ĐẶC TRƯNG TRANG TRÍ TRÊN CỘT KLAO TRONG NHÀ MỒ BA NA TƠLÔ Ở BẮC TÂY NGUYÊN

Trên cơ sở nghiên cứu nghệ thuật trang trí cột klao tại nhà mồ người Ba Na Tơlô ở Bắc Tây Nguyên bằng phương pháp liên ngành, bài viết cho thấy chức năng, nghệ thuật tạo hình cột klao, quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan của cộng đồng Ba Na Tơlô.

   Tây Nguyên, một trong 7 vùng văn hóa lớn của Việt Nam, là nơi các cộng đồng dân tộc thiểu số chủ yếu thuộc 2 nhóm chính là Mã Lai Đa Đảo và Môn Khmer đã kiến tạo và duy trì những truyền thống nghệ thuật dân gian đặc sắc qua nhiều thế hệ, trong đó có nghệ thuật trang trí nhà mồ (bơxát), một nét mĩ thuật độc đáo gắn liền với phong tục tang ma, phản ánh thế giới quan và thực hành nghi lễ tín ngưỡng của cư dân bản địa. Ba Na là một trong hai dân tộc lớn ở Bắc Tây Nguyên, có truyền thống về mĩ thuật dân gian phong phú với nhiều đặc điểm tạo hình còn duy trì được cho đến ngày nay. Nhóm Ba Na Tơlô cư trú chủ yếu ở huyện Kông Chro và huyện Ia Pa (cũ, nay vẫn thuộc tỉnh Gia Lai) lại mang những nét văn hóa riêng bên cạnh những đặc điểm chung của dân tộc này. Nghệ thuật nhà mồ của họ nổi bật với cột klao, yếu tố trung tâm vừa có chức năng kết cấu nâng đỡ, vừa mang ý nghĩa biểu tượng và là điểm nhấn thẩm mĩ cho công trình.

   1. Tổng quan nghiên cứu

   Nhìn chung, mĩ thuật dân gian Tây Nguyên đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong chuyên khảo Hoa văn các dân tộc Giarai-Bana xuất bản năm 1986, tác giả Nguyễn Từ Chi đã lập ra các bảng thống kê về hoa văn trích lược từ kiến trúc và trang phục của hai dân tộc này. Được thực hiện khi giao thông trong vùng còn khó khăn, mĩ thuật truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên vì thế vẫn còn đậm đặc tính nguyên bản, tài liệu này trở thành căn cứ quan trọng để các nghiên cứu ngày nay vận dụng vào lý giải những chi tiết mà đôi khi chính người dân bản địa cũng không còn hiểu rõ, đồng thời có thể sử dụng trong phương pháp so sánh đối chiếu với hoa văn được đồng bào sáng tác gần đây nhằm chỉ ra những điểm phát sinh, khác biệt.

   Tác giả Nguyễn Từ Chi còn thực hiện một số nghiên cứu có quy mô rộng lớn hơn về các tộc người thiểu số ở Việt Nam nói chung, trong đó có quyển Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người tuy nhiên, tài liệu này không đề cập sâu đến các nhóm nhỏ địa phương như Ba Na Tơlô mà đưa ra những luận điểm khái quát về nghệ thuật của một số dân tộc. Đánh giá về nhà mồ Gia Rai và Ba Na, tác giả Từ Chi cho rằng cái đẹp tại đây được nhìn nhận trong một tương quan vừa đối lập vừa hài hòa giữa nghệ thuật của con người và cảnh sắc thiên nhiên. Không gian nhà mồ là nơi giao thoa giữa nghệ thuật, tín ngưỡng và nghi lễ trong một chỉnh thể văn hóa thống nhất. Nghiên cứu chuyên biệt và bền bỉ trong khoảng thời gian dài về các dân tộc ở Bắc Tây Nguyên, tác giả Ngô Văn Doanh có hàng loạt bài báo và sách chuyên khảo về phong tục tập quán, tín ngưỡng, kiến trúc và điêu khắc của dân tộc Ba Na được xuất bản từ khoảng giữa thập niên 80 đến sau năm 2000. Cột klao của người Ba Na Tơlô đã từng được nhắc đến trong cuốn Nhà mồ và tượng mồ Giarai, Bơhnar khi tác giả này so sánh với cột sik vốn phổ biến ở tất cả các nhóm Ba Na còn lại. Theo đó, cột sik được gọi là cột rượu, dựng ở đầu hồi nhà mồ Ba Na nhưng tách khỏi kiến trúc (thuộc khu hàng rào), người Ba Na Roh ở xã Ayun gọi đây là cột mặt trời, trong khi ở xã Gla, huyện Mang Yang lại gọi là nhà thần.

   Cột sik có cấu trúc 3 phần rõ rệt, có sử dụng thủ pháp tô vẽ trên bề mặt nhưng phương pháp điêu khắc tạo khối vẫn là chủ đạo, nổi bật có tạo hình mặt trời hoặc một ngôi nhà nhỏ trên chóp cột, nhiều trường hợp thay thế bằng một chiếc gậy có hình con chim nhỏ đang đậu, hoặc tạo hình đuôi cá, hình trăng non,... Cột sik được tìm thấy trong hầu hết các nhóm Ba Na khác không có cột klao, ngược lại, cột klao lại chỉ xuất hiện ở nhà mồ Ba Na Tơlô, nơi không có sự hiện diện của cột sik.

   Trong phần phân tích riêng về kiến trúc nhà mồ của người Ba Na Tơlô, tác giả Ngô Văn Doanh có mô tả hình dáng và kích thước của cột klao và cho rằng người Ba Na Tơlô đã học hỏi từ cột kút, cột klao của người Gia Rai và gộp chung vào với cột sik của dân tộc mình. Điểm hạn chế rất lớn của tài liệu này là ngoài ảnh chụp ngôi nhà mồ tanh-mắt (nhà mồ mái đan) ở trang bìa đồng thời xuất hiện nhằm minh họa một lễ bỏ mả tiêu biểu của người Ba Na ở trang trong, tài liệu chỉ có thêm vài ảnh đen trắng với chất lượng in ấn rất thấp về nhà mồ, tượng mồ của cả hai dân tộc, trong đó cả cột sik và cột klao đều không có minh họa riêng. Chính vì sự thiếu thốn về mặt hình ảnh, người đọc rất khó hình dung được ngôn ngữ thẩm mĩ của nghệ thuật trang trí khi chỉ mường tượng theo mô tả bằng ngôn ngữ chữ viết.

   Bên cạnh thể loại ký sự điền dã văn hóa dân tộc học, các tập sách ảnh của tác giả Trần Phong có chất lượng in ấn cao, góc máy đa dạng, kèm ghi chú thời gian và địa điểm chụp, do đó một số cột klao được ghi nhận qua ảnh trở thành tài liệu lịch sử rất quý về nhà mồ trong thế kỷ trước. Nghiên cứu của Phan Cẩm Thượng và Nguyễn Tấn Cứ giúp người đọc dễ dàng hình dung hơn về ngôn ngữ tạo hình trên cột klao, đóng góp thêm góc nhìn từ nghệ thuật học với nhận định về giá trị tạo hình của tượng nhà mồ nói chung, tuy nhiên, bàn về hệ thống cột trang trí, hai tác giả chủ yếu chỉ đưa ra phỏng đoán về ý nghĩa thông qua hình dạng của chúng. Theo nghiên cứu này, các chi tiết trên cột klao chủ yếu mang ý nghĩa phồn thực qua hình ảnh được cho là bẹn hay âm vật của nữ thần Hơ Kroih, phối hợp với một số hình tượng tự nhiên có ý nghĩa trang trí đơn thuần. Trong một nghiên cứu khác gần đây, tác giả Hồ Thị Thanh Nhàn phân tích cột klao cùng với biểu tượng cây cổ thụ dưới nhiều định dạng, từ hình vẽ đến điêu khắc hai chiều, ba chiều và khẳng định đây là một biểu tượng liên quan mật thiết đến truyền thuyết về cây tong long hay cây đa thần có ý nghĩa thúc đẩy sự tái sinh của linh hồn người chết. Khẳng định này cũng trùng khớp với quan điểm của tác giả Ngô Văn Doanh khi ông cho rằng lễ bỏ mả là sự “giải phóng” cho người chết để bắt đầu hồi sinh trong kiếp sống khác, do đó, cột klao truyền tải quan niệm về cái chết và có giá trị biểu tượng.

   Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về văn hóa nghệ thuật Tây Nguyên đến nay rất nhiều, về mảng kiến trúc thường tập trung vào các loại hình nổi bật gắn liền với nghi lễ như nhà rông và nhà mồ, về điêu khắc thường xoay quanh tượng mồ, tuy nhiên, nghệ thuật trang trí cột klao chưa bao giờ là đối tượng chính trong hầu hết các nghiên cứu trước, đặc biệt từ góc nhìn mĩ thuật tạo hình. Khoảng trống này trở nên cấp thiết trong bối cảnh di sản đứng trước nguy cơ biến đổi và mai một dần bởi nhiều lý do. Trước tình hình đó, bài báo đóng góp một kết quả nghiên cứu lý luận thông qua nhận diện và phân tích đặc trưng nghệ thuật của cột klao (cấu trúc, trang trí, biểu tượng), đồng thời ghi nhận một số hiện tượng biến đổi hiện nay nhằm làm phong phú thêm kho dữ liệu giáo dục về nghệ thuật và làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn, phát huy di sản liên quan.

   2. Phương pháp nghiên cứu

   Thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi phối hợp các phương pháp điền dã thực tế, phân tích mĩ thuật học và phương pháp so sánh liên ngành. Phạm vi điền dã được khoanh vùng trong 2 huyện là Kông Chro và Ia Pa (cũ), nay vẫn thuộc tỉnh Gia Lai, là địa bàn cư trú lâu đời của nhóm Ba Na Tơlô. Các thao tác nghiên cứu điền dã thông dụng đã được sử dụng, bao gồm quan sát và tham dự, chụp ảnh, đo đạc hiện trạng các nhà mồ trong nhiều ngôi làng tại các xã Chơ Lon, Sơ Ró, Yang Nam và Pờ Tó, trò chuyện với người dân trong đó có những người chuyên tạc tượng và các già làng.

   Phương pháp phân tích mĩ thuật học được áp dụng khi phân tích hình thái cấu trúc, bố cục, chất liệu và màu sắc của các yếu tố tạo hình trên cột klao. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh liên ngành đã được tiến hành dựa trên các tài liệu về lịch sử, nhân học và văn hóa tộc người, kết hợp với các nghiên cứu nền tảng về biểu tượng học nhằm giải mã ý nghĩa của một số hình tượng trong trang trí trên cột klao.

   3. Một số đặc trưng trang trí trên cột Klao trong nhà mồ Ba Na Tơlô ở Bắc Tây Nguyên

   3.1. Đặc điểm cấu trúc cột klao ở nhà mồ Ba Na Tơlô

   Nhà mồ Ba Na Tơlô có quy mô nhỏ hơn nhà mồ Gia Rai và Ê Đê, nhưng vượt trội về mật độ chi tiết trang trí dày đặc. Phổ biến nhất trong các làng Ba Na Tơlô là kiểu nhà mồ chỉ có hai cột klao ở hai đầu hồi, chỉ riêng nhà mồ ở khu vực tiếp giáp với người Gia Rai có đến sáu cột klao, bên cạnh 2 cột chính là 4 cột phụ thấp hơn tại các góc mái, trang trí tương tự nhưng giản lược hơn. Cột klao chính thường cao từ 6m đến 8m, được chia thành ba phần: Phần từ mặt đất đến mái thường hiếm khi chạm khắc, có chức năng chịu lực đỡ mái, cũng là nơi buộc ghè rượu trong lễ bỏ mả (pơthi); phần giữa từ đỉnh mái vươn lên cao, xuất hiện nghệ thuật trang trí với các thành phần điêu khắc đối xứng được gắn vào hai bên trục chính. Các cấu kiện rời này có xu hướng thu nhỏ dần từ dưới lên trên, tạo hiệu ứng vươn lên và nhịp điệu chuyển động rõ rệt theo chiều đứng, kết thúc bởi 1 cặp sừng trâu; khởi đầu của phần trên cùng được đánh dấu bởi 1 thanh gỗ nằm ngang, trên có một cặp tượng rất nhỏ gồm một nam, một nữ và một thanh tre/gỗ nhỏ vươn lên quá đầu họ, trên chóp buộc những dải trang trí bằng vải hoặc nan tre đan mỏng nhẹ phất phơ trong gió. Trong tín ngưỡng bản địa Tây Nguyên, linh hồn người chết sẽ tiếp tục tái sinh về một ngôi làng khác trong hình hài con người và tiếp tục chết đi rồi tái sinh trong các dạng sống mới, do đó sự hiện diện của cặp tượng nam nữ mang ý nghĩa thúc đẩy sự tái sinh theo tín ngưỡng Ba Na Tơlô7. Thành phần trang trí còn lại có thể được biến tấu tùy theo cảm hứng của nghệ nhân ở mỗi làng, ví dụ trong trường hợp này là hình bầu nước đặt giữa 2 nhân vật cùng 2 cặp sừng trâu lớn và nhỏ. Sự phân tách 3 phần rõ ràng này phản ánh tư duy có chủ đích của nghệ nhân: phần dưới cùng đơn thuần là kết cấu kiến trúc hữu dụng, mang nặng giá trị vật chất, hai phần trên thuần về chức năng trang trí, thiên về biểu đạt những giá trị tinh thần. Xem xét chi tiết hơn, riêng phần giữa của cột klao có thể được chia thành nhiều tầng nhỏ hơn với 2 dạng motif trang trí lặp lại đan xen nhau: dạng thứ nhất là nhóm những đường cong hướng lên trên và kết thúc bởi một mảng bẹt vuông vắn, gợi liên tưởng đến chồi non của cây dương xỉ (rau dớn), một loài thực vật thân cỏ có sức sống mãnh liệt tại đây; dạng thứ hai là hai nửa cung tròn ôm vào thân cột, gợi liên tưởng đến mặt cắt của các loại quả và hạt giống. Trong trường hợp tại nhà mồ xã Sơ Ró, nhịp điệu giảm dần lên cao theo quy luật rất rõ: 4 cặp lá - 3 vòng tròn - 3 cặp lá - 2 vòng tròn. Trong trường hợp tại nhà mồ xã Pờ Tó, quy luật giảm dần về kích thước vẫn được tuân thủ nghiêm ngặt nhưng bố cục thành phần đã được biến tấu thành 1 vòng tròn lớn - 3 vòng tròn nhỏ - 2 cặp lá - 1 vòng tròn - 3 cặp lá, trong đó còn có xen lẫn 2 cặp sừng trâu lớn và nhỏ. Ngoài ra, trên thân cột chính và một số cấu kiện lá dương xỉ được tô vẽ dày đặc những hình tam giác mà theo bảng hoa văn của tác giả Nguyễn Từ Chi8 có thể chúng là gai của cây suơr (jơla suơr) hoặc hình tổ ong (tơpu ong).

   3.2. Thủ pháp trang trí cột klao ở nhà mồ Ba Na Tơlô

   Mỗi tộc người ở Tây Nguyên khai thác những thế mạnh tạo hình riêng biệt trong nghệ thuật trang trí nhà mồ của dân tộc mình. So sánh hai dân tộc bản địa lớn nhất tại đây, trang trí của người Ba Na luôn ưu tiên ngôn ngữ tạo hình ước lệ, chú trọng họa tiết tô vẽ trên bề mặt hai chiều, khác với người Gia Rai thiên về tạo khối ba chiều với phong cách tả thực. Tra cứu tư liệu ảnh của tác giả Trần Phong9 từ thế kỷ trước, chúng ta bắt gặp những cột klao được tô vẽ lộng lẫy, bố cục nhìn trực diện từ hai đầu hồi như thể một cây to với vô số bông hoa đang bừng nở. Thay vì khai thác khối và chiều sâu do hiệu ứng bóng đổ thực, nghệ nhân Ba Na Tơlô chọn thủ pháp ước lệ, hình ảnh các biểu tượng được tổ chức theo logic đồ họa hơn là logic điêu khắc. Ba thủ pháp chủ đạo được phối hợp hài hòa gồm tô vẽ màu, khắc nông và trổ thủng hình thành nên ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo có giá trị thẩm mĩ riêng. Lối biểu đạt theo logic đồ họa hai chiều được vận dụng trong nghệ thuật trang trí cột klao của người Ba Na Tơlô triệt để đến mức nếu quan sát cột klao từ các mặt còn lại của nhà mồ, chúng ta gần như không thể nhìn thấy các chi tiết trang trí, tất cả sẽ hòa thành một đường thẳng duy nhất bằng độ dày của cột. Điều này tạo nên khác biệt đáng kể so với lối điêu khắc khối ba chiều rất được ưa chuộng trong cột kút và cột klao ở nhà mồ của người Gia Rai. Hiện tượng này không phải là hạn chế kỹ thuật mà là hệ quả tất yếu và có chủ đích của tư duy tạo hình thuần mặt phẳng. Điều này khẳng định bản chất phi khối của nghệ thuật trang trí klao và cho thấy cột klao của người Ba Na Tơlô được thiết kế để đối thoại với người xem theo trục nhìn ưu tiên khi cử hành nghi lễ.

   3.3. Tính biểu tượng và một số biểu hiện thay đổi trên cột klao ngày nay

   Hệ thống hoa văn và hình tượng trên cột klao của người Ba Na Tơlô không chỉ mang chức năng trang trí thuần túy mà còn hàm chứa những lớp ý nghĩa biểu trưng gắn liền với thế giới quan, nhân sinh quan và môi trường sinh thái của cộng đồng. Thông qua khảo sát thực địa tại huyện Kông Chro, có thể nhận thấy phần lớn các hình thức tạo hình đều bắt nguồn từ quá trình quan sát, tiếp nhận và khái quát hóa thế giới tự nhiên xung quanh, bao gồm hình ảnh cây cối, hoa lá, các loài động vật và những yếu tố sinh thái quen thuộc trong đời sống hằng ngày của người Ba Na Tơlô. Những biểu tượng có nguồn gốc tự nhiên này không sao chép thực tế hoàn toàn mà đã được cách điệu hóa và ký hiệu hóa theo tư duy tạo hình nguyên thủy. Hình ảnh cây cối, hoa lá, chim thú được giản lược thành các đường thẳng đứng, nhánh cong đối xứng, các motif hình học tròn hoặc hình thoi... Ngôn ngữ tạo hình này phản ánh mối quan hệ mật thiết, hài hòa và đầy tính thiêng giữa người Ba Na Tơlô với thế giới tự nhiên. Trong số các hình tượng trên cột klao, cặp tượng gỗ nam nữ ở phần đỉnh cột giữ vai trò trung tâm trong toàn bộ cấu trúc biểu tượng. Hình tượng này vượt ra ngoài phạm vi biểu đạt thẩm mĩ thông thường để trở thành một ký hiệu tâm linh đa tầng. Cặp nam nữ vừa đại diện cho yếu tố con người, vừa gắn với quan niệm về sự cân bằng âm dương, vừa mang ý nghĩa về sự tái sinh, tiếp nối và tính liên tục của cộng đồng qua các thế hệ. Cặp tượng nam nữ tại đỉnh cột không xuất hiện ngẫu nhiên theo cảm hứng mà lặp lại ở tất cả các cột klao cho thấy tầm quan trọng của chúng. Hình tượng này là biểu hiện của cổ mẫu nguyên thủy, bắt nguồn từ cấu trúc tâm lý sâu xa của loài người. Theo nghiên cứu của Jung, G.C10, các cổ mẫu như trục vũ trụ, cặp đôi nguyên thủy, cái chết và tái sinh, mẹ vĩ đại xuất hiện trong mọi nền văn hóa nhân loại - không phải do truyền bá mà do chúng là cấu trúc bẩm sinh của tâm thức con người khi nghĩ về khởi nguồn của sự sống.

   Khảo sát thực địa tại huyện Kông Chro cho thấy nghệ thuật trang trí cột klao hiện nay đã có nhiều biến đổi đáng kể so với truyền thống, phản ánh tác động đa chiều của sự tiếp biến văn hóa và sự mai một dần của tri thức nghệ thuật dân gian. Vật liệu truyền thống có giá trị tinh thần cùng những chất liệu màu tự nhiên mang ý nghĩa thiêng liêng dần được thay thế vì sự tiện lợi. Nhiều hình thức hoa văn cổ truyền đang dần biến mất do thiếu hụt nghệ nhân am hiểu kỹ thuật chế tác và hiểu biết về biểu tượng cổ xưa. Xu hướng đơn giản hóa trong trang trí ngày càng rõ nét, thể hiện qua việc giảm số lượng motif, bố cục lỏng lẻo và thiếu sự nhất quán trong nguyên tắc đối xứng vốn là đặc trưng cốt lõi của ngôn ngữ tạo hình Ba Na Tơlô truyền thống. Những biến đổi này không chỉ làm suy giảm giá trị thẩm mĩ của cột klao mà còn phản ánh sự suy yếu trong nhận thức cộng đồng về ý nghĩa biểu trưng của các yếu tố tạo hình gắn với thiết chế văn hóa truyền thống này.

   4. Thảo luận

   Để tiếp cận và hiểu rõ chiều sâu ý nghĩa biểu tượng của cột klao, cần đặt hệ thống trang trí cột này trong bối cảnh lý thuyết tư duy biểu tượng. Xem xét từ góc nhìn của Lévy-Bruhl, các motif trên klao thể hiện trạng thái “tham dự huyền bí”, nơi con người, tổ tiên và tự nhiên tồn tại trong mối liên hệ bản thể. Trong khi đó, theo nghiên cứu của G.C. Jungcác hình tượng lặp lại như trên cột klao có thể được hiểu như biểu hiện của các cổ mẫu thuộc vô thức tập thể, phản ánh những cấu trúc tâm lý phổ quát. Sự kết hợp này cho phép nhìn nhận klao vừa như thực hành văn hóa đặc thù, vừa như một hệ biểu tượng tâm linh nói chung. Trong tư duy huyền bí của người nguyên thủy, biểu tượng không chỉ mang tính quy ước mà là hiện thân của lực lượng tâm linh, vì vậy hoa văn trên klao, một di sản của niềm tin tín ngưỡng nguyên thủy, không chỉ có tính biểu trưng mà còn mang ý nghĩa tồn tại trong không gian nghi lễ. Bên cạnh đó, các hình tượng như trục vũ trụ hay cặp đôi nam nữ có thể được xem là những cổ mẫu phổ quát, được cụ thể hóa trong truyền thống nghi lễ tang ma của người Ba Na Tơlô.

   Một hiện thực nữa là người Ba Na Tơlô ngày nay, kể cả nghệ nhân, phần lớn không còn lý giải được ý nghĩa của các motif trang trí. Tri thức biểu tượng đã chuyển từ dạng tường minh sang tri thức thực hành ngầm ẩn, tồn tại qua tập tục và ký ức cơ thể. Đây là hiện tượng phổ biến trong các hệ thống tri thức dân gian. Lý luận của L. Bruhl góp phần giải thích rằng ý nghĩa biểu tượng không được lưu trữ dưới dạng khái niệm mà được mã hóa trong hành động và nghi lễ. Trong khi đó, tác giả G.C. Jung nhấn mạnh biểu tượng không bao giờ có thể được giải thích hoàn toàn hay định nghĩa dứt khoát vì biểu tượng luôn đa nghĩa hơn ký hiệu. Jung cũng chỉ ra rằng biểu tượng là hình thức biểu hiện của các cấu trúc vô thức tập thể, cổ mẫu vận hành ở cấp độ vô thức, không cần ý thức cá nhân, vì vậy nghệ nhân không cần “hiểu” mà vẫn tạo đúng biểu tượng nhưng họ rất lúng túng khi được yêu cầu giải thích.

   Tóm lại, mọi nỗ lực giải mã biểu tượng trang trí trên cột klao đến nay đều mang tính suy đoán nhưng có cơ sở, dựa trên ba nguồn: truyện kể dân gian Ba Na, dữ liệu so sánh nhân học, mĩ thuật, và các nguyên lý lý thuyết về tư duy biểu tượng. Đây không phải là hạn chế mà là điều kiện nhận thức luận tất yếu khi tiếp cận tri thức không văn tự và đã bị đứt gãy lịch sử. Chính vì vậy, việc tiếp tục điền dã, khai thác tư liệu truyền miệng và đối thoại với cộng đồng là cần thiết, bởi những mảnh vỡ tri thức còn lại chính là chìa khóa để dần làm sáng tỏ một di sản biểu tượng đang đứng trước nguy cơ mai một.

   5. Kết luận

   Đặc trưng của hệ thống hoa văn trên klao của người Ba Na Tơlô thiên về cách điệu, các đối tượng tạo hình được quy về hình kỷ hà. Ngôn ngữ tạo hình trên klao ưu tiên không gian hai chiều, hình thức chủ đạo là tô màu, khắc nông và trổ thủng. Bố cục trang trí đối xứng, mang tính tuần hoàn, phản ánh tư duy thẩm mĩ cân bằng. So với các nhóm dân tộc khác, phong cách tạo hình của nhóm Ba Na Tơlô cô đọng, tinh tế hơn. Đặc điểm nhận dạng quan trọng là ít sử dụng hình tượng người và động vật theo kiểu khối tròn. Những yếu tố này cho thấy quan niệm thẩm mĩ có tính hệ thống, trong đó hình thức và ý nghĩa gắn kết theo logic nội tại bền vững qua nhiều thế hệ. Trên cơ sở những phát hiện này, nghiên cứu cũng gợi mở một số hướng tiếp cận tiếp theo. Trước hết, cần mở rộng phạm vi khảo sát sang các nhóm Ba Na khác và các tộc người lân cận nhằm xác định rõ hơn vị trí của nghệ thuật klao Ba Na Tơlô trong bức tranh mĩ thuật dân gian khu vực Tây Nguyên, từ đó nhận diện các lớp giao thoa và dị biệt văn hóa. Đồng thời, việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu mới như số hóa di sản, lập bản đồ hình thái hoa văn và phân tích liên ngành sâu hơn giữa mĩ thuật học, nhân học và ký hiệu học sẽ góp phần làm sáng tỏ cấu trúc nội tại của hệ thống biểu tượng này. Bên cạnh đó, cần tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình bảo tồn và phục hồi nghệ thuật klao, thông qua các hoạt động truyền dạy nghề, tái hiện nghi lễ và xây dựng không gian trình diễn văn hóa. Việc đưa các giá trị tạo hình và biểu tượng của cột klao vào giáo dục nghệ thuật đương đại cũng là một hướng đi khả thi, vừa góp phần bảo tồn di sản, vừa tạo nguồn cảm hứng sáng tạo mới trên nền tảng truyền thống. Cuống cùng, trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi văn hóa ngày càng sâu rộng, việc nhận diện, lý giải và bảo tồn nghệ thuật cột klao không chỉ mang ý nghĩa đối với riêng cộng đồng Ba Na Tơlô, mà còn đóng góp vào việc hiểu biết sâu sắc hơn về các hệ thống tri thức dân gian và năng lực sáng tạo biểu tượng của con người. Đây chính là cơ sở để khẳng định giá trị bền vững của di sản trong đời sống đương đại và trong tiến trình phát triển văn hóa của xã hội.

 

 

 

Chú thích:
* Trường đại học FPT (cơ sở TP.Hồ Chí Minh). 
1 Nguyễn Từ Chi (2020), Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc.
2 Ngô Văn Doanh (1993), Nhà mồ và tượng mồ Giarai, Bơhnar, Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao tỉnh Gia Lai, Viện Đông Nam Á.
3, 9 Trần Phong (1995), Điêu khắc gỗ dân gian GiaraiBahnar, NXB. Văn hóa Dân tộc, Sở Văn hóa Thông tin - Thể thao Gia Lai.
4 Phan Cẩm Thượng & Nguyễn Tấn Cứ (1995), Điêu khắc nhà mồ Tây Nguyên, NXB. Mĩ thuật.
5, 7 Hồ Thị Thanh Nhàn: “Những hình tượng mang ý nghĩa tái sinh trong nhà mồ của các dân tộc thiểu số ở Bắc Tây Nguyên”, Tạp chí Văn hóa-Nghệ thuật số (551)/ 2023, trang 109-112.
6 Ngô Văn Doanh (2007), Bơ Thi - Cái chết được hồi sinh, Nhà xuất bản Thế giới.
8 Nguyễn Từ Chi (1986), Hoa văn các dân tộc GiaraiBana, Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao tỉnh Gia LaiKontum.
7,11 L. Bruhl (2018), Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy, NXB. Hồng Đức.

Bình luận

    Chưa có bình luận