TRANG TRÍ TRÊN ĐẠI HỒNG CHUNG TẠI CÁC QUỐC TỰ Ở THÀNH PHỐ HUẾ*

Trên cơ sở phân tích đặc điểm hình thái và nghệ thuật trang trí trên đại hồng chung tại ba quốc tự thời Nguyễn ở Huế, gồm Thiên Mụ, Diệu Đế và Thánh Duyên, bài viết khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa, mĩ thuật của các di sản này, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo tồn di sản Phật giáo đặc thù của cố đô.

   Huế, từ lâu đã được xem là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của Việt Nam, nơi tập trung mật độ chùa chiền cao và giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cư dân xứ Thuận Hóa – Phú Xuân. Đại Nam thực lục chia chùa ở Huế thành chùa công và chùa dân. Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm xác định các quốc tự bao gồm Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên và Giác Hoàng. Tuy nhiên, chùa Giác Hoàng bị hư hại nặng và đến tháng 3 năm 1885 thì bị triệt giải theo chủ trương thu hẹp các kiến trúc không còn công năng của triều đình. Tác giả Hà Xuân Liêm cũng đề cập đến các quốc tự mà theo ông là Thiên Mụ, Diệu Đế và Thánh Duyên. Trong Phật giáo, đại hồng chung là chuông có kích thước lớn, giữ vai trò là một pháp khí quan trọng sử dụng trong các nghi lễ. Tại các chùa vua (quốc tự) - những cơ sở Phật giáo trực tiếp nhận sự bảo trợ của triều đình - chuông thường được đúc với kích thước lớn và trang trí công phu. Những đặc điểm này phản ánh vai trò của chuông không chỉ sử dụng trong nghi lễ mà còn thể hiện uy nghi, ước vọng của triều đình, cũng như sự kết hợp giữa quyền lực chính trị và niềm tin tôn giáo trong bối cảnh văn hóa triều Nguyễn. Bài viết này tập trung khảo cứu các đại hồng chung tại các chùa Thiên Mụ, Diệu Đế và Thánh Duyên. Mục tiêu của bài viết là làm rõ đặc điểm hình thái, bố cục trang trí cũng như giá trị của chuông trong đời sống nghi lễ cung đình và Phật giáo với mong muốn góp phần bổ sung tư liệu cho việc hiểu rõ hơn về mĩ thuật Phật giáo triều Nguyễn; khẳng định giá trị của các di sản vật thể này trong kho tàng di sản văn hóa Huế.

   Nghiên cứu được triển khai trên cơ sở tiếp cận liên ngành của mĩ thuật học, kết hợp các tri thức và phương pháp của lịch sử học, văn hóa học, biểu tượng học, mĩ học và triết học. Cách tiếp cận này cho phép nhận diện đối tượng nghiên cứu không chỉ trong phạm vi hình thức nghệ thuật mà còn trong bối cảnh lịch sử – văn hóa, ý nghĩa biểu tượng và hệ giá trị tư tưởng chi phối quá trình tạo tác. Bên cạnh đó, nghiên cứu được tiến hành thông qua khảo sát điền dã tại ba di tích quan trọng: chùa Thiên Mụ (Hương Hòa, Huế), chùa Diệu Đế (đường Bạch Đằng) và chùa Thánh Duyên (núi Túy Vân, Huế). Công tác điền dã bao gồm chụp ảnh, đo đạc, mô tả hiện vật nhằm thu thập dữ liệu trực tiếp về hình thái, kích thước, cấu trúc và đặc điểm mĩ thuật của các hồng chung tại các quốc tự. Ngoài nguồn tư liệu tại chỗ, đề tài còn sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu thông qua việc khai thác các sử liệu quan trọng như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí và một số thư tịch liên quan. Các tư liệu này cung cấp thông tin về niên đại thành lập, bối cảnh lịch sử, vị trí địa lý và vai trò của các chùa, đồng thời làm căn cứ để xác định sự khác biệt của các ngôi quốc tự so với các chùa khác trong khu vực. Với kết quả thu thập được, nghiên cứu áp dụng phương pháp so sánh nhằm đối chiếu đặc điểm hình thức, kỹ thuật và phong cách của các hồng chung tại ba quốc tự với nhau, đồng thời so sánh với hồng chung của một số chùa khác trong vùng. Phương pháp này giúp làm rõ những điểm giống nhau, khác nhau và đặc trưng riêng của hệ thống hồng chung trong các quốc tự triều Nguyễn.

   1. Về các hồng chung và trang trí trên hồng chung các chùa Thiên Mụ, Thánh Duyên và Diệu Đế

   Cùng với việc xây chùa là đúc chuông. Những chiếc hồng chung ở các ngôi quốc tự có sự khác biệt rõ rệt về kích thước và cân nặng so với những ngôi chùa khác, đặc biệt là chuông lớn chùa Thiên Mụ và chuông lớn chùa Diệu Đế. Chùa Thiên Mụ “chính giữa mặt trước là nghi môn, trên cửa có lầu, tả là lầu chuông, hữu là lầu trống. Ngoài cửa lầu phía tả là nhà sáu góc, dựng bia, phía hữu là lầu sáu góc, treo chuông lớn, xung quanh xây tường gạch, có 8 cửa.”… “Hiển Tông năm Canh dần thứ 19 đúc chuông lớn”. Theo tư liệu điền dã, chùa Thiên Mụ hiện nay có hai đại hồng chung, một chiếc được đúc thời chúa Nguyễn Phúc Chu đang treo ở nhà chuông phía bên phải, một chiếc được đúc thời vua Gia Long được treo trên lầu chuông phía bên trái cổng tam quan. Đại hồng chung thứ nhất của chùa Thiên Mụ được đúc vào năm 1710, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, có chiều cao 240cm, đường kính miệng chuông 140cm. Quai chuông cao 52cm, hình bồ lao liền thân, hình khối chắc khỏe, có nhiều u xoắn ốc, giữa thân bồ lao là một khối hình búp sen nhiều cánh. Phần vai chuông chia thành bốn vành: vành thứ hai có bốn cụm chấm tròn, vành thứ ba có dải họa tiết liên đằng, vành thứ tư có hai cặp rồng - phượng cùng các hình quả đào, giọt nước. Thân chuông hàng ngang phía trên trang trí tám chữ Thọ theo tám cách viết khác nhau, trên có dải vân khí. Dưới các chữ Thọ là dải hồi văn chữ S chạy quanh chuông. Ở bốn ô lớn bên dưới có các chữ: “Quốc chúa Đại Việt Nguyễn Phúc Chu, đời thứ 30 dòng thiền Tào Động, đúc hồng chung nặng 3.285 cân, phụng cúng chùa Thiên Mụ, vĩnh viễn cúng phụng Tam Bảo”, cùng dòng chữ “Năm Vĩnh Thịnh thứ tư (1710), tháng 4 năm Canh Dần, ngày Phật đản kính tạo” và bài kệ gióng chuông. Chuông có bốn núm chuông tròn, bao quanh núm chuông là họa tiết vân long, các cụm mây cuộn vào nhau, hai bên hướng ra như hình đầu rồng. Dưới các núm chuông là tám quẻ bát quái. Dưới các quẻ bát quái là tám bát bửu với gươm, đèn lồng, ống sáo, đàn nguyệt, bút lông, bầu rượu, phách, quạt. Sát với vành chuông có một đường ngang trang trí các chấm tròn nhỏ. Vành chuông hơi khum, trang trí các dải thủy ba (sóng nước). Đại hồng chung thứ hai của chùa Thiên Mụ được đúc vào thời Gia Long, cao 175cm, đường kính miệng chuông 107cm. Quai chuông cao 35cm, là một cặp bồ lao liền thân, các nét tạo hình mềm mại, hình khối chắc khỏe, giữa hai thân bồ lao có khối hình búp sen đầu tròn, nhẵn. Vai chuông có một chuỗi họa tiết trang trí hình lá đề. Phần thân chuông phía trên có tám chữ Thọ theo tám cách viết khác nhau trên dải vân khí, dưới có một hàng hồi văn chữ S chạy quanh thân chuông. Ở phần dưới có các ô lớn với bốn góc trang trí bốn cánh dơi, giữa có chữ: “Năm Gia Long thứ 14 Ất Hợi (1815), chú tạo vào ngày tốt đầu thu, cúng tại chùa Thiên Mụ”. Chuông có bốn núm đánh chuông tròn, xung quanh có trang trí mây lửa, nối giữa các núm chuông là tám quẻ bát quái. Bên dưới có bốn cặp rồng theo mô-típ lưỡng long chầu nhật. Phần nối giữa thân chuông và vành chuông là một dải vân hoa cuộn. Vành chuông trang trí họa tiết thủy ba. Chùa Thánh Duyên có một đại hồng chung đang treo ở bên trái chánh điện, được đúc năm Minh Mệnh thứ 17 (1836). Về mặt tư liệu, chúng tôi còn thấy có một chiếc chuông lớn được đúc năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), xét về mặt trang trí tương tự với chuông được đúc năm 1836, tuy nhiên do không tiếp xúc được với hiện vật nên chúng tôi không đưa vào đây. Chuông chùa Thánh Duyên cao 125cm, đường kính miệng chuông 70cm. Quai chuông là cặp bồ lao chung thân, khối to, đường nét tròn trịa. Phần giữa có một khối tròn hình búp sen, không chia cánh. Vai chuông tròn, không có họa tiết trang trí. Thân chuông thẳng, tổng thể chuông có hai dải trang trí vân hoa cuộn ở vị trí phía trên thân chuông và vị trí giữa thân chuông và vành chuông. Chùa Diệu Đế có hai chiếc chuông, một chiếc treo ở nhà chuông phía bên trái, một chiếc treo ở lầu chuông phía sau nhà chuông.

   Đại hồng chung thứ nhất chùa Diệu Đế được Đại Nam thực lục chính biên ghi lại: “Thiệu Trị năm thứ 6 [1846]” “Đúc chuông to ở chùa Diệu Đế (chuông cao 4 thước, 4 tấc, nặng hơn 3900 cân)”… “Sai làm gác chuông, nhà bia ở trước chùa. Lại vì chuông mới đúc xong, làm đàn chay lớn 7 ngày đêm”. Theo số liệu khảo sát, chuông cao 230cm, đường kính miệng chuông 137cm. Phần quai chuông tạo hình bồ lao liền thân, tạo hình dữ tợn, đầu ngẩng lên, thân có nhiều u xoắn ốc. Giữa phần nối hai thân có một khối hình hồ lô, thắt lưng hồ lô có tạo hình các cánh hoa sen. Vai chuông vuông, khắc hình nhị thập bát tú, giữa có bốn cụm mây nhỏ. Phần thân chuông phía trên có bốn cụm đại tự lớn, dưới các đại tự là dải hồi văn hình chữ T. Giữa thân chuông có bài ký và hai hình con dấu mô phỏng lại con dấu Hoan phụng ngũ đại đồng đường nhất thống Thiệu Trị chi bảo và con dấu Hàn Mặc chi bảo. Đây là hai con dấu đánh dấu sự đặc biệt, với Hoan phụng ngũ đại đồng đường nhất thống Thiệu Trị chi bảo được khắc kỷ niệm ngày đích tôn của vua Thiệu Trị được sinh ra, tính từ Thái Hoàng Thái Hậu đến lúc đó có năm thế hệ chung sống. Con dấu Hàn Mặc chi bảo được dùng cho những bài văn thơ do chính nhà vua tự mình sáng tác. Hàng dưới có bốn núm chuông, xung quanh núm là các đám vân mây xoắn. Giữa các núm chuông là dải hồi văn hình chữ T. Sát với vành chuông có bốn mươi tám chữ lớn. Vành chuông loe rộng, trên trang trí họa tiết thủy ba cùng các cây cối hoa cỏ. Đại hồng chung thứ hai của chùa Diệu Đế (nhỏ hơn) được đúc vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), cao 127cm, đường kính miệng chuông 69cm. Quai chuông là cặp bồ lao nối liền thân, khối chắc khỏe, giữa thân có hình búp sen, quanh có các cánh sen bao bọc. Vai chuông tròn, trên có bốn chữ Địa, Thủy, Hỏa, Phong. Trên thân chuông sát phía trên và phía dưới có hai dải vân hoa cuộn chạy quanh. Chuông có bốn núm chuông, xung quanh núm có hai dải mây lửa, đầu lửa kéo dài, nhọn, ngang qua hai bên.

   Qua khảo sát, chúng tôi thấy hệ thống chuông ở các chùa Thiên Mụ, Thánh Duyên và Diệu Đế có nhiều điểm tương đồng về bố cục chung nhưng lại thể hiện những sắc thái thẩm mĩ khác nhau. Về kích thước, chuông Thiên Mụ và chuông lớn Diệu Đế đều thuộc loại đại hồng chung với kích cỡ lớn, tạo dấu ấn quan trọng trong tổng thể kiến trúc. Trong khi đó, chuông Thánh Duyên và chuông nhỏ Diệu Đế có kích thước khiêm tốn hơn. Tuy khác nhau về kích thước, cả ba hệ thống chuông đều sử dụng kiểu quai “Bồ lao liền thân, búp sen”, cho thấy sự thống nhất trong truyền thống đúc chuông thời Nguyễn. Sự khác biệt nổi bật nhất nằm ở hệ thống họa tiết trang trí trên vai chuông và thân chuông. Chuông Thiên Mụ có mức độ trang trí phong phú và cầu kỳ hơn, từ liên đằng, rồng phượng đến chữ Thọ, bát quái và bát bửu, thể hiện phong cách mĩ thuật đa tầng và giàu biểu tượng. Trái lại, chuông Thánh Duyên thể hiện xu hướng giản lược, hầu như không có họa tiết ở vai chuông và chỉ sử dụng văn hoa cuộn nhẹ nhàng trên thân, tạo cảm giác thanh thoát và tiết chế. Chuông Diệu Đế, đặc biệt là chuông lớn, mang sắc thái trang nghiêm và chính thống với các họa tiết nhị thập bát tú, hồi văn, bài ký và niên hiệu Thiệu Trị, thể hiện rõ tính chất của một ngôi Quốc tự dưới triều đình. Ở núm chuông và vành chuông, chùa Thiên Mụ sử dụng vân long và thủy ba tạo cảm giác mạnh mẽ, linh động; Thánh Duyên thiên về văn hoa mềm mại; trong khi Diệu Đế kết hợp từ văn cuộn đến cảnh giới núi non cây cối, cho thấy sự tinh tế và chú trọng đến yếu tố biểu tượng.

   2. Ý nghĩa của các trang trí

   Những chiếc chuông chùa được kể trên, bởi vị thế của chùa và những chiếc chuông được các vị vua, chúa triều Nguyễn chuẩn đúc, có thể thấy sự khác biệt qua các chi tiết trang trí dày đặc và tinh xảo. Các hình tượng mang tính biểu tượng thể hiện ước vọng, khát vọng của vương triều cũng như chính các bậc đế vương. Ngoài ra trên chuông còn có những từ ngữ, dấu hiệu cho thấy sự khẳng định vị thế, chủ quyền của một triều đại.

   2.1. Trang trí linh vật

   Bồ lao là một trong chín con của rồng, thích gầm rú. Hình tượng bồ lao đặt trên chuông vừa tăng tính mĩ thuật cho quai chuông, vừa mang ước vọng về tiếng chuông vang xa.

   Tứ linh: Các trang trí rồng, phượng, lưỡng long chầu nhật trên hai chiếc chuông chùa Thiên Mụ hiển thị sự cân bằng âm dương cũng như ước vọng về sự may mắn, quyền lực, tôn quý, thịnh vượng và hạnh phúc7.

   Dơi: Đồng âm với chữ “Phúc”, là biểu tượng của sự may mắn, tốt lành. Trên các chuông, dơi thường chỉ xuất hiện dưới dạng trang trí ở góc và thường được đơn giản hóa đến mức tối đa8.

   2.2. Trang trí thực vật

   Trên các chuông có hệ trang trí thực vật phong phú với sen, liên đằng và các loại thực vật khác. Trong Phật giáo, sen mang nhiều ý nghĩa, đó là sự thuần khiết, sinh hóa và đản sinh thiêng liêng, tượng trưng cho Bồ đề, chí thiện, đồng thời là biểu tượng của trí tuệ và minh triết9. Hầu hết các chuông đều có hình búp sen ở trên quai chuông, ngay vị trí giao nhau của thân bồ lao. Liên đằng là loại dây leo, hoa lá nối dài, mang ý nghĩa về sự bất tận, cát tường10. Triền chi, vân hoa cuộn: Các cuộn hoa lá với phần thân là những đường cong xoắn, nối nhau theo nhịp, lặp đi lặp lại. Trên đó có các dây leo, lá và hoa lồng vào nhau thành các dải, thường là mẫu đơn hoặc hoa cúc. Chúng mang ý nghĩa về sự sinh sôi nảy nở, sự tuần hoàn lặp lại của vũ trụ cùng ước nguyện về phúc, thọ11. Cây cối hoa lá được đúc trên vành chuông lớn chùa Diệu Đế, kết hợp với họa tiết thủy ba, mây núi, tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở và giang sơn gấm vóc.

   Trên chuông chùa Thiên Mụ đúc thời chúa Nguyễn Phúc Chu còn có motif quả đào với ý nghĩa về sự trường thọ, sinh sôi12.

   2.3. Trang trí bát bửu và tám quẻ bát quái

   Bát bửu: Trên chuông đồng Phật giáo là hệ thống các biểu tượng linh thiêng mang ý nghĩa cát tường, hộ pháp và bảo vệ Phật pháp. Khi xuất hiện trên hồng chung, bát bửu không chỉ làm tăng giá trị thẩm mĩ mà còn thể hiện sự bảo hộ, đồng thời nhắc nhở người tụng niệm về những giá trị đạo đức, trí tuệ và công đức trong giáo lý Phật giáo. Sự hiện diện của bát bửu góp phần biến chuông trở thành pháp khí hoàn chỉnh, vừa là vật dụng trong nghi lễ, vừa là biểu tượng thể hiện ước vọng13. Tám quẻ bát quái: Thể hiện nguyên lý vũ trụ, âm – dương và sự biến hóa của tự nhiên theo quan niệm Á Đông. Khi được kết hợp trong trang trí chuông, bát quái có vai trò hộ pháp và trấn trạch, giúp điều hòa năng lượng, hóa giải tà khí và tạo sự cân bằng vũ trụ trong không gian chùa. Đồng thời, sự xuất hiện của bát quái trên hồng chung nhấn mạnh mối liên hệ giữa Phật pháp và thiên nhiên, thể hiện tư tưởng rằng chuông không chỉ là pháp khí linh thiêng mà còn là biểu tượng tổng hòa của vũ trụ, con người và sự giác ngộ trong tín ngưỡng Phật giáo14.

   2.4. Trang trí các biểu tượng khí tượng

   Nhị thập bát tú: Được trang trí trên vai chuông chùa Diệu Đế; trong thiên văn cổ Đông Á, đây được coi như các vị thần cai quản bầu trời. Việc khắc lên chuông mang ý nghĩa trời đất cùng chứng minh, hộ trì cho pháp sự và cho Phật pháp15.

   Biểu tượng “mây”: Thống kê cho thấy sự đa dạng của mây với vân khí, vân long, vân hỏa, vân cuộn được trang trí trên thân chuông và quanh các núm chuông. Vân khí mang linh khí đất trời, tạo nền cho họa tiết chính (chữ Thọ trên hai quả chuông chùa Thiên Mụ); vân long tượng trưng cho linh khí và sức mạnh của quyền lực thiên nhiên, với hình đám mây cuộn lại tạo họa tiết đầu rồng; vân cuộn có đầu mây cuộn lại theo hình xoắn ốc, tượng trưng cho sự vận động của vũ trụ; vân hỏa là năng lượng của pháp, xóa sạch vô minh16.

   Biểu tượng “thủy ba”: Là nước và sóng, biểu tượng của sự sống, cội nguồn, sự sinh sôi nảy nở, sự luân chuyển không ngừng cũng như sự thanh lọc, tẩy rửa17.

   2.5. Trang trí chữ

   Trên chuông thường có các trang trí chữ với các kiểu minh văn, Phật hiệu, bài kệ, lời phát nguyện, khuôn dấu, các thông tin về niên hiệu, năm đúc, người cúng dường,… Tại các chuông chùa Thiên Mụ, Thánh Duyên, Diệu Đế đều có sự xuất hiện đầy đủ các kiểu thức chữ này. Trên hai quả chuông chùa Thiên Mụ, mỗi chuông có tám chữ Thọ được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau, thể hiện ước vọng về sự trường tồn của đạo pháp, phúc lành lâu dài cho dân chúng, bình an thịnh trị cho quốc gia và đặc biệt là triều đại trường tồn. Ngoài các thông tin về niên hiệu, năm đúc, người cúng dường, minh văn, bài kệ, lời phát nguyện, đặc biệt trên chuông chùa Thiên Mụ, danh xưng “quốc chúa” khẳng định quyền lực cũng như tuyên bố về vị thế cai trị ở Đàng Trong của nhà Nguyễn, trực tiếp là chúa Nguyễn Phúc Chu. Trên chuông lớn chùa Diệu Đế có sự xuất hiện của hai con dấu đặc biệt thời Thiệu Trị, giúp có sự tiếp cận trực tiếp đến di vật, xác định thời gian sự kiện cũng như đánh dấu sự đặc biệt của nội dung thể hiện trên chuông do chính vua Thiệu Trị viết.

   3. Giá trị của hệ thống trang trí trên hồng chung tại các quốc tự tại Huế

   3.1. Giá trị về lịch sử

   Hồng chung tại các quốc tự ở Huế, như Thiên Mụ, Thánh Duyên và Diệu Đế, là những chứng tích lịch sử quan trọng, không chỉ lưu giữ niên đại đúc chuông, danh xưng chúa Nguyễn mà còn có hình ảnh con dấu, bài ký của vua Thiệu Trị. Những thông tin này cho phép các nhà nghiên cứu xác định chính xác thời gian xây dựng, tu bổ các chùa, đồng thời đánh giá vai trò của chúa Nguyễn trong việc bảo hộ và phát triển Phật pháp, thể hiện sự quan tâm của triều đình Đàng Trong đối với các hoạt động tôn giáo. Ngoài ra, các dữ liệu này còn phản ánh mối quan hệ giữa triều đình và các chùa, đồng thời minh chứng cho quyền lực thực tế của chúa Nguyễn tại Đàng Trong, nơi chúa Nguyễn vừa đảm nhận vai trò chính quyền, vừa là người bảo trợ tôn giáo độc lập so với triều đình Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài. Qua đó, hồng chung không chỉ là pháp khí linh thiêng mà còn là tư liệu lịch sử sống, cung cấp cái nhìn toàn diện về chính trị, tín ngưỡng và văn hóa tôn giáo trong xã hội Việt Nam thời Nguyễn.

   3.2. Giá trị về văn hóa

   Hệ thống trang trí trên chuông không chỉ mang tính pháp khí mà còn phản ánh sâu sắc tín ngưỡng, triết lý sống và quan niệm vũ trụ của người Việt thời Nguyễn. Các họa tiết trên chuông không chỉ có vai trò trang trí mà còn biểu tượng hóa các yếu tố vũ trụ, âm, dương, ngũ hành, thể hiện sự hòa hợp giữa trời, đất và con người trong thế giới quan Á Đông. Sự xuất hiện của các hình tượng rồng, phượng, các bát bửu về bút, gươm, pho sách, các quẻ bát quái bên cạnh các hình tượng búp sen, là các biểu tượng đặc trưng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, minh chứng về tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” dưới thời nhà Nguyễn, khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa quyền lực triều đình và tín ngưỡng tôn giáo. Qua các họa tiết và minh văn trên chuông, người nghiên cứu có thể nhận diện được trình độ thẩm mĩ, quan niệm nhân sinh và triết lý đạo Phật của triều Nguyễn, cũng như sự kế thừa và phát triển của mĩ thuật Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ.

   3.3. Giá trị về mĩ thuật

   Về mặt mĩ thuật, hệ thống hoa văn trang trí trên hồng chung thể hiện trình độ đúc đồng tinh xảo và tư duy bố cục mĩ thuật cung đình đạt đến mức hoàn thiện. Các họa tiết được sắp xếp một cách hài hòa, cân đối, tạo nên cảm giác uy nghiêm, trang trọng và linh thiêng cho toàn bộ pháp khí. Cùng với những chủ đề giống nhau, mỗi quả chuông lại được tạo thành các họa tiết khác nhau như hình bồ lao quai chuông, các họa tiết mây ở núm chuông, các họa tiết hồi văn. Sự khác nhau này thể hiện rõ tính sáng tạo và tài năng của những người phụ trách về đúc chuông. Việc các chủ đề khác nhau được kết hợp đồng bộ giữa các yếu tố trang trí không chỉ giúp chuông trở nên sinh động về hình thức mà còn tạo nên tính nhịp điệu, cân bằng và hài hòa tổng thể, góp phần làm nổi bật vai trò tâm linh và biểu tượng của pháp khí.

   4. Kết luận và thảo luận

   Hồng chung tại các quốc tự ở Huế, với Thiên Mụ, Thánh Duyên và Diệu Đế, là những pháp khí linh thiêng đồng thời là chứng tích lịch sử quan trọng, ghi lại niên đại, vai trò của chúa Nguyễn trong việc bảo hộ Phật pháp và mối quan hệ giữa triều đình với các chùa. Thông qua hệ thống trang trí phong phú, các chuông này phản ánh tư duy vũ trụ quan, âm – dương – ngũ hành và tín ngưỡng Phật giáo của người Việt thời Nguyễn. Về mặt mĩ thuật, hệ thống hoa văn trang trí trên hồng chung thể hiện trình độ đúc đồng tinh xảo và tư duy bố cục cung đình đạt mức hoàn thiện, với các yếu tố sắp xếp hài hòa, cân đối, tạo cảm giác uy nghiêm, trang trọng và linh thiêng. Những hoa văn này vừa làm tăng giá trị thẩm mĩ, vừa thể hiện sự sáng tạo tinh tế của các nghệ nhân, đưa chuông từ pháp khí quan trọng của chùa Phật trở thành tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, phản ánh giá trị văn hóa, tín ngưỡng và triết lý sống của xã hội Việt Nam thời Nguyễn. Hồng chung tại các quốc tự ở Huế không chỉ là pháp khí phục vụ nghi lễ tôn giáo, mà còn là di sản văn hóa – lịch sử quý giá, kết hợp hài hòa giữa giá trị lịch sử, mĩ thuật và tín ngưỡng. Nghiên cứu hệ thống trang trí trên chuông giúp làm rõ mối quan hệ giữa mĩ thuật cung đình, quyền lực chính trị và Phật pháp, đồng thời cung cấp cái nhìn sâu sắc về tư duy thẩm mĩ, triết lý vũ trụ và tín ngưỡng của triều Nguyễn, mở ra cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về mĩ thuật Phật giáo, văn hóa vật thể và lịch sử tôn giáo Việt Nam.

   

 

 

 

Chú thích:
* Nghiên cứu này thuộc đề tài “Nghiên cứu hệ thống trang trí trên chuông đồng tại khu vực miền Trung phục vụ công tác bảo tồn di sản mĩ thuật Phật giáo – nghiên cứu điển hình tại 4 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam” do Quỹ VINIF tài trợ.
**, *** Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế.
**** Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng.
1 Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm (2001), Lịch sử Phật giáo xứ Huế, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh.
2, 5 Viện Sử học (2002), Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục (tập 1, tập 6, tập 9), NXB. Giáo dục, tr. 132, tr. 873.
3 Hà Xuân Liêm (2000), Những ngôi chùa Huế, NXB. Thuận Hóa. 4 Viện Sử học (2006), Quốc Sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí (tập 1), NXB. Thuận Hóa, tr. 97 – 98.
5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 14, 15, 16, 17 Nguyễn Hữu Thông (2001), Mĩ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí, NXB. Thuận Hóa, tr. 104, tr. 100-102, tr. 91-92, tr. 78-79, tr. 82, tr. 82, tr.70, tr. 124-125, tr. 56, tr. 58-59, tr. 60-61, tr. 62.

Bình luận

    Chưa có bình luận