HOA VĂN GỐM PHÙNG NGUYÊN VÀ GỐM CỔ ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG THỜI TIỀN SƠ SỬ: TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN, GIẢI PHÁP BẢO TỒN, VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN TRONG KỶ NGUYÊN SỐ*

  • 25/04/2026 10:21:00
  • TS. NGUYỄN QUANG HƯNG**;TS. HÀ THỊ LỊCH***;THS. TẠ THỊ HẠNH LỢI ****
  • Nghiên cứu, trao đổi
  • 0

Trên cơ sở phân tích sự phát triển hoa văn gốm Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng thời tiền sơ sử, bài viết khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của di sản, đồng thời, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy hiệu quả loại di sản này trong kỷ nguyên số.

   Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, Văn hoá Phùng Nguyên và văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng thời tiền sơ sử được coi là nổi bật bởi khả năng chế tác đồ đá, đồ gốm đạt đến đỉnh cao về kỹ thuật và nghệ thuật, được phân bố ở các địa điểm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây (cũ) nhưng tập trung nhiều nhất ở lưu vực sông Đà, sông Hồng. Hiện nay, văn hoá gốm Phùng Nguyên và văn hóa gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng thời tiền sơ sử đã được tiếp cận từ các chuyên ngành khác nhau; được công bố dưới nhiều hình thức khác nhau. Điều đó chứng tỏ thể loại này có những giá trị độc đáo, đặc sắc. Các di vật gốm thuộc văn hoá gốm Phùng Nguyên và văn hóa gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng thời tiền sơ sử cho tới hiện nay chỉ còn lại những mảnh ghép rời rạc đang được trưng bày trong Bảo tàng Hùng Vương, Bảo tàng khu di tích lịch sử Đền Hùng, Bảo tàng tỉnh Vĩnh Phúc và bảo tàng lịch sử Quốc gia Việt Nam. Quá trình nghiên cứu sự hình thành và phát triển của văn hoá gốm Phùng Nguyên và văn hóa gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng đã đặt ra nhiều vấn đề như: Họa tiết hoa văn đồ gốm này có gì độc đáo đặc sắc? Tiến trình phát triển và sức ảnh hưởng của chúng tới các nền văn hóa gốm các thời kỳ sau, giải pháp nào nhằm bảo tồn và phát huy giá trị những di sản này?

   Trả lời cho các câu hỏi đó, bài viết này dựa trên nền tảng lý thuyết tiến hóa văn hóa nhằm tìm hiểu và coi sự phát triển của hoa văn là một quá trình biến đổi liên tục, chịu ảnh hưởng bởi môi trường, kinh tế, xã hội. Nghiên cứu hoa văn gốm Phùng Nguyên và gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng thời tiền sơ sử là sự kết hợp phương pháp liên ngành khảo cổ học, mĩ thuật học, dân tộc học. Đây là những phương pháp được sử dụng để giải thích ý nghĩa cũng như tiến trình phát triển của hoa văn qua từ thời kỳ Phùng Nguyên đến Đồng Đậu và Gò Mun. Ngoài ra, lý thuyết Hình thái học nghệ thuật và lý thuyết Ký hiệu học, các thủ pháp so sánh, đối chiếu để phân loại, so sánh các motif trang trí hoa văn, chất liệu, kỹ thuật tạo tác giữa đồ gốm Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng cũng được chúng tôi sử dụng nhằm phân tích các đặc trưng, cấu trúc, hình thức, bố cục hoa văn gốm các thời kỳ từ Phùng Nguyên đến Đồng Đậu và Gò Mun, qua đó có thể nắm được giá trị các thể loại hoa văn gốm này như là một kênh thông tin về văn hóa, tín ngưỡng, thẩm mĩ của con người thời kỳ tiền sơ sử.

   1. Tiến trình phát triển hoa văn gốm Phùng Nguyên và hoa văn gốm cổ đồng bằng sông Hồng thời tiền sơ sử

   1.1. Sự phát triển về kỹ thuật tạo tác hoa văn

   Các đồ gốm thời Phùng Nguyên cho thấy trình độ kỹ thuật tạo hình đã đạt đến mức hoàn thiện, phương pháp in, khắc vạch kết hợp in chấm, in lăn…được áp dụng rộng rãi và đạt đến mức độ thuần thục (việc sử dụng bàn xoay để tạo dáng hình các đồ đựng, vật dụng sinh hoạt nhằm đạt đến độ ổn định và chắc chắn, cân đối và vững chãi, hài hòa và thanh thoát chính là nét độc đáo khiến cho đồ gốm Phùng Nguyên có giá trị). Nhờ những kỹ thuật khắc vạch tinh tế, sắc sảo thông qua bàn tay nghệ nhân mà những chiếc bình, lọ, vò, nồi… cục mịch, thô mập biến điệu trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát hòa đồng tạo thành tổ hợp hoa văn gốm đẹp đẽ, mang đậm nét đặc trưng của các thủ pháp thường sử dụng: cứng - mềm, thẳng- cong, dài- ngắn…

   Sang thời kỳ gốm Đồng Đậu và Gò Mun người thợ đã sử dụng kỹ thuật in khuôn, giúp thúc đẩy nhanh quá trình tạo hình và tăng tính thẩm mĩ. Ngoài ra, họa tiết hoa văn in chấm nhỏ trên gốm Phùng Nguyên đến thời Đồng Đậu, Gò Mun đã được người thợ gốm diễn tả biến tấu thành những mảng hoa văn ô lưới, chấm dài và đều. Những nội dung hết sức dung dị gần gũi lấy ý tưởng ngay trong đời sống sinh hoạt hàng ngày như: mây, sóng nước, mặt trời, mặt trăng, vì sao… từ những hoa văn đơn giản như hình kỷ hà, khắc vạch, chấm dải... được sắp xếp theo dạng đối xứng gương, đối xứng trục và đối xứng tịnh tiến sau chuyển hóa tạo thành họa tiết hoa văn như họa tiết khắc vạch, nan chiếu, hoa lá, xoắn ốc, sóng nước... một cách rõ ràng, rành mạch. Có lẽ đây chính là kết quả của quá trình nghiên cứu, quan sát kỹ từng đối tượng có sẵn trong tự nhiên, trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày.

   1.2. Sự tiếp nối về motif hoa văn hình học

   Có thể thấy, sự tiếp nối hoa văn thời kỳ tiền sơ sử này là quá trình phát triển từ kiểu cách đơn giản (hoa văn gốm Phùng Nguyên) đến phức tạp hơn (hoa văn gốm Đồng Đậu) và cao hơn là sự lược bỏ để hướng đến sự tinh gọn (hoa văn gốm Gò Mun). Hoa văn trang trí trên gốm Phùng Nguyên có những đặc điểm riêng biệt dễ nhận dạng, tiêu biểu là hoa văn khắc vạch tam giác, văn chải, văn khắc vạch, văn in chấm, văn hình học, văn hình chữ S... Những họa tiết hoa văn đường gấp khúc kiểu răng cưa khắc vẽ trên đồ gốm Phùng Nguyên được phát triển thành hoa văn kiểu răng lược đặc trưng trên gốm Đồng Đậu. Ngoài ra, những hoa văn hình học vòng tròn đồng tâm, đường thẳng song song đơn giản trên gốm Phùng Nguyên được phát triển và tạo tác dày đặc hơn trên gốm Đồng Đậu. Chúng là bằng chứng rõ nét nhất về tài năng, khiếu thẩm mĩ của những cư dân thời kỳ này. Sự phát triển của những quan điểm thẩm mĩ trên đồ gốm Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng có lẽ gắn liền với sự phát triển của tư duy khoa học, thông qua kỹ thuật tạo hoa văn đối xứng gương, đối xứng trục và đối xứng tịnh tiến cũng như số lần lặp lại của các họa tiết phức tạp đã cho phép chúng ta xác định về tư duy, sự tính toán có chủ đích, có ý đồ của người Phùng Nguyên đối với những vật dụng mà họ làm ra, nó không chỉ nhằm thỏa mãn công năng sử dụng mà còn được nâng cao hơn thành một vật phẩm trang trí đẹp, có tính thẩm mĩ cao. Đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và khẳng định tính bản địa của nền văn hóa Tiền – Đông Sơn. Cùng với việc ứng dụng kỹ thuật tạo dáng trên bàn xoay, phương pháp tạo tác hoa văn bài bản đã tác động rõ nét trong việc thay đổi hình thức trang trí (họa tiết, hoa văn, cấu trúc đồ án) trên đồ gốm Phùng Nguyên.

   1.3. Sự chuyển biến về tư duy bố cục hoa văn

   Những đồ án hoa văn khắc vạch, chấm dải là đặc trưng tiêu biểu, riêng biệt của hoa văn đồ gốm Phùng Nguyên được bố trí ở các vị trí miệng, cổ, thân với lối bố cục khá chặt chẽ. Đến gốm Đồng Đậu – Gò Mun thì việc bố trí hoa văn đã có những bước tiến triển khác biệt với các dải họa tiết được tổ chức thành băng dài ở cổ hoặc thân đồ gốm. Điều này cung cấp đầy đủ minh chứng khoa học góp phần giúp cho chúng ta nhận diện sự tiếp biến về hoa văn về gốm Phùng Nguyên đến gốm Đồng Đậu – Gò Mun một cách rõ nét.

   Lối bố cục đường diềm hoa văn dải đai ngang thân được trang trí trên gốm Phùng Nguyên là nền tảng cơ bản cho sự kế tiếp đồ gốm Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn. Nếu so sánh, có thể thấy đồ gốm Đồng Đậu ít nhiều vẫn còn có chút sắc thái của gốm Phùng Nguyên. Hoa văn Đồng Đậu đã kế thừa và tiếp thu sau đó thay đổi các motif hoa văn khắc vạch, in lăn hoặc in chấm, những đường cong đối xứng kết hợp với in lăn mịn trên gốm theo kiểu Phùng Nguyên bằng họa tiết vạch đơn giản kết hợp với lối in chấm thô to.

   Đồ án hoa văn kỷ hà, hình học phức tạp kiểu khuông nhạc chữ S, chữ S biến thể, hoa văn dấu đan. Và nếu so sánh giữa họa tiết gốm Phùng Nguyên với họa tiết gốm Gò Mun thì dường như ta ít bắt gặp hoa văn chấm dải, chấm ly ti, những motif đăng đối kiểu Phùng Nguyên mà thay vào đó là motif hoa văn trên gốm Gò Mun có cảm giác cứng cáp, khuôn mẫu, đăng đối khác hẳn.

   Đồ án hoa văn khắc vạch gốm Gò Mun trang trí mặt trong của miệng các loại bình, hoa văn hình học gãy góc. Phong cách tạo tác hoa văn tùy từng giai đoạn tuy có thay đổi nhưng vẫn phát triển theo một mạch thống nhất, bắt đầu từ các đồ án hoa văn chấm dải kết hợp với khắc vạch được sắp xếp thành đường diềm chạy ngang thân gốm Phùng Nguyên đến các đồ án hoa văn khuông nhạc của gốm Đồng Đậu, và rồi chuyển biến thành hoa văn hình học của gốm Gò Mun, đỉnh cao là hoa văn hình học có kết hợp giữa chim, thú vật và sinh hoạt con người trên trống đồng Đông Sơn đã tạo ra bước chuyển đổi mạnh mẽ về lối tạo hình.

   1.4. Sự chuyển biến về ý nghĩa của biểu tượng

   Hoa văn khắc vạch hình học, chữ S, hoa văn tam giác, răng cưa đã trở thành hoa văn tiêu biểu, đặc trưng được các thời kỳ sau kế thừa. Các loại gốm thời kỳ sau, nhờ kỹ thuật phát triển nên người thợ đã trang trí đẹp hơn các mẫu hoa văn mà họ tiếp thu. Chính vì vậy, nghệ thuật tạo hình trên gốm Phùng Nguyên trở thành một trong những nhân tố quan trọng nhất trong quá trình hình thành nghệ thuật trang trí đồ gốm Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn sau này. Đó là cơ sở chủ yếu tạo dựng nền văn minh sông Hồng rực rỡ của người Việt cổ. Ngoài ra trong quá trình người Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Gò Mun đã quan sát một cách tường tận chu kỳ tuần trăng, ngày, đêm, chu kỳ thay đổi vận động của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông trong một năm, sự tuần hoàn của thời tiết, của mưa, nắng, sự thay đổi giữa ngày và đêm, sự đâm chồi nảy lộc, chu kỳ gieo hạt, thu hoạch, cầu mùa, tín ngưỡng phồn thực…những vấn đề mang tính khoa học này đã được áp dụng trong việc sắp xếp hoa văn thành các băng dải và sự tiếp nối liên tục vòng quanh thân đồ gốm tạo nên những đồ án sinh động đầy sự tư duy. Dưới bàn tay tài hoa của người thợ gốm từ những đồ vật gốm tuy đơn giản nhưng chúng ẩn chứa sự mô phỏng của vạn vật thiên nhiên, như hoa văn tam giác có thể là biểu tượng cho đỉnh núi, nơi giao hòa trời đất. Gốm Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng cho thấy khát vọng biểu hiện cảm xúc nội tâm, cá tính phong cách của các thợ gốm nguyên thủy. Trên các di vật gốm nhiều thợ gốm đã sử dụng khả năng tạo hình, trình độ khéo léo để mô tả những sự vật hiện tượng ngoài thiên nhiên cây cỏ, hoa lá gửi gắm tâm tư, nguyện vọng của mình lên từng bề mặt của vật liệu gốm một cách sâu sắc và hoàn chỉnh.

   2. Thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị hoa văn đồ gốm Phùng Nguyên trong và gốm cổ đồng bằng sông Hồng trong kỷ nguyên số

   Theo văn bia sử sách ghi lại, đồ gốm Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng một phần đã bị thời gian bào mòn do khí hậu khắc nghiệt, nóng, ẩm, hanh khô… một phần bởi sự khai thác đào xới đất đai bừa bãi, không có quy hoạch đã dần hủy hoại những đồ vật gốm còn nguyên vẹn. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược, hàng trăm nghìn loại đồ gốm bị đập phá, bị cướp, bị đem ra nước ngoài. Những người thợ gốm có tay nghề giỏi, có trình độ điêu luyện, xứng tầm quốc tế rất khan hiếm. Mặt khác, đã có giai đoạn các nghệ nhân nghề làm gốm hầu như không được coi trọng nên dẫn đến một số người vì kế mưu sinh mà đổi nghề làm công việc khác, một số do tuổi cao sức yếu nên cũng bỏ nghề, ý thức trách nhiệm bảo vệ di sản cũng dần mai một, vì miếng cơm manh áo mà không ai quan tâm đến việc duy trì làng nghề. Một số nơi còn có tình trạng buông lỏng quản lý của một số cấp ngành văn hóa nên thiên nhiên đã dần xâm hại, bào mòn và làm xuống cấp các di vật gốm. Đồ gốm Phùng Nguyên là đồ cổ, quý hiếm nên việc giữ gìn vô cùng khó khăn bởi nạn trộm cắp, buôn bán cổ vật…

   Việc sưu tầm, bảo tồn giá trị hoa văn gốm Phùng Nguyên và gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Ngoài ra, nguồn kinh phí, phương tiện, nhân lực cần đầu tư cho hoạt động bảo tồn, khai thác giá trị nghệ thuật trang trí hoa văn còn gặp không ít khó khăn. Các cấp ủy chính quyền địa phương có lúc còn chưa nhận thức sâu sắc vai trò, giá trị hoa văn đồ gốm Phùng Nguyên và gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng trong kỷ nguyên số nên không có những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ những thương hiệu đồ gốm đã tồn tại lâu dài trong lịch sử. Hiện tại công tác xã hội hóa phát huy giá trị di sản còn thiếu những chính sách, phương án cụ thể, việc áp dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong bảo tồn khai thác, phát huy giá trị của thể loại này chưa được triển khai một cách khoa học, đồng bộ và bài bản, do vậy, rất cần có sự quan tâm của chính quyền địa phương trong việc định hướng khai thác, bảo tồn và phát huy các di vật gốm Phùng Nguyên và gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng trong kỷ nguyên số hiện nay.

   3. Giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị hoa văn gốm Phùng Nguyên và hoa văn gốm cổ đồng bằng sông Hồng

   3.1. Nhóm giải pháp nhằm giữ gìn giá trị di sản hoa văn gốm Phùng Nguyên và gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng trong kỷ nguyên số

   Một là cần sưu tập, kiểm kê lập hồ sơ lại toàn bộ các di vật gốm Phùng Nguyên gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng trong các bảo tàng, nhà trưng bày, bảo vệ bản quyền và quản lý dữ liệu số: Các cơ quan quản lý nhà nước, các cấp, các ngành có liên quan về văn hóa cần sớm có chủ trương điều tra xã hội học, kiểm kê, đánh giá, nhận định lại toàn bộ những di vật Phùng Nguyên, trên cơ sở đó có những chính sách thích hợp nhằm bảo vệ, bảo tồn phát triển một cách bền vững và lâu dài những di sản đó. Đảm bảo bản quyền các hình ảnh số, mô hình số hóa. Xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu số an toàn, đủ thông tin, tránh nguy cơ bị lạm dụng sai mục đích.

   Hai là, ứng dụng công nghệ số vào công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Số hóa các hiện vật bằng ảnh chụp các chạm khắc, in ấn các ấn bản nghiên cứu tinh hoa gốm, tạo cơ sở dữ liệu hình ảnh quét hình dạng hoa văn, kết cấu bề mặt gốm cổ thông qua công nghệ 3D Scanning. Mô phỏng quá trình tạo hình sản phẩm (các thao tác nhào, chuốt, vuốt gốm trên bàn xoay), khắc vạch họa tiết hoa văn thông qua công nghệ 3D Modeling. Sử dụng công nghệ AI (trí tuệ nhân tạo) để phân tích mẫu gốm cổ còn sót lại, quy trình phục dựng họa tiết hoa văn, sử dụng công nghệ Deep Learning để giúp khôi phục các hoa văn gốm bị vỡ nát hoặc hư hại. Ứng dụng công nghệ AR (thực tế ảo) VR (thực tế tăng cường) để xây dựng chương trình trải nghiệm ảo quy trình làm gốm của người thợ xưa, giúp cho người xem trải nghiệm tương tác trực tiếp với quy trình chế tác gốm.

   Ba là, cần xây dựng chính sách hỗ trợ kinh phí bảo vệ duy trì di sản hợp lý, phù hợp với nguồn ngân sách địa phương: Cần hỗ trợ, quan tâm động viên các nghệ nhân cao tuổi có kinh nghiệm làm gốm bằng nguồn kinh phí địa phương, nguồn xã hội hóa. Quan tâm chăm sóc sức khỏe cho các nghệ nhân để họ tâm huyết truyền thụ lại cho con cháu những ngón nghề, kỹ thuật tạo dáng bí truyền, khuyến khích động viên các gia đình có nghề làm gốm truyền thống cha truyền con nối tiếp tục theo đuổi đam mê với nghề. Cần phục dựng các làng nghề gốm đã thất truyền, có kế hoạch đào tạo nghề cho một số người trẻ tuổi, có khiếu thẩm mĩ để họ trở thành những người làm gốm khéo léo thành thục, trách nhiệm với nghề để tiếp nối tinh hoa cha ông.

   3.2. Nhóm giải pháp nhằm phát huy giá trị di sản hoa văn gốm Phùng Nguyên và gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng trong kỷ nguyên số

   Thứ nhất, cần có hoạt động tuyên truyền giáo dục tại các bảo tàng, nhà trưng bày: Các cơ quan quản lý nhà nước, các cấp, các ngành có liên quan về văn hóa cần tư liệu hóa hoàn chỉnh bộ sưu tập di vật gốm Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng để chuyển giao cho các bảo tàng. Trên cơ sở đó các bảo tàng sẽ giới thiệu, thuyết minh về giá trị lịch sử nghệ thuật, văn hóa cho khách tham quan. Các bảo tàng chủ động phối hợp với các cơ quan đơn vị trường học, công ty du lịch nhằm xây dựng chương trình ngoại khóa cho học sinh, sinh viên để tạo thành phong trào “người người nói về di sản, nhà nhà nói về di sản, mọi học sinh đều biết về di sản”, bồi dưỡng các tour du lịch tại các địa điểm trên một cách bền vững và lâu dài.

   Thứ hai, cần có kế hoạch, chiến lược truyền thông giáo dục đủ mạnh ngoài cộng đồng. Cần sớm có những kế hoạch, truyền thông đủ mạnh để đưa dự án đưa di vật gốm cổ vào trường học. Hằng tuần, hằng tháng, các trường phổ thông trong thành phố, phường xã lân cận nên tổ chức cho học sinh đi tham quan quang cảnh tại các khu di chỉ, di tích nhằm nâng cao chất lượng giáo dục về di sản, lịch sử, truyền thống, giáo dục đạo đức và những giá trị văn hoá đẹp đẽ của cha ông, góp phần xây dựng môi trường học tập văn hóa, thông qua di sản, giúp người dân biết trân trọng và giữ gìn, bảo vệ và chăm sóc những sản phẩm quý của cha ông. Các bảo tàng có thể liên kết với các đơn vị du lịch, cơ sở văn hóa tại các di tích nhằm chuyển giao quảng bá sản phẩm (sách, ảnh, đồ lưu niệm phiên bản…) cho khách du lịch. Những hoạt động như vậy không chỉ lan tỏa giá trị di sản, tạo nên sản phẩm văn hóa – thương mại mà còn góp phần tăng trưởng kinh tế cho các tỉnh, các địa phương. Hoạt động này càng đa dạng thì vấn đề quảng bá di sản càng có tính lan tỏa rộng rãi.

   Thứ ba, cần tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị, workshop trong đó mời các chuyên gia đầu ngành về nghệ thuật, khảo cổ, nhà nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nước đến tìm hiểu các di chỉ khảo cổ nhằm đánh giá giá trị gốm Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng một cách khoa học, cụ thể, chính xác. Các hội thảo, tọa đàm này có ý nghĩa rất lớn trong việc bổ sung những khuyết thiếu của hiện vật, đồng thời phân tích những vấn đề đặt ra của lịch sử trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Tổng hợp các bài nghiên cứu, bài viết có giá trị liên kết với các nhà xuất bản để in thành tổng tập, chuyên đề di sản gốm Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng.

   Thứ tư, cần tổ chức các cuộc thi trực tuyến, hợp tác với các nền tảng thương mại điện tử, tăng cường công nghệ in 3D, thiết kế sáng tạo sản phẩm mới: Các bảo tàng chủ động kết nối với các công ty truyền thông, tổ chức các cuộc thi về ứng dụng họa tiết hoa văn gốm cổ vào các sản phẩm đương đại. Hợp tác với các nền tảng trực tuyến tạo cơ hội để giới thiệu các sưu tập gốm Phùng Nguyên và gốm vùng đồng bằng sông Hồng giúp cho công chúng có cái nhìn toàn diện, có hiệu ứng và sức lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng người Việt ở trong nước và nước ngoài. Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ 3D để tạo các bản sao gốm cổ chất lượng nhằm phục vụ thị trường sưu tập. Khuyến khích các họa sĩ, nhà thiết kế sáng tạo nghệ thuật mới từ tinh hoa hoa văn gốm cổ (đồ trang sức, thời trang, gốm đương đại)

   Thứ năm, cần tổ chức các hoạt động trao đổi, trưng bày hiện vật thường xuyên với hệ thống bảo tàng trong và ngoài nước: nhằm mục đích quảng bá di sản gốm Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng một cách hữu hiệu. Các bảo tàng cần có những cuộc trưng bày hiện vật, tư liệu về các thể loại gốm này trong và ngoài nước (các cuộc trưng bày giao lưu cổ vật với những nước có nền văn hóa gốm tương đồng như Việt Nam sẽ là cơ hội để giới thiệu nền văn hóa gốm đặc sắc này đến với thế giới) nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, thưởng thức chiêm ngưỡng của nhân dân, giới thiệu những di vật đồ gốm của cha ông vào những dịp lễ lớn, hội hè, một phần nhằm nâng cao ý thức người dân trong việc bảo tồn di sản, mặt khác cũng giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự lực tự cường, nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc cho thế hệ trẻ.

   Thứ sáu, ứng dụng công nghệ thông tin trong quảng bá văn hóa du lịch, xây dựng cộng đồng trực tuyến để cung cấp thông tin cụ thể, chính xác, chi tiết di sản gốm cổ Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng hiện đang lưu giữ tại các bảo tàng nhằm hỗ trợ du khách lên kế hoạch tham quan và trải nghiệm văn hóa một cách sâu sắc, hấp dẫn. Xây dựng nền tảng trực tuyến tạo điều kiện để những người yêu thích, ham tìm hiểu di sản gốm cổ quan tâm trao đổi kiến thức, tạo ra nhiều ý tưởng hợp tác trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản này trong thời đại số.

   Tóm lại, trong kỷ nguyên số, vấn đề số hóa di sản hoa văn gốm cổ Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng là giải pháp then chốt, mang tính bền vững nhằm bảo tồn giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật gốm, đồng thời phát huy mạnh mẽ tiềm năng của di sản này trong đời sống đương đại.

   Gốm Phùng Nguyên và vùng đồng bằng sông Hồng là di sản văn hóa vô giá của Việt Nam, là niềm tự hào của người tiền sơ sử và người Việt Nam thời hiện đại. Cùng với sự phát triển của xã hội, các motif hoa văn trang trí dần biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc hơn về nội dung biểu tượng, phong phú hơn về hình thức thể hiện, phản ánh rõ nét quá trình biến đổi liên tục của văn hóa Việt thời tiền sơ sử. Hoa văn gốm Phùng Nguyên và gốm cổ vùng đồng bằng sông Hồng là một pho sử liệu quan trọng trong việc nghiên cứu đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội cộng đồng cư dân người Việt cổ. Hoa văn gốm Phùng Nguyên và vùng đồng bằng sông Hồng là sản phẩm văn hóa vật thể tiêu biểu đại diện cho tâm thức người Việt, là những ước vọng của người dân nguyên thủy gửi gắm vào từng họa tiết, hoa văn được bộc lộ rõ rệt trên cổ vật, tạo ra diễn trình phát triển của lịch sử văn hóa thời tiền sơ sử, khẳng định một chỗ đứng vững chắc trong nền mĩ thuật Việt Nam.

   Hoa văn gốm Phùng Nguyên và gốm cổ đồng bằng sông Hồng đã trải qua thời vàng son rực rỡ cho đến ngày nay vẫn nguyên giá trị. Vì thế, một mặt cần có những biện pháp bảo tồn và phát huy nền văn hóa bản địa, mặt khác phải chủ động học tập, tiếp thu những giá trị tích cực, những tinh hoa của văn hoá dân tộc để làm giàu cho kho tàng nghệ thuật của địa phương, điều này thực sự cần có sự quan tâm vào cuộc của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý văn hóa tại cơ sở và một phần trách nhiệm của người dân thì mới mong gìn giữ được tinh hoa vốn cổ cha ông đặc biệt trong kỷ nguyên số hiện nay.

Bình luận

    Chưa có bình luận