Bài viết này nhằm trả lời câu hỏi: Yếu tố huyền ảo trong Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (CNHTHA) và các sáng tác của G. Marquez có liên hệ gì với nền văn hóa nhân loại và bản địa Mĩ Latin? Vì sao tấm da dê trong Trăm năm cô đơn lại được viết bằng tiếng Phạn và phải đọc to lên mới có thể lĩnh ngộ? Bằng phương pháp phê bình huyền thoại, phân tích cấu trúc và văn hóa – lịch sử, bài viết đã xem xét yếu tố huyền ảo trong cấp độ tự sự thứ nhất là câu chuyện (story) của G. Marquez từ các đặc điểm của thần chú.
1. Yếu tố huyền ảo trong tác phẩm hiện thực huyền ảo
“Yếu tố”, tiếng Hy lạp là stoikheion, tiếng Latin là elementum, nghĩa là nguyên lý đầu tiên, hình thức cơ bản nhất. Trong tổng thể, yếu tố có tính chất quan trọng có khả năng thay đổi tổng thể với vai trò thành phần của mình. Trong CNHTHA, yếu tố huyền ảo “là những gì mà chúng ta không thể giải thích dựa vào quy luật vũ trụ vốn được hình thành từ tinh thần kinh nghiệm phương Tây.”. Các yếu tố này phải tập trung có hệ thống, lặp lại mang tính quy luật và đủ sức tác động đến tổng thể tự sự hiện thực huyền ảo (HTHA). Trong sáng tác HTHA của Garcia Marquez, có thể kể ra khá nhiều trường hợp tái lặp như “thành phố trong tương lai với những tòa nhà kính khổng lồ” hay các cô gái điếm trong Biển của thời đã mất và Trăm năm cô đơn; cơn gió bạo cuồng trong Gió bắc, Trăm năm cô đơn, Bão lá; và tư thế bọn trẻ “đã chết cứng và được vĩnh hằng hóa trong khoảnh khắc đái vào chậu men sứ” với cái chết của đại tá Buendia trong Trăm năm cô đơn; đặc biệt, xuất hiện nhiều nhất có lẽ là hình tượng người chết trôi trong Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Biển của thời đã mất, Trăm năm cô đơn… Bởi tiếp xúc trực tiếp với cái chết là ấn tượng khó phai nên G.Marquez đề cập trong hồi ký khi thấy xác tên trộm bị bà Maria bắn chết, thi hài ông người Bỉ (nguyên mẫu và hình tượng cho Bão lá) – “đó là 10 phút ấn tượng nhất trong cuộc đời”.
Yếu tố này lặp đến một độ nhất định, tức có tính quyết định hệ thống và nhấn mạnh chủ đề của tự sự, thì sẽ trở thành motif. Motif có nguồn gốc từ motivus – tức chuyển động, theo nghĩa này, sự lặp lại được nhìn như một tiến trình, không phải thời đoạn; cũng vì thế nó liên tục bổ sung và hoàn chỉnh nội dung câu chuyện tác giả gửi gắm, hoặc người đọc tiếp nhận thông qua văn bản. Câu chuyện ấy nổi rõ lên nhờ sự nhấn mạnh các ý tưởng, hình ảnh... tuy không phải luôn giống nhau nhưng lại cùng hướng đến đích chung nhất: chủ đề. Nếu tự sự được xem như một hành vi giao tiếp bằng ngôn ngữ, được miêu tả bằng mô hình giao tiếp của Roman Jakobson gồm 06 thành phần: người gửi, thông điệp, người nhận, ngữ cảnh, kênh truyền và mã – thì việc lặp một số yếu tố trong thông điệp giao tiếp tạo nên nhịp điệu cho tự sự; điều này đưa hiện tượng lặp các motif huyền ảo trong CNHTHA đến gần với khái niệm và tính chất thần chú.
2. Yếu tố huyền ảo tái lặp như là motif tự sự
Tomashevsky, trong Thematics (1965), đặt vấn đề liệu motif là đơn vị cơ bản của câu chuyện hay truyện kể/văn bản/cốt truyện. Theo chúng tôi, motif là những đơn vị cơ bản, thiết yếu, không thể chia nhỏ/lược bỏ trong câu chuyện. Nếu nhìn vào thứ tự chúng xuất hiện thì vấn đề thuộc bình diện cốt truyện/văn bản; nếu suy đoán, luận giải ý nghĩa thì phải quan tâm đến mối quan hệ giữa sự kiện này với sự kiện khác trong luật nhân quả. Đây là góc nhìn khi khảo sát motif như là thành phần cơ bản của câu chuyện. Tomashevsky phân biệt motif đóng và motif tự do; xét câu chuyện Trăm năm cô đơn, hệ thống motif đóng bao gồm: ra đi – rời bỏ vườn địa đàng, bị cô lập, cô đơn; quan hệ cận huyết, loạn luân, tính dục, tội lỗi; tuyệt diệt, khải huyền... chúng định hình câu chuyện và kết nối với huyền thoại Kinh Thánh Thiên Chúa giáo. Ngược lại, các motif như người bay lên trời, vết máu chảy len lỏi về nhà báo tin, vết tro trên trán 17 người con đại tá Buendia... là những motif tự do, hé lộ nhiều điểm nổi bật về nhân vật, đời sống, đặc biệt là quan niệm nghệ thuật tác giả. Thật ra, không phải motif đóng mà motif tự do mới thể hiện tính cách, dấu ấn riêng nhà văn. Ngoài lặp các chi tiết đặc trưng, motif tự do trong Trăm năm cô đơn còn nằm ở những lời nói định hình tính cách và số phận. Đó là câu khẳng định tình cảnh bị vây bọc của lão trượng Jose Arcadio Buendia, lời dẫn “rất nhiều năm sau này đứng trước đội hành hình” dành cho đại tá Aureliano Buendia hay câu cửa miệng “cuộc đời ngắn ngủi lắm” của Aureliano Segundo. Các motif lời nói này được lặp lại, gắn với một nhân vật và dự báo cuộc đời họ; ở góc độ này, hệ thống motif lời nói có vai trò như một kiểu thần chú. Tuy vậy, mọi sự phân biệt thường chỉ mang tính phương tiện, motif đóng và tự do cũng không ngoại lệ. Motif được nhìn trong mối quan hệ với nhau tạo thành câu chuyện, nhưng nếu xét đến ý nghĩa lặp lại tức là đang bàn đến diện văn bản – truyện kể, khía cạnh ảnh hưởng đến cốt truyện chúng là motif đóng còn khi bổ sung các lớp ý nghĩa cho câu chuyện, chúng là motif tự do. Trái ngược với tính đối lập, ở cả hai bình diện này, motif đều nhấn mạnh, thể hiện chủ đề của câu chuyện. Có vẻ như sự phân biệt motif và con đường khảo sát chúng khá nhập nhằng; khảo sát motif trong tự sự cần được nhìn từ nhiều phía.
Roland Barthes, trong An Introduction to the Structural Analysis of Narrative (1975), tiến hành phân biệt chức năng (chính yếu, xúc tác), chỉ hiệu và các dạng thức chi tiết hơn. Tự sự HTHA sẽ lưu ý đến chúng trong khâu tác giả lựa chọn các chức năng huyền ảo gửi đến người đọc thông qua văn bản (trục ngang); ví dụ như chi tiết bóng ma Prudencio hiện về ám ảnh vợ chồng nhà Buendia. Ngược lại, các chỉ hiệu lại phát huy tác dụng trên trục liên tưởng; yếu tố huyền ảo, như vậy, hướng đến cấp độ ý nghĩa hơn là hành động. Đây là bình diện trục dọc trong mô hình giao tiếp, thuộc phạm vi của ngữ cảnh, tiếp xúc, mã... Chúng bao gồm các chỉ hiệu thuần túy (pure index) như căn nhà truyền thống đồ sộ thể hiện vị thế và gia sản của gia đình Buendia ở làng Macondo; còn chỉ hiệu thông tin (informative index) bao gồm các xác định không gian thời gian theo nghĩa đen; tất nhiên, chúng cũng có thể trở thành thuần túy khi mang tính mã hóa như trận mưa kéo dài 4 năm, 11 tháng, 2 ngày. Bàn về mối quan hệ giữa các chức năng – chỉ hiệu, Barthes cho rằng giữa chỉ hiệu thuần tuý và chỉ hiệu thông tin có quan hệ võ đoán (arbitrariness), tức mối quan hệ giữa thông tin có thể suy luận tiếp tục và thông tin cụ thể, có nghĩa đen. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, trước đó, cần xác định chỉ hiệu đến mức nào thì chuyển từ thuần túy sang thông tin. Ví dụ cảnh Remedios người đẹp bay lên trời nếu mang tính mã hóa thì là chỉ hiệu thông tin nhưng tính mã hóa này của Garcia Marquez, hay của bản thân người đọc thì lại là vấn đề khác. Garcia Marquez cho rằng Remedios người đẹp bay lên trời chỉ là bản thân nó và ngạc nhiên khi các thầy giáo dạy văn lại liên hệ đến hình ảnh Đức Mẹ thăng thiên. Điều này có nghĩa là tính võ đoán thể hiện ngay trong bản thân chỉ hiệu thông tin hay thuần túy; mối quan hệ này sẽ liên tục biến chuyển; võ đoán ở đây mang khả năng rất cao và mối quan hệ bản thân chỉ hiệu cũng như giữa các chỉ hiệu với nhau là một quá trình. Điểm này tạo điều kiện diễn giải các chỉ hiệu như mưa hoa vàng trong Trăm năm cô đơn khi lão trượng Buendia chết, nguyên do tấm da dê viết bằng tiếng Phạn cũng như nhiều mã hóa khác được đan cài, đã đang và sẽ được khám phá, giải thích. Thế nên, mối quan hệ giữa hệ thống chỉ hiệu với nhau tạo nên một hệ dọc, tác động nhiều tầng lớp, gián tiếp, khó giải, huyền diệu nhưng lại là sức mạnh của hệ thống tự sự HTHA. Sự chuyển hóa của nó diễn ra qua lại trong đời sống là giữa khả năng và ước mơ, trong thủ pháp nghệ thuật là kể chuyện và phục bút, trong văn hóa là sức mạnh của lời nói – thần chú... Barthes còn phân biệt quan hệ tất suy và tương suy; motif huyền ảo của G.Marquez, thường đóng vai trò chức năng xúc tác, bổ sung cho chức năng chính yếu như một cụm mệnh đề quan hệ. Ngược lại, khi xây dựng câu chuyện huyền ảo, G.Marquez thường phát triển mối quan hệ tương suy của các motif hiện thực như trong Quà tết: ánh sáng cũng như nước; người ta có thể chết chìm trong nước nên cũng có thể chết chìm trong ánh sáng.
Trước sự biến chuyển linh hoạt các dạng thức chức năng và chỉ hiệu, nhằm thuận lợi tiếp cận mảng nội dung tự sự này, chúng tôi nhấn mạnh tính tổng thể của motif chức năng liên kết theo chiều ngang và chỉ hiệu liên tưởng theo chiều dọc. Thực ra, đây là sự tổng hợp từ khái niệm motif trong văn bản tự sự của Tomashevsky với phân biệt chức năng và chỉ hiệu của Roland Barthes. Motif chức năng thường là các motif động, chính yếu, mang tính thúc đẩy câu chuyện. Ở cấp độ câu chuyện, loại motif này đóng vai trò quan trọng khi liên kết sự kiện theo chiều ngang nhưng cũng không loại trừ khả năng liên tưởng theo chiều dọc. Ví dụ như lời nói của ông bố trong Quà tết có vai trò như một motif chức năng dẫn đến loạt hành động, diễn biến. Sự lặp lại không cố định mà mỗi lần như vậy đều khác biệt khi bọn trẻ nhắc lời ông trong một hoàn cảnh gần như tương đồng lúc những khác biệt chưa tích lũy đủ để biến đổi. Cuối cùng, khi tích lũy đủ, lời nói của ông bố đã mang đến một kết quả không ngờ. Bên cạnh đó, chỉ hiệu liên tưởng dọc gần như là motif tĩnh, tự do, mở đến tầng ý nghĩa khác. Tiêu biểu như đoạn bình luận của Fernanda khi không quan tâm mấy việc Remedios bay lên trời mà chỉ băn khoăn không biết khi nào trời trả cho mấy chiếc chăn bị cuốn theo; trong trường nghĩa tiếp nhận yếu tố huyền ảo thì cái nhìn lệch pha, dửng dưng này lại tạo nên tính HTHA nói chung và tự sự của Garcia Marquez nói riêng. Những yếu tố huyền ảo này “được chuyển hóa rất tốt vào môi trường văn bản hiện thực, hiếm khi gây nên bất cứ bình luận nào của người kể hoặc nhân vật… thường là những vấn đề trọng tâm nổi bật của văn bản”. Tính chất quan trọng đó làm rõ đặc điểm thứ ba của yếu tố huyền ảo; Wendy cho rằng người đọc băn khoăn lúc lý giải tính mờ ảo của yếu tố này, cần lưu ý là những băn khoăn đó không thể hiện thành lời hoặc bình luận phân tích gì từ nhân vật và người kể; kết quả là người đọc không quan tâm đến vấn đề lý giải mà hiểu nó như một dạng mã hóa. Theo cách đó, các yếu tố huyền ảo lặp lại, ngăn cản tính nhân quả của câu chuyện theo logic thông thường ở cả diện chức năng và chỉ hiệu. Từ góc độ thời gian, hệ thống motif huyền ảo bẻ nhánh sự kiện theo hướng khác thường, đặt nền tảng cho sự việc, hiện tượng huyền ảo xảy ra. Ban đầu, nó có thể chỉ là chỉ hiệu thuần túy trong nhân vật hay bối cảnh nhưng dần chuyển biến, mang đến cho sự kiện một tầng ý nghĩa mới lạ hơn hoặc biến đổi hình tượng, tham gia quy định câu chuyện. Như vậy, với các đặc điểm như tái lặp dưới nhiều dạng thức, tạo/ tương tác trong một tổng thể và mang khả năng biến đổi đối tượng, motif tự sự mang tính HTHA khi chuyển hóa, kết hợp các yếu tố của đời sống và ước mơ, lý trí và tình cảm, hiện thực và huyền ảo theo nguyên lý tương đồng và tương cận; đặc biệt là gắn với các trải nghiệm cá nhân của nhà văn G.Marquez. Trong hướng nhìn ma thuật, ba đặc điểm của motif tự sự HTHA kết nối hệ thống chi tiết HTHA tái lặp trong tự sự Garcia Marquez với thần chú.
3. Yếu tố huyền ảo tái lặp với tính chất thần chú
Khi tìm kiếm mối quan hệ với thần chú, trong tổng thể trên, chúng tôi lưu ý đến đơn vị khá nhỏ, thường có vai trò như những chỉ hiệu thuần túy, đó là một số phát ngôn của nhân vật. Các phát ngôn khi đi vào tác phẩm thì trở thành ngôn ngữ nghệ thuật, quy định bởi cách nói và là motif chức năng trong câu chuyện. Tuy nhiên, nhìn phát ngôn trong văn bản, ngoài cái chung, tác giả còn thể hiện cái riêng thông qua các biến dạng, lời nói cá nhân; nó là cái nhất thời, không lặp lại, mang tính nguyên vẹn của cảm xúc mạnh mẽ, là motif chỉ hiệu. Các motif này khi tái xuất hiện thì mỗi khi mỗi khác; bởi bất cứ sự lặp lại nào trong câu chuyện đều khác biệt lần trước đó. Nói cách khác, từ tác giả đến độc giả, sự tái lặp này mang ý nghĩa chuyển động từ nguồn phát đến đối tượng, làm thay đổi đối tượng, nảy sinh điều mới mẻ, vượt ra ngoài bản thân motif. Các tính chất ấy của motif không độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bởi tái lặp luôn nhắc gợi về một tổng thể và mang sức tác động gián tiếp nhất định. Đây cũng chính là các tính chất của thần chú.
Người Ấn Độ gọi thần chú là “Mantra”, trong tiếng Sanskrit nghĩa là “lời, thể thức thiêng liêng”, bắt nguồn từ “Manyate” là “suy nghĩ”; cụ thể “Man” là suy nghiệm (có mối quan hệ chặt chẽ với lời nói) còn “tra” là công cụ, phương tiện. Không chỉ có nguồn gốc từ Rig veda, thần chú còn được tìm thấy phổ biến trong các kinh điển phương đông như Tử thư Ai Cập, kinh văn Phật giáo, bùa chú Đạo giáo, kinh sách Do thái giáo... và được phát triển ngày một rộng rãi trong văn hóa phương Tây.
Thần chú có công dụng chỉ khi thuộc một hệ thống cấu trúc thống nhất. Người Ấn bắt đầu các câu thần chú cổ xưa bằng ba nguyên âm đầu; tiếng AUM thốt lên, vì thế, liên kết cả sự chuyển động của vũ trụ. Cấu trúc ngôn ngữ cũng tìm thấy sức mạnh của mình từ hệ thống quyền lực này, thế nên Ngôi Lời có vị trí quan trọng trong việc tác tạo thế giới (St. 1,6-8): “Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng”, ánh sáng liền có… Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày… (St 1,3-5). Thiên chúa phán: “Hãy có một vòm ở giữa…; liền có như vậy. Thiên Chúa đã gọi vòm đó là trời”. Gắn với hành động phán/ gọi của Thiên Chúa, sự vật hiện tượng liền có/ xuất hiện; điều này có nghĩa là ý chí Thiên Chúa thông qua hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ, như một phương tiện, có thể phát huy sức mạnh. Bởi vậy, thần chú buộc phải đọc lên; đây chính là lý do mà Aureliano Babilonia có thể hiểu được tấm da dê nhiều đời tổ tiên cố gắng giải mã đều thất bại: “Anh bắt đầu đọc thành lời những trang viết đã được mã hoá ấy. Ðó là chuyện về gia đình được cụ Menkyađêt viết tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất trước đây một trăm năm.”. Sức mạnh của tổng thể tác động, biến đổi các bộ phận phụ thuộc cũng chính là nguyên lý cơ bản nhất của thuật giả kim mà Melquiades và cụ tổ Buendia Arcadio theo đuổi. Người ta tin rằng vạn vật đều có chung một bản thể, khác biệt là trật tự của chúng; nếu thay đổi trật tự của vật chất, người ta có thể thu được dạng vật chất được khát khao nhất – vàng và thậm chí luyện được đá trường sinh, thân thể phàm trần trở nên bất tử. Phương cách khả dĩ mà người ta nghĩ đến là dùng nhiệt; sau cả đời đốt nấu kim loại, trước khi chết, cụ Melquiades “mỉm cười và nói bằng tiếng Tây Ban Nha: “Khi ta chết, hãy thiêu ta trên ngọn lửa thuỷ ngân ba ngày ở ngay trong phòng này”. Tóm lại, hệ thống chỉnh thể rộng lớn có mối quan hệ tác động chặt chẽ nội tại là điều kiện để thần chú phát huy tác dụng. Chỉnh thể này trong tự sự có thể hiểu là cấu trúc tác phẩm văn học, nơi đó nhà văn thiết lập hệ thống các mối quan hệ chặt chẽ ngang dọc vận hành thế giới nghệ thuật, nơi mà những điều kỳ diệu nhất khả dĩ và những câu thần chú quyền lực nhất viên thành.
Đặc điểm thứ hai của thần chú là tính tái lặp. Bởi “Thần chú là một từ, một ngữ, một âm thanh được lặp đi lặp lại, đặc biệt là trong cầu nguyện hay thiền định” hay “Thần chú là một từ, ngữ thường được lặp lại và thường thể hiện niềm tin”. Có thể nói tái lặp là tính chất quan trọng để nhìn motif tự sự từ thần chú. Theo đó, lời nói của nhân vật lặp đi lặp lại tạo nên chuyển biến tương đồng ở sự vật, hiện tượng – câu cửa miệng “Hỡi những con bò cái hãy giạng háng ra” của Aureliano Segundo làm gia súc gia cầm sinh sôi không ngừng.
Thứ ba, thần chú có đặc điểm tác động gián tiếp, nghĩa là không cần tác động vật lý nhưng vẫn dẫn đến biến đổi đối tượng. Tính chất này tạo nên công dụng thần kỳ, theo đó, “Thần chú (đặc biệt là trong Ấn giáo và Phật giáo) là một từ, một âm thanh được tin là hàm chứa sức mạnh tâm linh đặc biệt”. Bậc thần linh khiến thần chú viên thành nhờ quyền năng, pháp sư hay người thường muốn thần chú phát huy công dụng phải chú ý vào tính hướng nội, tức đặt hết tâm vào câu thần chú, dựa trên quan niệm vạn vật nhất thể để mượn sức mạnh tự nhiên, hoặc ít ra là cảm động được trời đất. Khi đó thần chú trở thành tâm chú; trong Trăm năm cô đơn, G.Marquez cũng thể hiện sức mạnh tâm chú khi Aureliano, để gặp lại Remedios Moscoite, đã hết sức tập trung tin tưởng và liên tục nhắc đi nhắc lại: «Cô em sẽ đến». Hoặc trong Bão lá, sau khi Genoveva bảo đứa bé giống bố nó như đúc thì Isabel nhận ra nó mắc phải “lời nguyền danh tính”. Cũng vậy, vận dụng tổng hợp các đặc điểm của thần chú có thể giúp nhìn việc lặp lại những cái tên của nhà Buendia như một cách lưu truyền các tính chất gắn liền với tên họ theo nguyên tắc tương đồng và tương cận của ma thuật và tái lặp của thần chú.
4. Ý nghĩa nghệ thuật của chi tiết tái lặp mang tính thần chú
Từ góc độ giao tiếp nghệ thuật, tính chất thần chú cũng hé lộ ý nghĩa gắn với tác giả, người đọc và văn bản Trăm năm cô đơn như một bộ phận ma thuật. Đó là cách nhìn các đối tượng văn chương theo hướng mới; không nhằm đồng nhất motif HTHA với thần chú mà chỉ ra nguyên tắc ma thuật chi phối thế giới và nghệ thuật như thế nào. Theo đó, tiểu thuyết nhắc gợi mô hình nhận thức nghệ thuật khi tác giả như pháp sư (người gửi), dùng khát khao và niềm tin tạo lập thần chú (thông điệp) xóa mờ không gian và thời gian theo nguyên lý tương đồng tương cận của ma thuật, nhắn gửi đến người nhận. Frazer (Cành vàng) cho rằng pháp sư là người thông minh và nhiều tham vọng khi có khả năng điều khiển và chi phối cộng đồng thông qua ma thuật, nghi lễ. Tự sự HTHA cũng mang đến cho nhà văn khả năng đó khi người ta trích dẫn số lượng người chết trong cuộc bạo loạn ở Colombia (vốn là bí mật, điểm mờ lịch sử) từ Trăm năm cô đơn, dòng nhạc Vallenato phát triển mạnh với ảnh hưởng của G.Marquez, thế giới chú ý đến Colombia và Mĩ Latin qua cách nhìn của G.Marquez. Nếu pháp sư có kẻ láu cá, có người tin tưởng hoàn toàn vào các quyền lực thần diệu thì Marquez bên cạnh các thủ pháp làm độc giả tin tưởng cũng nhấn mạnh thứ hiện thực ngoại cỡ Mĩ Latin. Hình ảnh người pháp sư này còn được tái hiện ở đại tá Aureliano Buendia – tiêu điểm tự sự chính trong nửa đầu Trăm năm cô đơn – người cười trong bụng mẹ, có khả năng tiên đoán, được quần chúng ngưỡng vọng như một anh hùng,“con người sáng suốt, con người mánh khóe, con người giành chiến thắng bằng mọi giá, lúc về già có thể trở thành một thủ lĩnh khôn khéo, hào hiệp mà những người cùng thời đại ca ngợi lúc còn sống và khóc than khi qua đời, và hậu thế thì khâm phục hoan nghênh”. Ngoài ra, tính hiệu quả của thần chú được quy định thêm bởi các yếu tố khác như phạm vi (thế giới liên kết tác động chặt chẽ; viện dẫn thần linh, Thiên chúa), mã tương ứng (dấu hiệu ngầm, ngôn ngữ riêng) và mặt tiếp xúc (hương, dược). Thực tế, có thể quy các yếu tố này vào mô hình giao tiếp của Roman Jakobson; nằm ở trung tâm mô hình giao tiếp, văn bản/nhắn gửi chính là một dạng thần chú mà ý nghĩa được quy định theo cả hai chiều ngang và dọc của chức năng và chỉ hiệu. Theo đó, từ người gửi đến người nhận, thần chú thể hiện mối quan hệ hình tuyến tức những nội dung được phát triển trên quan hệ tương đồng nảy sinh ý nghĩa. Từ ngữ cảnh, kênh, mã, thần chú được liên tưởng đến những lớp ý nghĩa phong phú và đa dạng.
Tính nghệ thuật của thần chú với vai trò là motif tự sự HTHA nằm ở khả năng phóng chiếu trục dọc xuống trục ngang, tức trục liên tưởng xuống trục kết hợp. Đến đây, thần chú trở thành một ký hiệu nghệ thuật; ý nghĩa thần chú vừa thực vừa ảo, vừa gợi tương đồng vừa gợi tương cận. Kết quả là thần chú và motif HTHA tập trung soi chiếu vào bản thân nó, trở thành một tiểu hệ thống huyền mờ, khó lý giải. Ví dụ hệ chi tiết cơn mưa hoa vàng trong tang lễ lão trượng Buendia Arcadio, những chiếc đĩa màu da cam bay vèo vèo trên trời ở trục ngang, có chức năng liên kết, thúc đẩy đưa Vistacio trở về và Ursula chuẩn bị cho cái chết của đại tá Buendia nhưng đồng thời cũng gợi liên tưởng đến nhiều lớp ý nghĩa văn hóa Ấn Độ cũng như bản thân kinh nghiệm đời sống nhà văn. Tất cả hiện lên cùng một lúc, soi chiếu nhau và không dễ dàng bóc tách, giải thích; ý nghĩa của thần chú dựa trên quan hệ suy luận, tức tương đồng đồng thời cả quan hệ hỗ trợ gần gũi, triển khai, bộ phận – tức hoán dụ. Barthes từng nhận xét: “Chức năng quy định sự có mặt của các quan hệ hoán dụ, còn đặc tính quy định sự hiện diện của các quan hệ ẩn dụ. Chức năng bao trùm lớp được xác định bởi khái niệm “làm”, còn đặc tính bao trùm lớp được xác định bởi khái niệm “tồn tại””.
Trên cơ sở đó, nguyên lý tương đồng (được hiểu là những sự vật, hành động giống nhau sẽ kêu gọi nhau) của ma thuật làm thần chú phát huy tác dụng, vì thế mà Petra Cotet và Aureliano Segundo có thể hợp lý hóa chuyện ngoại tình bằng hiệu quả kinh tế khi họ càng quan hệ nhiều thì gia súc, gia cầm càng sinh sôi nảy nở. Chỉ trong một đêm “hú hí với nhau cho tới khi trời sáng”, Segundo “nhìn thấy ở sân lúc nhúc những thỏ là thỏ, lông xanh mượt trong ánh bình minh. Pêtra Côtêt cười ngặt nghẽo, không thể kìm được ý muốn chòng ghẹo anh: – Những con thỏ này là những con vừa sinh ra đêm qua đấy”. Bên cạnh đó, nguyên lý tương cận đề xuất rằng cái gì từng tiếp xúc với nhau sẽ duy trì quan hệ dù tiếp xúc kết thúc. Vì thế mà sau những đêm quan hệ cuồng nhiệt: “Chỉ cần anh mang Pêtra Côtêt đến các chuồng trại, để ả ngồi trên ngựa dẫn ả đi chơi các trang trại là đủ cho súc vật của anh phải sinh con đẻ cái rất nhanh”.
Nhìn từ phía câu chuyện HTHA của Garcia Marquez, hệ thống motif tự sự huyền ảo mang tính thần chú thể hiện rõ kinh nghiệm cá nhân nhà văn, đặc biệt là giai đoạn ấu thơ. Những câu nói, hành vi, con người ấn tượng trong gia đình, khuynh hướng Thiên chúa giáo đậm cảm xúc pha trộn tín ngưỡng dân gian, cảnh súc vật sinh sôi đàn đống ở nông thôn Colombia đã đi vào câu chuyện của Garcia Marquez một cách huyền ảo. Bên cạnh đó là những truyện kể của bà, của những người phụ nữ bản xứ không ngừng lặp lại và hình thành thế giới huyền ảo của cậu bé Garcia Marquez và sau này là thế giới nghệ thuật của một nhà văn lớn. Các kinh nghiệm huyền ảo thuở nhỏ, được khơi gợi bằng chuyến về làng, đã chuyển hóa vào câu chuyện HTHA một cách tự nhiên và rất riêng. Tất nhiên là mỗi nhà văn đều ít nhiều khai thác kinh nghiệm cá nhân, nhưng kinh nghiệm cá nhân ấu thơ mang đậm chất huyền ảo dân gian lại trở thành bộ phận quan trọng nhất trong câu chuyện HTHA của Garcia Marquez. Trên nền tảng đó, những chi tiết đời sống được tái lặp, mang đến ấn tượng về một thế giới nghệ thuật thống nhất mà phóng khoáng, tự do của chàng trai G.Marquez, người chống lại truyền thống gia đình để theo đuổi nghiệp văn chương. Thế nên, đa số các câu chuyện HTHA của G.Marquez đều có motif chống lại lời nguyền của truyền thống, cộng đồng; đó là lão trượng Buendia bất chấp lời nguyền đuôi lợn; là đại tá Buendia cả đời theo đuổi tự do cá nhân (Trăm năm cô đơn) hay ông đại tá già mặc kệ thái độ cả làng mà chôn ông bác sĩ (Bão lá).
Tóm lại, các yếu tố HTHA tái lặp, trong quan hệ với tính thần chú, cung cấp một góc nhìn khác về tính chất, nguyên lý vận hành và sự thể hiện trong hệ thống tự sự của Gabriel Garcia Marquez.
Tài liệu tham khảo:
1. Tomashevsky, Boris. (1965). “Thematics.” Russian Formalist Criticism: Four Essays. Comp. Lee T. Lemon and Marion J. Reis. Lincoln: University of Nebraska. p. 62-95.
2. Barthes, R. (1975). “An Introduction to the Structural Analysis of Narrative. “ New Literary History, Vol 6, No 2, On Narrative and Narratives (1975). p.237-272.
Chú thích:
*, **Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
1, 5 Farris, Wendy. B. (2004), Ordinary Enchantments Magical Realism and the Remystification of Narrative, Vanderbilt: University Press. p.7, 8-9.
2, 3 Gabriel García Márquez (2007), Truyện ngắn tuyển chọn, Nguyễn Trung Đức (dịch), NXB. Văn học. tr.72, 140.
4 Gabriel García Márquez (2004), Mười hai truyện phiêu dạt, Nguyễn Trung Đức (dịch và giới thiệu), NXB. Văn học. p.140.
6 Trịnh Văn Căn (dịch) (1986), Kinh Thánh, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội. tr. 9.
7, 8, 11, 13, 17, 18, 19 G. G. Macket (1986), Trăm năm cô đơn, NXB. Văn học. tr. 509, 106, 319, 13, 246, 247, 246.
9 Wehmeier. S. (2005), Oxford Advanced Learner’s Dictionary of Current English, 7 ed.. UK: Oxford University Press. p. 899.
10, 12 Walter, E. (2005), Cambridge Advanced Learner’s Dictionary, 2 ed. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 773.
14 Gabriel Garcia Marquez (1979), La Hojarasca. Barcelona: Plaza & Janés. p.119.
15 Frazer, James George (2007), Cành vàng Bách khoa thư về Văn hóa nguyên thủy. Ngô Bình Lâm (dịch). NXB. Văn hóa Thông tin, Tạp chí Văn hóa, Nghệ thuật. tr. 86.
16 Đỗ Lai Thúy (2004), Sự đỏng đảnh của phương pháp. NXB. Văn hóa Thông tin. tr. 381.