điệu bài thơ không hoàn toàn nghiêng về phê phán xã hội hay tự vấn cá nhân, mà luôn tồn tại khoảng mờ trong diễn giải. Chính cấu trúc chưa khép kín ấy đã tạo ra những “khoảng trống” cho các chủ thể tiếp nhận về sau tiếp tục lấp đầy.
Ở phiên bản đã được bồi đắp qua quá trình diễn xướng, tính “mở” của tác phẩm nằm trong chính đặc trưng lưu động và linh hoạt của thể loại xẩm. Người nghệ sĩ (theo truyền thống thường là người mù) đi hát khắp các vùng bến đò, chợ, phố xá… - những “sân khấu” được trưng dụng từ không gian công cộng, cởi mở và luôn có thể thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh. Người thưởng thức xẩm có thể là bất cứ ai trên đường, không bị chọn lọc, mang tính ngẫu nhiên, đại chúng. Ca từ của xẩm có thể xuất phát từ một bài thơ của một danh sĩ, hay ca dao dân gian, nhưng luôn có thể được tiếp tục bồi đắp trong quá trình thực hành biểu diễn. Hệ thống làn điệu của xẩm phong phú (tám làn điệu chính)3 được vận hành như những khung cảm xúc linh hoạt, tạo điều kiện cho người nghệ sĩ tự do điều chỉnh tiết tấu, chuyển giọng, đan xen nhiều làn điệu. Những “khoảng trống” của xẩm mời gọi nghệ sĩ lấp đầy bằng kinh nghiệm cá nhân, sự ứng tác tại chỗ và sự tương tác với người nghe. Chính điều này khiến xẩm không bao giờ có một “bản gốc” duy nhất mà luôn tồn tại như một hệ thống với nhiều phiên bản. Mỗi lần biểu diễn là một lần xẩm được viết lại, tạo ra những lớp nghĩa chồng xếp, đồng thời để lại những khoảng trống cho các thế hệ sau tiếp nối. Điều thú vị là nghệ sĩ trình diễn xẩm luôn kể chuyện mình, từ góc nhìn của mình, ngay cả khi đang dùng ca từ của người khác.
Tính linh hoạt và lưu động khiến dù môi trường diễn xướng truyền thống bị đứt gãy, xẩm vẫn có thể bước vào các không gian mới với những biến đổi sáng tạo. Thực tế, chưa cần chờ tới thời kỳ đương đại, mà ngay trong các phiên bản của bài thơ này trong tư liệu Hán Nôm thế kỷ XX, giá trị trọng tâm của tác phẩm đã có sự thay đổi. Phiên bản bài thơ vịnh tập trung vào vấn đề thân phận (dù là châm biếm hay tự trào) và ái tình chỉ là “cái cớ” để bàn luận. Trong khi đó, ở phiên bản bài xẩm dài hơn trong Quốc văn tùng ký, ái tình là vấn đề được nhấn mạnh (Chữ tình là chữ chi chi; Đố ai biết chốn chợ Trời/ Biết ta lên khoắng một vài nàng Tiên). Do nhân vật trữ tình được xác lập là nghệ sĩ hát xẩm mù (đồng nhất với vai trò người hát), yếu tố trào phúng trở nên mờ nhạt, nhường chỗ cho bản tuyên ngôn của người nghệ sĩ (Đến đâu người đứng ta ngồi/ Khi đàn khi hát những người chung quanh)4. Vấn đề trào phúng xã hội trở nên mờ nhạt hơn so với vấn đề tình ái và vấn đề tuyên ngôn nghệ thuật xẩm. Điều đó cho thấy các hệ giá trị trong Mục hạ vô nhân vốn đã có thể rất linh hoạt, di động, không bị cố định và luôn sẵn sàng cho sự tiếp nhận và tái diễn giải trong những ngữ cảnh văn hóa mới. Cũng bởi tính đa giá trị và năng sản này, nên ngay ở vai trò là một tác phẩm âm nhạc truyền thống, Mục hạ vô nhân cũng có tính đại diện rất cao và thường xuyên được chọn trình diễn trong nhiều chương trình lớn về xẩm5.
2. Ca khúc của Soobin và Binz – sức sống mới cho bài xẩm Mục hạ vô nhân
2.1. Vài nét về Soobin, Binz và Mục hạ vô nhân
Soobin tên thật là Nguyễn Huỳnh Sơn, sinh năm 1992. Anh là một nghệ sĩ trẻ nổi bật với hàng loạt ca khúc nổi tiếng và nhiều giải thưởng lớn6. Soobin xuất thân từ gia đình có truyền thống âm nhạc, có cha là NSND Nguyễn Huỳnh Tú - một nhạc sĩ và nghệ nhân nhạc cụ dân tộc, đặc biệt nổi bật với xẩm; ông nội là nghệ sĩ cải lương Nguyễn Huỳnh Tuấn và bà nội là NSƯT Lê Thị Hảo Yến – cựu thành viên của đoàn cải lương tỉnh Thanh Hóa. Bản thân Soobin cũng được tiếp xúc với âm nhạc dân gian từ nhỏ7 . Mặc dù vậy, khi theo đuổi sự nghiệp âm nhạc chuyên nghiệp ở độ tuổi trưởng thành, Soobin bắt đầu với dòng nhạc ballad, trước khi chuyển hướng sang R&B và pop.
Binz tên thật là Lê Nguyễn Trung Đan, sinh năm 1988, là một rapper và ca sĩ kiêm nhạc sĩ. Binz được công chúng biết đến khi bén duyên với dòng nhạc rap và chuyển mình trở thành “gã phong tình”8 của làng rap Việt với những bài hit nổi tiếng về tình yêu. Sự kết hợp giữa Soobin và Binz trong dự án Mục hạ vô nhân không chỉ cho thấy sự giao thoa giữa pop và rap mà còn phản ánh xu hướng của âm nhạc đại chúng đương đại trong việc dung hòa giữa tính thị trường và dấu ấn cá nhân, giữa yếu tố truyền thống và ngôn ngữ âm nhạc hiện đại.
Cả Soobin và Binz đều là thành viên của SpaceSpeakers - một tập thể nghệ sĩ gắn với các dòng nhạc hiện đại như rap, nhạc điện tử... Tuy nhiên, cả hai cũng từng tham gia chương trình Anh trai vượt ngàn chông gai và gây ấn tượng khi thử sức với chất liệu dân gian qua các tiết mục như Trống cơm (Soobin) hay Đào liễu (Binz). Điều này cho thấy việc tìm về chất liệu truyền thống đang trở thành một xu hướng đáng chú ý trong âm nhạc Việt Nam đương đại, thu hút cả những nghệ sĩ có định hướng phát triển âm nhạc rất hiện đại hoặc ảnh hưởng bởi văn hóa Âu - Mỹ9.
Ca khúc Mục hạ vô nhân của Soobin và Binz được tái triển từ bài xẩm cùng tên, giới thiệu lần đầu tới công chúng dưới dạng MV [music video: video ca nhạc], đăng tải trên kênh Youtube Soobin Official của Soobin vào ngày 10/11/2025. NSND Huỳnh Tú - cha của Soobin, cũng là nghệ sĩ đã từng thể hiện rất thành công bài xẩm Mục hạ vô nhân10, được mời tham gia hát câu mở đầu và xuất hiện trong MV. Phần âm thanh do SpaceSpeakers Label phụ trách thu âm và được ê-kíp chuyên nghiệp gồm các nhạc sĩ và nhà sản xuất Lý Sơn, Lý Đan, Cao Vịnh, Tú Ngô và Huỳnh Quang Tuấn tham gia hòa âm, phối khí. Phần hình ảnh được xây dựng dưới bàn tay của đạo diễn Phương Vũ và nhóm sáng tạo Antiantiart - những gương mặt nổi bật thuộc thế hệ đạo diễn trẻ theo đuổi tư duy thị giác giàu tính biểu tượng và siêu thực.
Việc đăng tải MV ca nhạc trên nền tảng Youtube là một lựa chọn phù hợp với xu hướng của ngành công nghiệp âm nhạc đương đại - nơi hình ảnh, âm thanh và tính trình diễn được dàn dựng một cách đồng bộ và chuyên nghiệp, khác với môi trường diễn xướng trực tiếp, tự phát của xẩm truyền thống. Sau đó, ca khúc này còn được biểu diễn thêm nhiều lần ở các sân khấu âm nhạc, chương trình giải trí và các sự kiện nghệ thuật quy mô lớn khác11. Dự án âm nhạc Mục hạ vô nhân do Soobin đóng vai trò chủ đạo là một nỗ lực tìm về truyền thống của những nghệ sĩ trẻ, phù hợp với định hướng và chủ trương của thời đại. Mặt khác, với riêng Soobin, đây cũng là nỗ lực kết nối con đường âm nhạc hiện đại mà anh theo đuổi với con đường âm nhạc của cha mình – NSND Huỳnh Tú.
2.2. Sự chuyển dịch của hình thức thể hiện âm nhạc
Đối chiếu ca từ ca khúc Mục hạ vô nhân của Soobin và Binz với các phiên bản bài thơ trong tư liệu Hán Nôm, có thể dễ dàng nhận ra ca khúc này kế thừa trực tiếp phiên bản xẩm được lưu hành hiện nay (tương tự như bản trong Quốc văn tùng ký), không phải từ bài Vịnh cổ của Nguyễn Khuyến. Điều này thể hiện rõ ở những câu hát được giữ lại gần như nguyên vẹn từ bản xẩm hiện hành nhưng hoàn toàn không xuất hiện trong Vịnh cổ. Chẳng hạn, các câu “Chữ tình là chữ chi chi/ Yêu nhau phải bảo đường đi lối về” trong bản xẩm hiện hành đã được chuyển hóa thành: “Anh không biết được là tình là cái chi chi/ Yêu nhau thì phải bảo đường đi lối về” trong ca khúc của Soobin. Đây đều là những câu không có trong bài Vịnh cổ. Tương tự, hình ảnh người nghệ sĩ (hát xẩm) “Đến đâu người đứng ta ngồi/ Khi đàn khi hát những người chung quanh” của bản xẩm hiện hành cũng được Soobin tái sử dụng gần như trực tiếp qua câu: “Cho tới đâu người đứng ta ngồi, khi đàn khi hát mọi người vây quanh”. Đặc biệt, không khí diễn xướng dân gian của bản xẩm với tiếng đàn, lời ca, sự giao tiếp cùng đám đông cũng được giữ lại trong ca khúc hiện đại, trong khi bài Vịnh cổ ngắn gọn hơn nhiều và chưa mang đậm tính trình diễn như vậy. Tóm lại, không phải bài thơ vịnh của Nguyễn Khuyến, mà chính phiên bản đã được “xẩm hóa” này mới trở thành chất liệu trực tiếp để Soobin và Binz tái triển trong môi trường âm nhạc đại chúng đương đại.
Với ca khúc của Soobin và Binz, Mục hạ vô nhân đã chuyển dịch từ thể loại xẩm sang dòng nhạc pop và rap. Sự khác biệt trong hình thức biểu hiện của hai thể loại âm nhạc truyền thống và hiện đại này là quá rõ ràng và có lẽ không cần đề cập thêm. Song điều thú vị là giữa chúng lại có những bắt nối ở tầng sâu.
Trước hết, cả xẩm và rap đều là những hình thức âm nhạc gần với điệu nói, nơi ngôn từ giữ vai trò trung tâm. Nếu xẩm là hình thức kể chuyện bằng hát nói, thì rap cũng là một dạng kể chuyện bằng nhịp điệu. Cả hai thể loại âm nhạc này đều tạo điều kiện để các nội dung mang tính tự sự, châm biếm, hay phản ánh xã hội được chuyển tải trực tiếp và linh hoạt. Thứ hai, cả xẩm và rap đều mang tính trình diễn và ứng tác cao. Trong xẩm, nghệ nhân có thể điều chỉnh ca từ, cách nhả chữ, thậm chí nội dung để phù hợp với hoàn cảnh và người nghe. Tương tự, rap cho phép nghệ sĩ biến đổi flow12, cách gieo vần, nhấn nhá nhịp điệu để tạo dấu ấn cá nhân. Những yếu tố này khiến xẩm và rap đều không hoàn toàn cố định mà luôn mở ra khả năng biến đổi qua từng lần thể hiện. Thứ ba, cả xẩm và rap đều là những hình thức âm nhạc gắn với đời sống và có thế mạnh trong việc phản ánh xã hội. Xẩm truyền thống đề cập tới những vấn đề thân phận, bất công qua giọng điệu trào phúng; rap hiện đại cũng thường khai thác các vấn đề cá nhân và xã hội qua ngôn ngữ phản ánh, lên án trực diện. Thứ tư, cả xẩm và rap đều hướng tới việc thể hiện câu chuyện cá nhân, cá tính. Cái tôi và câu chuyện của người trình diễn hai thể loại này là nội dung trung tâm. Thứ năm, nếu xẩm gắn với không gian trình diễn công cộng, rộng lớn, thì rap cũng gắn với không gian đô thị và đời sống với nhiều va chạm. Nhìn chung, dù khác nhau về bối cảnh và ngôn ngữ biểu đạt, song có thể thấy rap vẫn đảm bảo những chức năng mà xẩm thực hiện: dùng ca từ và nhạc điệu/nhịp điệu như một cách can thiệp vào đời sống và tự sự. Sự chuyển đổi từ xẩm sang pop - rap vì thế không phải là một sự đứt gãy hoàn toàn mà là một dạng tái mã hóa, để những nguyên lý cốt lõi của xẩm được chuyển dịch sang một thể loại âm nhạc mới. Chính nhờ những điểm tương đồng này mà Mục hạ vô nhân có thể được tái tạo trong ngôn ngữ đương đại mà vẫn giữ được một phần “tinh thần” của hình thức nguyên thủy.
Tuy nhiên, với một nền tảng sản xuất và tiêu thụ âm nhạc mới, ca khúc của Soobin và Binz không chỉ được thể hiện qua bản thu âm (audio) mà còn qua hình ảnh (MV). Từ xẩm tới pop và rap, Mục hạ vô nhân dịch chuyển không gian trình diễn từ không gian công cộng mang tính vật lý thành nền tảng công cộng trên Internet. MV Mục hạ vô nhân đã trình hiện một không gian thị giác mang đầy tính biểu tượng, nơi các yếu tố tự trào của bài xẩm gốc được chuyển hóa thành những hình ảnh thị giác ấn tượng. Ngay ở phần mở đầu, matchcut gồm chiếu cói, mảnh gốm và quán nước không chỉ có chức năng tả thực mà còn vận hành như những ký hiệu văn hóa cô đọng, gợi lại không gian diễn xướng của xẩm trong đời sống dân gian. Tuy nhiên, trên nền tảng ấy, MV nhanh chóng chuyển sang một hệ biểu đạt khác - nơi trào phúng không còn tồn tại dưới dạng hàm ẩn mà trở thành nguyên lý tổ chức xuyên suốt. Hình tượng “thầy bói giả mù” là trung tâm của cơ chế này: nghịch lý “mù nhưng nhìn thấy tất cả” không chỉ tạo hiệu ứng gây cười mà còn mang ý nghĩa phê phán, chỉ ra một kiểu người giả vờ ngờ nghệch để thao túng và trục lợi trong xã hội. Nếu xẩm dân gian từng làm mờ đi tính trào phúng, châm biếm xã hội trong bài vịnh của Nguyễn Khuyến thì với MV Mục hạ vô nhân, yếu tố đó trở lại khá đậm đặc. Đặc biệt, MV sử dụng hệ thống hình ảnh siêu thực (ô tô trên mái nhà, con người bị diều kéo bay…) như một dạng “nói ngược” hiện đại, mô phỏng lối nói ngược của dân gian. Sự đảo lộn logic này trình hiện những nghịch lý của đời sống đương đại - nơi các giá trị bị tráo đổi và chuẩn mực trở nên bất ổn. Đồng thời, quá trình cụ thể hóa ẩn dụ (như hình tượng người cá từ thành ngữ “bắt cá hai tay”, hay ve sầu thoát xác như một ẩn dụ về sự “đeo mặt nạ” xã hội) cho thấy sự chuyển đổi từ biểu tượng ngôn từ sang biểu tượng thị giác, làm tăng khả năng nhận diện và cường độ trào phúng. Toàn bộ MV vì thế vận hành như một hệ thống dựa trên ba nguyên lý: cụ thể hóa - phóng đại - đảo ngược, tái cấu trúc trường nghĩa của tác phẩm.
2.3. Sự chuyển dịch trong ý nghĩa tác phẩm
Nếu ở Vịnh cổ của Nguyễn Khuyến, tiếng cười chủ yếu xuất phát từ nghịch cảnh của nhân vật “mục hạ vô nhân” - nhìn mà như không nhìn, yêu mà bất lực, thì đến phiên bản xẩm được văn bản hóa lại trong Quốc văn tùng ký, câu chuyện đã được mở rộng thành hai lớp nghĩa song song: chuyện tình ái của một nhân vật nam si tình và lời tự sự của người nghệ sĩ hát rong. Hai tuyến này không tách rời mà đan cài vào nhau, bởi người hát xẩm cũng chính là kẻ đang yêu, đang lưu lạc và đang sống bằng tiếng hát của mình giữa chốn đông người. Những câu như: “Đến đâu người đứng ta ngồi/ Khi đàn khi hát những người chung quanh” hay “Tới nơi những chốn thị thành/ Đôi bên hàng phố đắp danh đón mời” cho thấy bài xẩm không chỉ kể chuyện tình mà còn kể về thân phận người nghệ sĩ dân gian: vừa biểu diễn mua vui cho thiên hạ, vừa mang theo một trạng thái độc hành (nhưng chưa chắc đã cô độc).
Phiên bản của Soobin và Binz tiếp nối trực tiếp tuyến tình ái ấy nhưng đồng thời tái cấu trúc nó theo logic của văn hóa đại chúng. Ca khúc mở đầu bằng lời hát của Huỳnh Tú: “À đố ai lên chốn chợ Trời/ Dẫn anh lên khoắng một vài ả nàng tiên” trong bài xẩm truyền thống như một sự bắt nối liền mạch với di sản. Toàn bộ ca khúc được neo lại bởi sự lặp đi lặp lại của cụm “cái tình là cái chi chi” - một biến thể từ câu “Chữ tình là chữ chi chi” trong bản xẩm. Việc lặp đi lặp lại cụm từ này khiến “tình” trở thành trung tâm cảm xúc của bài hát, nhưng đồng thời cũng cho thấy trạng thái bất định của nhân vật nam trước tình yêu: theo đuổi ái tình càng rơi vào mê lộ - “Phận người như treo trên cây/ Tình thì bên Đông bên Tây”.
Điều này khiến nhân vật nam trong ca khúc vẫn giữ được tinh thần của hình tượng bài xẩm “mục hạ vô nhân”: tưởng chừng ngạo nghễ, tự chủ, nhưng thực chất lại không thể nhìn thấu và không có quyền tự quyết trong ái tình. Hình tượng nam giới trong phiên bản Soobin tiếp tục mang dáng dấp của kẻ si tình tài tử, có phần ngông nghênh nhưng thực chất luôn ở thế bị động. Những câu như “Anh không thấy nhưng anh nghe”, “Anh mặc thế sự”, hay “Anh chỉ là một người mua vui” vừa gợi trực tiếp nghĩa đen của “mục hạ vô nhân”, vừa cho thấy một chủ thể đứng bên lề đời sống, dường như nhìn thấu mọi thứ nhưng lại không thể thay đổi hay nắm giữ điều mình mong muốn. Đặc biệt, cụm “người mua vui” là một chi tiết quan trọng, bởi nó nối trực tiếp với thân phận người nghệ sĩ hát xẩm trong bản cũ - người tồn tại bằng việc biểu diễn cho đám đông, nay vẫn có thể chuyển nghĩa như một lời tự trào của nghệ sĩ hiện đại. Tuy nhiên, nếu ở bài xẩm, người nghệ sĩ còn giữ được khoảng cách, thì trong phiên bản hiện đại, nhân vật nam dường như bị cuốn hoàn toàn vào cuộc chơi tình cảm. Anh theo đuổi người phụ nữ trong trạng thái gần như vô vọng: “Anh mặc nắng mưa dầm dề muôn lối vẫn đi tìm em”, “Yêu em anh thề non thề nước/ Vượt đèo lội suối cho nhau”. Tình yêu ở đây không còn là một duyên tình lỡ dở chua chát nhẹ nhàng kiểu dân gian mà đã mang màu sắc si mê, ám ảnh của tình yêu phù hợp với thị hiếu đại chúng hiện đại.
Sự thay đổi mạnh nhất nằm ở hình tượng nữ giới. Trong Vịnh cổ hay bản xẩm, người phụ nữ chủ yếu được phác qua vài nét mang tính ước lệ như “má phấn môi hồng”, “nhan sắc”, vẫn thuộc kiểu hình tượng quen thuộc của văn học trung đại và dân gian. Nhưng ở phiên bản của Soobin và Binz, nhân vật nữ đã trở thành trung tâm tuyệt đối của trò chơi tình ái. Ngay phần mở đầu, cô hiện lên như một “hot girl”, “yêu kiều như công chúa”, xuất hiện trong không gian nightlife13 hiện đại: “Đêm thì hay về khuya, môi thì trôi cả son, áo thì quên cài cúc”. Người phụ nữ được miêu tả như chủ thể điều khiển cuộc chơi cảm xúc của những người đàn ông khác: “Nơi nào vui em mới vào”, “Ai cũng biết em đùa ong vờn bướm”, “Em thì trót quên lời thề”. Nếu nhân vật nam vẫn mang tinh thần tài tử si tình của bản xẩm thì nhân vật nữ lại được tái cấu trúc theo hình mẫu nữ giới thời thượng của văn hóa đại chúng - quyến rũ, tự do và làm chủ cuộc chơi. Điều này khiến quan hệ tình ái trong ca khúc không còn là duyên phận dân gian hồn nhiên mà trở thành trò chơi cảm xúc đầy bất ổn của đời sống hiện đại. Sự khắc họa của Soobin và Binz trong ca khúc Mục hạ vô nhân đưa nhân vật nữ vào trung tâm cùng với nhân vật nam và phần nào có thêm nhiều “quyền lực”, song vẫn là hình tượng nữ giới nhìn qua lăng kính của những nam nghệ sĩ, với mê lực tỏa ra từ lối sống phóng khoáng và những chi tiết dục tính.
Trong khi đó, tuyến nghĩa về người nghệ sĩ hát xẩm không biến mất mà chuyển sang bình diện trình diễn và hình ảnh. Những câu như “Đường xa mà dắt díu đi về có đôi/ Cho tới đâu người đứng ta ngồi khi đàn khi hát mọi người vây quanh” được giữ lại gần như nguyên vẹn từ bản xẩm, cho thấy ca khúc vẫn duy trì ký ức về không gian diễn xướng dân gian. Tuy nhiên, nếu trong bài xẩm, đó là hình ảnh của người hát rong giữa chợ đời, thì trong MV, nó trở thành hình ảnh của nghệ sĩ đại chúng giữa nền công nghiệp giải trí: ánh đèn, sân khấu, đám đông và cơ chế trình diễn hình ảnh. Sự chuyển dịch này cho thấy “tuyên ngôn nghệ sĩ” của bài xẩm đã được tái mã hóa từ thân phận người hát rong sang ý thức về bản sắc nghệ sĩ trong văn hóa pop và hiphop.
Điều đáng chú ý là chính trong quá trình tái triển ấy, phiên bản của Soobin và Binz lại làm nổi bật hơn yếu tố châm biếm vốn chưa thật rõ trong bài xẩm. Hình tượng “thầy bói giả mù”, những không gian siêu thực và trạng thái đảo lộn logic trong MV tạo nên cảm giác về một thế giới nơi con người vừa giả vờ không thấy, vừa bị cuốn vào các trò chơi tình ái, danh vọng và trình diễn. Nhân vật nam mở đầu bằng khát vọng “khoắng một người nàng Tiên”, nhưng càng theo đuổi càng trở nên lạc lối. Vì thế, đoạn kết với lời nhắc “ăn ở cho lành” của NSND Tự Long không chỉ là yếu tố gây cười dân gian mà còn bổ sung thêm một tầng nghĩa giáo huấn cho tác phẩm - điều thực ra chưa có (hoặc chưa đậm nét) trong cả bài vịnh của Nguyễn Khuyến và phiên bản xẩm. Từ một câu chuyện si tình mang tính tự trào, Mục hạ vô nhân trong ca khúc của Soobin và Binz đã được mở rộng thành một cái nhìn trào phúng về đời sống đương đại - nơi con người vừa khao khát yêu thương, vừa mắc kẹt trong những mê lộ của dục vọng, trình diễn và ảo ảnh trong một thế giới, xã hội liên tục xoay vần.
Sự lan tỏa của Mục hạ vô nhân cho thấy một xu hướng đáng chú ý của văn hóa đương đại: giới trẻ đang quay lại với âm nhạc truyền thống không phải để phục dựng nguyên trạng mà để tái diễn giải, hồi đáp và đối thoại với nó bằng ngôn ngữ thẩm mĩ mới. Giống như hình ảnh những bàn tay hiện đại ghép các mảnh sành thành dòng chữ Mục hạ vô nhân ở mở đầu MV, truyền thống không tồn tại như một khối nguyên vẹn của quá khứ mà được thế hệ hiện tại chủ động thu thập, kết nối và tái tạo. Khi xẩm bước vào pop, rap và không gian số, di sản không còn là “ký ức bảo tàng” mà trở thành chất liệu sống cho sáng tạo đương đại. Di sản không được bảo tồn bằng cách giữ nguyên hình hài cũ, mà là kéo dài đời sống của truyền thống bằng khả năng thích ứng và tái mã hóa liên tục, hướng tới hiện tại và tương lai.
3. Kết luận
Nỗ lực tiếp nối và tái triển của Soobin và Binz đối với bài xẩm Mục hạ vô nhân cho thấy di sản văn hóa không bất biến mà luôn vận động và tái sinh theo chủ thể sáng tạo và bối cảnh tiếp nhận. Chính tính mở của các phiên bản bài thơ kể từ bài vịnh của Nguyễn Khuyến, loại hình xẩm, cùng sự đa dạng của cái tôi nghệ sĩ đã tạo điều kiện để tác phẩm được tái sinh trong những hình thức mới mà vẫn giữ được tinh túy, hồn cốt của những giá trị truyền thống. Từ văn học viết đến môi trường diễn xướng dân gian rồi âm nhạc đại chúng, tác phẩm liên tục được chuyển mã để phù hợp với bối cảnh và thị hiếu mới. Phiên bản hiện đại như của Soobin và Binz không chỉ kế thừa mà còn mở rộng ý nghĩa, chứng minh sức sống bền bỉ của truyền thống trong đời sống đương đại ngày nay. Sự tái mã hóa này cũng nhắc nhở rằng việc phát huy di sản cần đi kèm với ý thức về sự cân bằng: vừa sáng tạo để phù hợp với thời đại, vừa giữ gìn những giá trị nền tảng để truyền thống không bị mai một hay hòa tan mà tiếp tục cộng hưởng, lan tỏa trong đời sống đương đại14.
Chú thích:
*, **, *** Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
1 Vấn đề này cần có một bài nghiên cứu riêng để thảo luận; ở đây, chúng tôi tạm đưa ra một số kết luận chính.
2 Quế Sơn thi tập, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu: VHv.2154, tờ 36b.
3 Trần Việt Ngữ, Hát Xẩm (2011), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
4 Quốc văn tùng ký, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu: AB.383, tờ 202a-b.
5, 10 Video Mục hạ vô nhân – Di sản kể chuyện (2024), Đài Truyền hình Hà Nội, Youtube; Video Hát Xẩm “Mục Hạ Vô Nhân” – Festival Ninh Bình lần thứ III (2024), Youtube.
6 Trong năm 2025, anh đạt được ba giải thưởng Cống hiến: Nam ca sĩ của năm, Album của năm và Music Video của năm. Trong năm 2026, anh tiếp tục đạt được 3 giải Cống hiến: Nam ca sĩ của năm, Chương trình của năm, Music Video của năm do Báo Thể thao và Văn hóa trao tặng.
7 Soobin có khả năng chơi nhiều nhạc cụ, nổi bật nhất là đàn bầu, piano, organ và guitar.
8 Hà Thu (11/9/2020), “Binz - “gã phong tình” của làng Rap Việt (2020)”,Vnexpress: https://vnexpress.net/binz-gaphong-tinh-cua-lang-rap-viet-4160472.html.
9 Những nghệ sĩ nổi bật theo đuổi hướng đi này phải kể đến Hoàng Thùy Linh với loạt bài Bánh trôi nước (2019), Tứ phủ (2019), Em đây chẳng phải Thúy Kiều (2019)... và nhóm sản xuất âm nhạc DTAP với phong cách “folktronica” – kết hợp nhạc điện tử hiện đại và chất liệu dân gian.
11 Ca khúc Mục hạ vô nhân được trình diễn trong chương trình Hoa Xuân ca 2026 phát sóng trên các kênh Đài Truyền hình Việt Nam nhân dịp đầu xuân năm 2026. Bên cạnh đó, ca khúc cũng xuất hiện trong Soobin Live Concert 2025 tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần tạo dấu ấn cho không gian âm nhạc mang màu sắc đương đại kết hợp yếu tố truyền thống. Ngoài sân khấu biểu diễn chuyên nghiệp, Mục hạ vô nhân còn được đưa vào tour Xẩm đến trường 2025 như một nỗ lực lan tỏa và đưa nghệ thuật xẩm đến gần hơn với giới trẻ.
12 Flow trong rap là nhịp điệu, cách rapper ngắt nghỉ, nhấn nhá và đưa lời rap vào nền nhạc một cách mượt mà.
13 Nightlife (cuộc sống về đêm) bao gồm các hoạt động giải trí từ tối muộn đến sáng sớm như bar, club, pub, live music và karaoke.
14 Bài viết nhận được nhiều góp ý quý báu của TS. Trịnh Thùy Dương. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn cô!