Sự hiện diện của các lý thuyết mới được giới thiệu cùng với những khái niệm công cụ và phương pháp phân tích mới có thể tạo điều kiện cho những tác phẩm văn học được coi như những hiện tượng đã hoàn tất trong đời sống văn nghệ có cơ hội được đọc lại, diễn giải thêm. Truyện ngắn Một người Hà Nội là tác phẩm khá nổi bật trong sự nghiệp của Nguyễn Khải, đã được tiếp nhận khá phong phú, đầy đủ từ giới nghiên cứu, phê bình; đồng thời sức hấp dẫn của văn bản vẫn có thể gợi mở những hướng tiếp cận mới từ các khung lý thuyết ngoài thi pháp học. Trong bối cảnh này, vận dụng lý thuyết diễn ngôn và phương pháp phân tích diễn ngôn của Michel Foucault trong nghiên cứu văn học có thể mang lại một cách đọc mới về truyện ngắn này. Cách tiếp cận này có thể khám phá từ văn bản các cơ chế kiến tạo ý nghĩa: cách mà Hà Nội được kiến tạo bản sắc qua các diễn ngôn cùng mối quan hệ giữa các diễn ngôn ấy, cách mà các chủ thể - các thị dân của thành phố, hình thành, chịu sự quy định và tìm cách thương thảo với các cấu trúc quyền lực/tri thức ấy. Bằng việc giải quyết những vấn đề này, không gian Hà Nội trong truyện ngắn có thể được quan sát với sự thay đổi, tái cấu trúc và kiến tạo trong các xung lực ý hệ phức tạp trong đời sống.
“Diễn ngôn” là một khái niệm công cụ quan trọng trong diễn trình tri thức và tư tưởng của Michel Foucault, dù không xuất hiện trên tư cách đối tượng trung tâm của một chuyên khảo hay một hệ thống lý thuyết phổ quát, khép kín. Quan điểm bền vững của Foucault về diễn ngôn là không coi khái niệm này tương đương nội hàm với ngôn ngữ, quy chiếu đơn giản với thực tại hay như các ký hiệu, mà “phải nhìn chúng như những thực hành có tính hệ thống, những thực hành kiến tạo nên chính các đối tượng mà chúng nói tới”. Theo nghĩa này, diễn ngôn không phải là một thực thể tồn tại tự thân có thể được phân tích biệt lập, mà là một cơ chế sản sinh, nó tạo ra phát ngôn, khái niệm, hiệu ứng. Một cấu trúc diễn ngôn có thể được nhận diện thông qua tính hệ thống của các ý tưởng, quan điểm, khái niệm, cũng như các phương thức tư duy và hành vi được hình thành trong một bối cảnh nhất định, và thông qua chính các hiệu quả mà chúng tạo ra. Sara Mills tổng thuật rằng “nên xem diễn ngôn như một hệ thống cấu trúc nên cách mà chúng ta nhận thức thực tại”. Như vậy, diễn ngôn là những quy tắc tạo nghĩa ngầm ẩn, vô hình trong đời sống. Thông qua việc các diễn ngôn đi vào vận hành, đời sống mới được tạo nghĩa, trở nên có ý nghĩa và có thể tri nhận được các ý nghĩa đó, thể hiện “dạng thực hành mà ta gán định lên chúng”. Bản thân diễn ngôn, vì tính chất tạo nghĩa này, cũng không bình ổn, trung tính, mà luôn gắn với tính chất ý thức hệ, gắn liền với quyền lực trong kiến tạo sự thật, “những ai đưa ra nhận định mà không ở các vị thế của quyền lực sẽ không được xem là đang nói sự thật”4. Trong khi đó, quyền lực lại không phải mối quan hệ đơn giản một chiều, mà là sự thương thảo phức tạp, luôn đi kèm sự kháng chống, nên đời sống là tập hợp của các diễn ngôn vận hành trong thế tương tranh, luôn tìm cách củng cố chính nó và loại trừ, phân phối những diễn ngôn còn lại. Chủ thể của diễn ngôn, vì vậy, cũng không đứng yên, không chỉ tồn tại trong tư cách được sản xuất sự thật mà còn có thể tự kiến tạo cho chính mình. Nói như Sara Mills: “cách tiếp cận của lý thuyết diễn ngôn nhìn nhận chủ thể như những tác nhân tham gia vào chính quá trình tự kiến tạo của mình: họ có thể chấp thuận, điều chỉnh hoặc kháng cự những vai trò được gán đặt (lên bản thân họ) trong mạng lưới diễn ngôn”5. Các chủ thể trong cấu trúc quyền lực cũng tham gia thương thảo, định nghĩa phức tạp về chính mình và người khác luôn trong tính quá trình. Từ những dẫn nhập trên về khung lý thuyết, việc đọc truyện ngắn Một người Hà Nội từ phương pháp phân tích diễn ngôn có thể được xem như một phác thảo về các cơ chế đã kiến tạo nên ý nghĩa, cách nghĩ về Hà Nội và người Hà Nội. Trong cách tiếp cận này, Hà Nội hiện ra như một đối tượng được định nghĩa qua nhiều diễn ngôn khác nhau, đồng thời các chủ thể thị dân cũng được quan sát trong quá trình hình thành, vận động của các quy tắc tạo nghĩa ấy. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung khảo sát hai phương diện chính: sự kiến tạo bản sắc đô thị và quá trình cấu thành chủ thể thị dân được thể hiện trong truyện ngắn.
1. Bản sắc đô thị Hà Nội trong các kiến tạo diễn ngôn
1.1. Hà Nội trong diễn ngôn đổi mới
Truyện ngắn mở đầu với khoảng thời gian “Năm 1955, tôi từ kháng chiến trở về”6. Trong thời gian này, Hà Nội trải qua một biến chuyển quan trọng về mặt chính trị - xã hội, khi thực dân Pháp bàn giao thành phố cho bộ máy quản lý mới tiếp quản; song đồng thời cũng được tái cấu trúc diễn ngôn bởi sự thay đổi trong cấu trúc quyền lực này. Quá trình cấu trúc lại Hà Nội thể hiện trong quá trình định nghĩa không gian sống trong mô hình đạo đức cách mạng. Với một cán bộ từ kháng chiến trở về như nhân vật “tôi”, không gian sống cũng là một chỉ dấu của ý thức hệ, mà thông qua đó lập trường, quan điểm hay giai cấp của con người được thể hiện. Diễn ngôn đổi mới của những người từ chiến khu trở về quy định rằng “với người vô sản, ở quá rộng cũng là một cái tội, trong khi cán bộ và gia đình họ phải chen chúc trong những khu nhà tập thể, có khi phải ở ngay dưới gầm cầu thang của nhà bạn bè”7. Quan niệm về không gian gắn liền với đạo đức của sự tiết độ, có khi thiếu thốn này nghiễm nhiên chặn lọc phần còn lại, những người “ở rộng quá, một tòa nhà tọa lạc ngay tại một đường phố lớn, hướng nhà nhìn thẳng ra cây si cổ thụ và hậu cung của đền Ngọc Sơn” (tr. 92) dù đã chắc chắn rằng không dính líu gì đến chính phủ tạm chiếm, thì vẫn không thể chia sẻ về mặt tư tưởng nhận thức, “khó gắn bó với chế độ mới và chế độ mới cũng không thể tin cậy được ở họ” (tr. 92). “Chuẩn mực mới” này thiết lập các tiêu chí về không gian, xây dựng những không gian có tính chính thống và phân loại những kiểu nơi chốn còn lại. Bằng diễn ngôn về nơi cư trú, không gian đô thị Hà Nội được tái định nghĩa, từ một không gian mang tính văn hóa - lịch sử, không gian mà “các phòng tiếp khách văn chương, gọi là salon littéraire” (tr. 94) thống lĩnh đời sống thuộc địa, trở thành một không gian được phân tầng theo đạo đức (mà đạo đức này thể hiện qua lập trường, quan điểm, không gian sống), nơi có một số người được định danh là gần gũi, gắn bó, có quan điểm đúng đắn và một số người ngược lại. Cùng với các nơi chốn, các thiết chế xã hội mới cũng góp phần tổ chức lại, chuẩn hóa lại hệ thống quan hệ xã hội, từ đời sống thường nhật trở đi. Ngôn ngữ xưng hô trở thành công cụ để nhận diện những người cách mạng, bắt đầu thâm nhập vào trong các tổ chức đời sống vi mô, nhỏ hẹp như gia đình. Trong không gian gia đình, từ tư duy về “anh Khải” cho đến “đồng chí Khải” (tr. 94) cho thấy sự thay thế của không chỉ quan hệ giao tiếp, mà còn là sự thâm nhập, thay thế của một cách nghĩ mới vào đời sống gia đình, trong đó quan hệ thân tộc và cá nhân bị loại trừ (hay tan hòa, đồng hóa), nhường chỗ ưu tiên cho quan hệ chính trị. Ngôn ngữ xưng hô trở thành các thiết chế mới, tái sản xuất và cấp thêm nghĩa cho đời sống cá nhân: trong gia đình, con người không chỉ tồn tại trong tư cách người anh họ, mà còn là một “đồng chí”, “cán bộ”. Sự thâm nhập sâu sắc của diễn ngôn đổi mới trong đời sống thường nhật của thị dân không chỉ biểu hiện bằng ngôn ngữ, mà thể hiện thành các định chế khá cụ thể, rõ ràng trong tư duy về “đời sống mới”, như nhận xét của bà Hiền, “can thiệp vào nhiều việc của dân quá, nào phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ mỗi tối, vợ chồng phải sống ra sao, trai gái phải yêu nhau như thế nào, thậm chí cả tiền công xá cho kẻ ăn người ở” (tr. 94). Hình thức của quyền lực đã lan tỏa, thâm nhập, thể hiện mong muốn điều tiết và tái cấu trúc những quan hệ nhỏ nhất của đời sống. Trong diễn ngôn đổi mới, đời sống Hà Nội cần được tổ chức lại bởi vì Hà Nội đã trải qua chín năm tạm chiếm, việc xây dựng lối sống mới, thoát khỏi “cách sống tư sản”, nên cần phải vận hành đời sống qua các thao tác thiết lập sự quản trị vô hình. Cơ chế tái sản xuất đời sống và bản sắc đô thị, nỗ lực xây dựng một thành phố cách mạng không chỉ bằng cách chặn lọc những người, những không gian bị cho là dính líu đến đời sống tư sản (dù không chắc chắn), “không dám thốt ra miệng nhưng vợ chồng vẫn bảo riêng nhau [...] việc mình mình biết, việc cô mặc cô, dính líu nhiều có ngày lại rắc rối” (tr. 93), hoặc bằng các cơ chế loại trừ, triệt tiêu như cho đi học tập cải tạo (tr. 95)... mà còn biểu hiện trong hình thức giám sát công khai8 của bộ máy quản lý. Sự giám sát công khai này không chỉ biểu hiện trong quy định nếp sống thường nhật, mà còn xuất hiện trong những quan hệ xã hội rất nhỏ, “những chuyện lặt vặt” (tr. 95). Trong sự đề phòng gia đình được xem như tư sản là gia đình bà Hiền, bộ máy quản lý vẫn cử cán bộ theo dõi hàng ngày, hỏi những câu hỏi về tư tưởng chính trị, quan điểm giai cấp của nhà bà Hiền: “Chị có bị nhà chủ hành hạ không? Tiền công có đưa đều đặn không? Thái độ chính trị của họ là như thế nào?” (tr. 95). Một mạng lưới kiểm soát phân tán đã hình thành xung quanh các gia đình được coi là thành phần thân tư sản; kẻ ăn người ở - người làm công, giai cấp lao động, đều có thể là một mắt xích tiềm năng trong hệ thống quan sát của bộ máy đó. Thông qua những công cụ kể trên, bộ máy tiếp quản thành phố thực hiện việc theo dõi, “uốn nắn” đời sống đô thị. Thông qua quá trình kiến tạo ý nghĩa này, Hà Nội chuyển hóa dần dần thành một không gian đổi khác biệt hoàn toàn so với quá khứ, được tổ chức lại bởi diễn ngôn đổi mới, trong khi ý thức xây dựng một bản sắc đô thị mới hiện rõ trong rất nhiều tương tác xã hội. Qua những kiến tạo về mặt ý thức này, cùng với các chuyển biến phức tạp khác về mặt hạ tầng, Hà Nội chuyển mình, từ một thành phố của các thị dân tiền chiến, trở thành một Hà Nội trên con đường cách mạng hóa, tái kiến tạo.
1.2. Hà Nội trong diễn ngôn truyền thống
Trong quá trình các diễn ngôn đổi mới được bồi đắp và kiến tạo trên nền tảng của một đô thị trải qua nhiều năm là thủ phủ của thuộc địa Đông Dương thuộc Pháp, cũng như chín năm là “vùng tạm chiếm” của chính quyền thực dân, rất dễ hiểu khi nó gặp phải các kháng cự bởi một số chủ thể cũ của thành phố - các thị dân, bằng việc sử dụng các diễn ngôn khác cùng tồn tại, tương tranh với nó, vì “diễn ngôn vừa là những công cụ để đàn áp nhưng đồng thời cũng là những công cụ để kháng chống9. Đối lập, tìm cách khước từ diễn ngôn đổi mới, các chủ thể thị dân cũ tìm cách bảo lưu một diễn ngôn khác, diễn ngôn “truyền thống” về Hà Nội. Trong diễn ngôn này, Hà Nội chưa phải một không gian bị kiểm soát mà là một không gian của ký ức văn hóa được tích lũy qua thời gian. Cách tổ chức không gian của đời sống này rất khác với kiểu tổ chức đời sống gắn liền với sự tiết chế, khổ hạnh như một thứ đạo đức, “là vinh chứ không là nhục” (tr. 96) của đời sống vô sản. Ngôi nhà của cô Hiền như thể một không gian sống tách biệt, dị biệt khỏi không gian sống hiện tại, liên tục bảo lưu và duy trì các thói quen trong quá khứ, các nếp nhà “bàn ăn trải khăn trắng, giữa bàn có một lọ hoa nhỏ, bát úp trên đĩa, đũa bọc trong giấy bản và từng người ngồi đúng chỗ đã quy định” (tr. 93). Không gian không bị quy giản về giá trị sử dụng thuần túy, giản lược “ăn cốt để sống, để làm việc, hay hớm gì cái thứ lễ nghi.. giai cấp tư sản” (tr. 93) mà duy trì các chuẩn mực, đi kèm với những ký ức về đời sống văn hóa tiền chiến, là đời sống quá khứ tiếp diễn và khép kín khỏi hiện tại. Nếp sống thị dân và các chuẩn mực thẩm mĩ, nghi thức đã kiến tạo gia đình bà Hiền thành một không gian hoàn toàn xa lạ với đời sống bên ngoài, dẫn đến những quy kết cho gia đình bà là tư sản, cũng đồng thời phát lộ sự va chạm giữa các diễn ngôn: một bên tìm cách tổ chức lại đời sống, xây dựng đời sống mới; một bên vẫn muốn bảo vệ nó, coi nó như các chuẩn mực, cốt lõi. Đời sống thị dân nối dài này liên tục chặn lọc các kiến tạo về “con người mới” thông qua ý niệm về căn tính người Hà Nội của bà Hiền và giới thị dân cũ, “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không được tùy tiện, buông tuồng” (tr. 96). Hà Nội không chỉ là danh xưng địa lý, mà là các hệ thống văn hóa riêng biệt, không tan lẫn giá trị vào các giá trị văn hóa khác; chủ thể tự kiến tạo các giá trị về Hà Nội thông qua việc khẳng định các giá trị về lễ độ, phong cách sống, vì vậy, khi đối diện với lời so sánh “thành phố Sài Gòn rộng hơn, đông hơn, đẹp hơn Hà Nội của mình, và người dân Sài Gòn cũng lịch thiệp nhã nhặn hơn người dân Hà Nội” (tr. 98), các công dân cũ của Hà Nội “nín lặng, không một ai hỏi lại, không một ai bình phẩm gì thêm” (tr. 98). Các “cựu công dân” thành phố tìm cách khẳng định sự hiện diện của một đô thị mang trầm tích văn hóa, kháng cự các ý niệm mới về thành phố bằng cách giữ nguyên, kéo dài đời sống cũ và ngăn chặn các chuẩn mực mới xâm phạm vào đời sống. Quá trình chặn lọc của diễn ngôn này đã sản sinh ra các bữa tiệc tại gia trong không gian gia đình bà Hiền. Các bữa tiệc tại gia hàng tháng, với sự tham gia của “các cựu công dân Hà Nội, những tên tuổi đã thành danh của đất kinh kỳ” (tr. 97) này có thể được xem như sự nối dài của các “phòng tiếp khách văn chương, gọi là salon littéraire” (tr. 94) ngày trước, vẫn là nơi giao lưu gặp gỡ của tầng lớp tự coi mình là giai tầng có thể “làm chuẩn cho mọi giá trị” (tr. 98), có quyền sở hữu và định hình, điều phối các giá trị văn hóa và tri thức. Trong một không gian và thời gian hữu hạn, tồn tại ngắn ngủi nhưng tách biệt hoàn toàn với đời sống của thành phố đang chuyển mình, các bữa tiệc này khiến những người đàn ông đang dần hòa lẫn vào đời sống chung được “bỏ áo khoác ngoài bên trong còn mặc đồ bộ, thắt cà-vạt, nhưng đã sờn bạc cũ kỹ” (tr. 97), giúp các bà ngày thường “áo bông ngắn, quần thâm, đi dép hoặc đi guốc, vuông khăn len tơi tớp buộc quanh cổ hay bịt đầu” (tr. 97) trở thành những người quý phái như thể đến từ thời thuộc địa, “bà chủ xuất hiện trước như diễn viên trên sân khấu, lược giắt trâm cài hoa hột lấp lánh, rồi một loạt bảy tám bà tóc đã bạc hoặc nửa xanh nửa bạc, áo nhung, áo dạ, đeo ngọc đeo dây đi lại uyển chuyển” (tr. 97). Mãi về sau này, đời sống đổi thay qua nhiều năm, nhà bà Hiền vẫn lưu giữ các văn vật của thời đại cũ, sang trọng, quý phái, nằm ngoài đời sống chủ lưu, “bộ xa-lông gụ [...], cái tủ chùa một cánh bên trong bày một cái lọ men Thúy Hồng, một cái lư đời Hán, một cái liễn hấp sâm Giang Tây” (tr. 100). Không gian nhà bà Hiền trở thành một không gian dị biệt10, nối kết ngôi nhà với thời gian quá khứ, trong ký ức, chuẩn mực và văn hóa. Vì sự hiện diện cùng lúc của các diễn ngôn, bản sắc đô thị Hà Nội không tĩnh tại mà luôn trong trạng thái biến động, được/bị kiến tạo bởi nhiều xung lực khác nhau. Hà Nội trong trường hợp này cũng không nên được hiểu như một không gian bị phân tầng với cấu trúc trên - dưới, áp đặt - kháng cự, mà là một tổng hòa giữa các diễn ngôn liên tục kiến tạo và xây dựng bản sắc thành phố. Không gian thành phố cũng chỉ được kiến tạo bởi hai diễn ngôn đổi mới và diễn ngôn truyền thống, mà thực tế là một thực thể mở, nơi dung chứa rất nhiều giá trị cùng tồn tại, chẳng hạn Hà Nội thời Đổi mới đã xuất hiện những thực hành không trùng khít với hai kiểu trên, “Bây giờ là thời của các giám đốc công ty, các tổng giám đốc công ty, các cố vấn, chuyên viên kinh tế thật giả đủ loại lên ngôi ban phát mọi tiêu chuẩn giá trị cho cả xã hội” (tr. 98), phủ nhận cả những giá trị mà đời sống đổi mới sau 1954 lẫn đời sống thị dân truyền thống nỗ lực xây dựng và kiến tạo. Vì vậy, có thể nói, bản sắc Hà Nội vốn không ổn định, không có giá trị nào giữ được tính chất lâu dài, nhưng đồng thời cũng biểu hiện chiều kích rộng rãi, đa dạng, phong phú của bản sắc, bởi những diễn ngôn này tồn tại đồng thời, liên tục ảnh hưởng và góp phần kiến tạo nên nhau, “mỗi thế hệ đều có thời vàng son của họ” (tr. 101).
2. Chủ thể thị dân trong diễn ngôn đô thị
2.1. Chủ thể thị dân được/bị diễn ngôn quy định
Đối diện với các diễn ngôn, con người thị dân liên tục trở thành các đối tượng bị định danh trong mạng lưới quyền lực và tri thức. Mỗi diễn ngôn lại có một hình thức kiến tạo nên cách nghĩ, cách định dạng con người khác nhau. Trong diễn ngôn đổi mới, con người được định danh trên chiều kích giai cấp và thái độ chính trị. Chẳng hạn, “tôi” tự định vị mình là vô sản, thông qua lối sống bình dân, qua lý lịch cán bộ, và vô hình trung trở nên lo lắng về gia đình người cô “dù không có gì đáng để phải lo” (tr. 92). Gia đình bà Hiền bị định vị “đích thị là tư sản rồi” (tr. 93) mặc dù không thể kết luận cụ thể mà chỉ dựa trên một kiểu sống xa lạ với người bình dân: ăn mặc quá sang, kiểu cách, ở nhà quá rộng. Diễn ngôn trở thành công cụ phân loại xã hội và con người cũng không tránh khỏi lối nghĩ này, tự động phân loại giai cấp để đảm bảo an toàn cho bản thân dù không ai yêu cầu và cũng không có căn cứ cụ thể. Diễn ngôn không áp đặt từ bên ngoài, mà được con người chủ động nội hóa, đồng nhất hóa. Người kể chuyện “tôi” đã tiếp nhận, khẳng định và hỗ trợ tái sản xuất chính hệ thống phân loại ấy bằng cách tự phân loại mình và phân loại những người xung quanh. Diễn ngôn, thông qua đó, khiến cho con người tự kiểm soát chính mình, tự động tuân thủ và do đó tham gia vào quá trình duy trì, củng cố quyền lực của nó. Vì vậy, không chỉ có bà Hiền bị diễn ngôn đổi mới quy kết là thành phần tư sản “tiềm năng” qua các cuộc chất vấn với người ở, chất vấn về căn nhà ở Hàng Bún (tr. 95-96) bởi đại diện từ phía cán bộ chính quyền, mà diễn ngôn này trùm phủ vô hình, chi phối suy nghĩ và hành động lên tất thảy mọi người trong đời sống. Với “tôi”, đó là sự chủ động “lý lịch cán bộ tôi không ghi tên cô Hiền” vì “vẫn đinh ninh cô phải thuộc giai cấp tư sản vì có gương mặt đặc biệt tư sản” (tr. 95), chủ động tách mình khỏi gia đình bà Hiền. Song, với các chủ thể tự cho là nằm ngoài diễn ngôn ấy, tự nhận “một đời tao chưa từng bị ai cám dỗ, kể cả chế độ” (tr. 96), thì bà Hiền cũng không thể đứng ngoài, không phản ứng với nó. Bà Hiền vẫn biết cách sống trong diễn ngôn đổi mới một cách yên ổn, bán đi ngôi nhà ở Hàng Bún, can ngăn chồng mở xưởng in, biết tổng kết “làm hoa giấy không thể làm giàu được nhưng lại rất đủ ăn, lại nhàn, lại không phải lo sợ gì” (tr. 96). Các cựu thị dân của thành phố đã từng đi học tập cải tạo tư tưởng, hiểu được tình trạng của mình là luôn trong tình trạng bị quan sát nên đã thích ứng bằng cách mở những bữa tiệc tại gia, duy trì lối phong vận của thời đã qua.... Trong sự thống trị của đời sống kinh tế thị trường mới, người ta cũng biết cách thích nghi với nó, “thử đội mũ dạ, áo bađờ-xuy, cưỡi con cúp xem, thưa gửi tử tế ngay” (tr. 101). Có thể thấy, đối diện với các cách tạo nghĩa cho đời sống, không có chủ thể nào, dù chủ động đứng bên trong hay tách mình ra khỏi nó, lại thoát được, nằm ngoài diễn ngôn. Với các diễn ngôn quy định khác, con người cũng luôn thích nghi bằng cách tạo ra các thích ứng tương ứng. Tình trạng liên tục quy định và thích nghi trong động hướng đa dạng của các diễn ngôn này tạo ra tình trạng khác của các chủ thể: các chủ thể tìm cách thương lượng, thích ứng, kháng cự và tái cấu trúc bản sắc thị dân.
2.2. Chủ thể thị dân thương lượng với diễn ngôn
Đứng trong diễn ngôn, thị dân không hoàn toàn bị động mà tìm cách thương lượng, đồng thời thể hiện sự kháng cự, đồng thời, sự thích ứng với các diễn ngôn này cũng cho thấy khả năng có thể thương thảo của các diễn ngôn nhờ các chiến lược tinh vi. Bà Hiền nhìn thấy được tình trạng bị gạt ra khỏi đời sống chính thống do lý lịch và đời sống tách khỏi nhịp sống đang được kiến tạo trong thành phố của gia đình mình, song cũng biết cách tồn tại một cách yên ổn, tìm thấy sự cân bằng. Phần nào ý thức về hệ thống phân loại đang diễn ra trong đời sống, bà Hiền chủ động lựa chọn làm một nghề đủ ăn, không thể giàu được, “tao có bộ mặt rất tư sản, một cách sống rất tư sản, nhưng lại không bóc lột ai cả thì làm sao thành tư sản được” (tr. 95). Ý thức này là biểu hiện của quá trình “thương thảo” với các diễn ngôn đang tìm cách phân loại nhị nguyên tư sản/vô sản cứng nhắc đương thời, đưa vào một tiêu chí khác là bóc lột, làm lệch đi hệ thống phân loại, cũng là cách bà Hiền bảo vệ chính mình và gia đình. Quá trình điều chỉnh này tiếp tục được củng cố bởi chiến lược “chỉ cần đủ ăn”, bán ngôi nhà ở Hàng Bún, chỉ làm hoa giấy, “chú tuy chưa già nhưng đành để ngồi chơi, các em sẽ đi làm cán bộ, tao sẽ phải nuôi một lũ ăn bám, dầu họ có đủ tài để không phải sống bám” (tr. 96). Sự thương thảo của chủ thể thị dân với diễn ngôn là quá trình thực hành kéo dài xuyên suốt cùng với sự trưởng thành và đổi thay của thành phố. Người lính trở về từ chiến khu, trở thành chủ thể trung tâm của thành phố, kiến tạo nên đạo đức của lối sống vô sản, bình dân, thiếu thốn là vinh... trải qua sự huy hoàng và khẳng định vị thế “người lính vừa chiến thắng, người lính đang được cả xã hội trọng vọng” (tr. 98), song đến thời Đổi mới, cũng phải chấp nhận nhường vị thế độc tôn cho các giám đốc công ty và chuyên viên kinh tế. Các công dân cũ của Hà Nội, dẫu tự tin duy trì một lối sống trang trọng, đài các, vẫn có thói quen vào dịp tết “lau đánh một cái bát thủy tiên men đỏ” (tr. 100) dù đã trải qua thời gian rất lâu Hà Nội không còn thấy thủy tiên và những người biết gọt thủy tiên, biết thưởng thức thủy tiên, thì vẫn phải chấp nhận sự biến chuyển, đổi thay, sự không bền vững của những giá trị, chấp nhận rằng thế hệ của họ đã hoàn thành vai trò chuẩn mực xã hội của mình. Bà Hiền, qua cơn bão đánh sập cây cổ thụ ở đền Ngọc Sơn, đã hiểu Hà Nội cũng không chỉ có một thời của bà là vàng son, “thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho một lứa tuổi” (tr. 101). Cùng với sự biến đổi của bản sắc đô thị, thứ vừa góp phần củng cố các cách nghĩ, vừa tạo điều kiện mở rộng cho sự đồng thời cùng tồn tại của những diễn ngôn khác nhau, các chủ thể thị dân cũng lựa chọn những cách thương lượng, thích ứng với các diễn ngôn, trong khi vẫn không ngừng tìm cách duy trì một không gian riêng để kiến tạo bản sắc.
Qua các biến động lịch sử, cùng với sự chấp nhận sự tồn tại đồng thời của nhiều diễn ngôn trong không gian thành phố, các thị dân, trong các hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, cũng chấp nhận thay đổi bản sắc, hoặc tìm cách để bản sắc của mình hòa nhập vào đời sống chung của thành phố, tức hòa giải với các diễn ngôn. Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, trước quyết định xin nhập ngũ vào Nam chiến đấu của con trai, bà Hiền “đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hy sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng” (tr. 97), trong khi mục tiêu giáo dục con cái của bà Hiền là “dạy chúng nó biết tự trọng” (tr. 96). Lúc này, biểu hiện của lòng tự trọng, được xem là một trong những “chuẩn mực” của người Hà Nội mà bà Hiền và tầng lớp của bà luôn tìm cách duy trì và bảo vệ, lại trùng khớp với ý thức về tập thể, ý thức về vận mệnh của quốc gia trong chiến tranh. Diễn ngôn truyền thống Hà Nội của thị dân đã tìm thấy chỗ hòa giải với diễn ngôn đổi mới trong hoàn cảnh như vậy, “tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả hoặc chết cả, vui lẻ thì có hay hớm gì” (tr. 97).
Sự vận động bản sắc thị dân trong các diễn ngôn, trong quan hệ chặt chẽ với ý niệm về thành phố được kiến tạo như một không gian có khả năng dung nạp đồng thời nhiều giá trị, đã đi từ việc bị diễn ngôn quy định, nối dài quán tính của các diễn ngôn truyền thống trong đời sống, đã tìm được chỗ hòa giải giữa các diễn ngôn bằng cách chủ động thương lượng, thích nghi và thay đổi bản sắc của mình. Thị dân, dù đứng từ phía nào, cũng thừa nhận sự tồn tại của nhiều diễn ngôn khác, đã chủ động thay đổi bản sắc của mình để thích nghi với một thành phố không ngừng biến đổi, trong khi vẫn không ngừng hi vọng về bản sắc tương lai “những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kỳ chói sáng những ánh vàng” (tr. 101).
3. Kết luận
Từ cách tiếp cận từ lý thuyết diễn ngôn, truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải phác thảo một Hà Nội được kiến tạo, tái định nghĩa và tranh chấp liên tục qua nhiều hệ diễn ngôn khác nhau. Sự va chạm giữa các diễn ngôn này không dẫn đến sự triệt tiêu lẫn nhau, mà tạo nên một cấu trúc đô thị đa tầng, luôn vận động, trong đó bản sắc của Hà Nội không bao giờ đạt đến trạng thái ổn định. Chủ thể thị dân không tồn tại như một thực thể cố định mà liên tục được sản sinh, quy định, đồng thời tự điều chỉnh và tái cấu trúc trong mạng lưới quyền lực/tri thức. Từ bị quy định bởi diễn ngôn, cho đến thương lượng và thích ứng, các chủ thể đã cho thấy tính năng động và khả năng tự kiến tạo trong giới hạn của những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể. Chính quá trình này làm lộ rõ bản chất của đô thị như một không gian diễn ngôn: không phải nơi phản ánh thực tại, mà là nơi sản sinh các hình thức hiểu về thực tại. Do vậy Hà Nội trong truyện ngắn không chỉ là một địa điểm, mà là một cấu trúc ý nghĩa mở, nơi các giá trị không ngừng bị đặt lại, phân phối và tái cấu hình trong dòng vận động của lịch sử.
Chú thích:
* Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
1 Michel Foucault (2002), Archaeology of Knowledge, NXB Routledge, p. 54.
2, 3, 4, 6, 7 Sara Mills (2021), Michel Foucault, Nguyễn Bảo Trung dịch, NXB Dân trí, tr. 101, 101, 105, 92, 92.
8 Chúng tôi sử dụng cụm từ “hình thức giám sát công khai” là để phân biệt với một hình thức giám sát khác, tinh vi, toàn năng và hiệu quả hơn nữa, được giới thiệu trong Giám sát và trừng phạt - nguồn gốc nhà tù như là một “hệ thống giám sát toàn cảnh”. Hệ thống giám sát này được Foucault liên tưởng từ kiến trúc của nhà tù hình tròn Panopticon. Trong kiến trúc này, Foucault mô tả các giám thị sẽ luôn đứng trong bóng tối, gây cho các tù nhân cảm giác luôn bị giám sát, mặc dù không thực sự nhìn thấy người giám sát. Cảm giác này tạo ra sự uốn nắn tự nguyện đến từ phía người bị giám sát, và kiểu hình này còn được mở rộng ra, được quan sát như một biểu hiện của mô hình quản trị xã hội, tạo ra những con người ngoan ngoãn, nơi mỗi người trở thành người tự quản trị, điều tiết chính mình. So với hình thức giám sát vô hình kể trên, cách quản trị của bộ máy quản lý thành phố Hà Nội trong truyện ngắn vẫn khá sơ khai, thể hiện quan niệm của Nguyễn Khải về một chính quyền còn rất mới, vẫn đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện về thể chế.
Xem thêm: Michel Foucault (2022), Giám sát và trừng phạt - nguồn gốc nhà tù, Trần Thị Châu Hoàn, Nguyễn Ngọc Tuấn dịch, Hoàng Hưng hiệu đính, NXB. Tri thức; tr. 272-278. 9 ” [6; 101]
10 Khái niệm “không gian dị biệt” hay “dị chốn” (heterotopia) được giới thiệu bởi Michel Foucault nhiều lần trong sự nghiệp. Foucault quan niệm kiểu không gian này rất gần với quan niệm về không gian không tưởng (utopia), song lại tồn tại có thực trong đời sống xã hội. Kiểu không gian này tồn tại như “utopia đã được hiện thực hóa, nơi mà tất cả các định vị thực khác tồn tại trong nền văn hóa ấy vừa được biểu hiện, vừa bị chất vấn, vừa bị đảo ngược; là những nơi chốn ở bên ngoài mọi nơi chốn, mặc dù vẫn có thể được định vị một cách cụ thể”; tức là góp phần kiến tạo các nơi chốn không tương thích, nằm ngoài diễn ngôn đang làm chủ lưu của hiện tại. Qua sự kiến tạo các không gian này, chính các diễn ngôn vô hình đang thống trị sẽ bị phơi lộ ra, trở nên sáng tỏ, qua đó góp phần thực hiện sự chất vấn với các chuẩn mực hiện tại.
Trong trường không gian gia đình bà Hiền, đây là kiểu không gian nối dài, liên kết với thời gian quá khứ, thông qua đó tách biệt với đời sống chủ đạo, được kiến tạo trong thành phố; qua đó kháng cự lại những chuẩn mực mà diễn ngôn đổi mới hiện thời tìm cách xây dựng, xác lập lại các giá trị thị dân.
Xem thêm: Michel Foucault (1986), “Of other spaces”, Diacritics: A Review of Contemporary Criticism, vol. 16, no. 1, p. 22-27.