1. Khái niệm heterotopia của Michel Foucault
Thuật ngữ heterotopia (tạm dịch: không gian dị biệt) được đề xuất đứt quãng trong diễn trình tư tưởng của Michel Foucault, với nội hàm khá thống nhất trong bài giảng của ông trước nhóm kiến trúc sư Cercle d’études architecturales tại Paris, mang tên Des Espaces Autres, được dịch sang Anh ngữ qua các bản dịch của Jay Miskowiec với nhan đề Of Other Spaces, hay của Robert Hurley với nhan đề Different Spaces. Tư tưởng của Foucault phân biệt kiểu không gian này với utopia (tạm dịch: không gian lý tưởng) - được hình dung như kiểu không gian cho phép các diễn ngôn hiện tồn được củng cố, được kiến tạo và bồi đắp, “cho phép tư duy vận hành trên các thực thể của thế giới, sắp xếp chúng, phân chia chúng thành các lớp, nhóm chúng theo những tên gọi chỉ định các tương đồng và dị biệt của chúng”, hoặc “có thể là hình ảnh của một xã hội hoàn hảo, hoặc là mặt trái của xã hội”, tức những không gian hoàn toàn không có vị trí thực trong trật tự xã hội, tồn tại trong diễn ngôn, trong tưởng tượng, phi thực nhưng có chức năng phản chiếu hoặc lý tưởng hóa đời sống mà không gây ra các mâu thuẫn, bất nhẫn... Do vậy, utopia có chức năng củng cố các diễn ngôn, vô hình trung tái xác lập nhận thức vốn có của con người về hiện thực. Đối nghịch với nó, heterotopia có chức năng “đảo ngược”, có thể “âm thầm làm xói mòn ngôn ngữ, bởi vì chúng khiến việc gọi tên cái này và cái kia trở nên bất khả, bởi vì chúng phá vỡ hoặc làm rối tung các danh xưng chung, bởi vì chúng hủy diệt ‘cú pháp’ ngay từ trước”, hay được tư duy như là một “utopia đã được hiện thực hóa, nơi mà tất cả các định vị thực khác tồn tại trong nền văn hóa ấy vừa được biểu hiện, vừa bị chất vấn, vừa bị đảo ngược; là những nơi chốn ở bên ngoài mọi nơi chốn, mặc dù vẫn có thể được định vị một cách cụ thể”. Những địa điểm này, theo ông, ở các mức độ khác nhau, được đặc trưng bởi các nguyên tắc sau: 1) Kiểu không gian heterotopia tồn tại trong mọi nền văn hóa trên thế giới. 2) Chức năng của mỗi heterotopia có thể thay đổi theo thời gian. 3) Heterotopia có thể đặt cạnh nhau nhiều không gian dường như không tương thích trong cùng một địa điểm. 4) Heterotopia đạt hiệu lực cao nhất khi làm biến dạng trải nghiệm thông thường về thời gian. Heterotopia có những cơ chế đóng - mở khiến chúng vừa tách biệt vừa liên hệ với không gian xung quanh.
Trên tinh thần đại cương, heterotopia trong quan điểm của Foucault là kiểu không gian có thật, tồn tại thực trong xã hội, ở nơi chốn đó, các trật tự thông thường bị lệch pha, nơi các yếu tố vốn không tương thích cùng lúc tồn tại, với khả năng quan trọng nhất là làm lộ diện các diễn ngôn, phơi bày các quan hệ quyền lực - tri thức. Thông qua quan sát các không gian heterotopia, người ta có thể ý thức được tính chất diễn ngôn của không gian - rằng “không gian” không tồn tại giản đơn, “trong suốt”, mà luôn có tính ý hệ, là nơi tổ chức và biểu hiện các chuẩn mực... Như vậy, nhận thức về heterotopia là nhận thức được các quan hệ quyền lực của đời sống, nhận diện được sự bất toàn của những diễn ngôn lý tưởng hóa vốn có xu hướng được củng cố, nhận diện các cách mà ký ức, lịch sử được tổ chức, kiến tạo. Trong ứng dụng nghiên cứu văn học, phân tích các không gian heterotopia cũng đồng thời là phân tích cách văn bản nghệ thuật - bằng việc kiến tạo các không gian nghệ thuật, tạo ra những trải nghiệm không gian khác nhau, làm hiển lộ các trật tự sắp đặt của diễn ngôn, nhờ đó, các khả thể khác mới có cơ hội được hiện diện.
Trong dòng mạch tự sự về chiến tranh của văn học Việt Nam hiện đại, các tác phẩm của Bảo Ninh thường được tiếp nhận theo các hướng phân tích tự sự học (nổi bật là khai thác kỹ thuật viết dòng ý thức), hay cách tiếp cận như văn học chấn thương, khai thác số phận người lính thời hậu chiến... Các bình diện phân tích này giúp cắt nghĩa sâu sắc quan niệm nghệ thuật, cũng như thấy rõ những đóng góp về hình thức sáng tạo và tư tưởng của nhà văn; tuy nhiên, chúng vẫn để ngỏ hướng tiếp cận từ góc độ kiến tạo không gian. Trong Nỗi buồn chiến tranh và nhiều truyện ngắn khác, trong đó có truyện ngắn Ngày trở về, không gian Hà Nội luôn hiện diện, day dứt, phức tạp, đan xen, bàng bạc trong chỉnh thể cấu trúc không gian nghệ thuật. Điều này đặt ra câu hỏi: ngoài hướng tiếp cận thi pháp, liệu những không gian này còn có thể được quan sát trong mối quan hệ phức hợp của các diễn ngôn; bằng cách nào kiểu không gian này được tổ chức để đồng thời chứa đựng và khắc họa trải nghiệm phức tạp của con người? Trước vấn đề này, chúng tôi đề xuất xem xét truyện ngắn này qua khái niệm heterotopia của Michel Foucault. Từ hướng tiếp cận này, chúng tôi hướng đến nhận diện và phân tích các không gian có tính chất heterotopia trong truyện ngắn Ngày trở về của Bảo Ninh, qua đó làm rõ cách văn bản tổ chức các kinh nghiệm hậu chiến của con người, làm lộ diện những ký ức phức tạp, các lịch sử cá nhân riêng tư... Trên cơ sở này, chúng tôi hi vọng mang đến khả năng mở rộng của một cách đọc về các tự sự hậu chiến Việt Nam nói chung.
2. Các không gian dị biệt (heterotopia) của Hà Nội thời hậu chiến
2.1. Không gian dị biệt trong không gian đường phố
Không gian Hà Nội hậu chiến trong truyện ngắn Ngày trở về mở ra từ nhà ga Hàng Cỏ và chuyến tàu chở những người lính đi chiến trường B trở về. Nhà ga Hàng Cỏ là điểm mở đầu của hành trình trở về, nhưng đồng thời cũng là nơi đầu tiên làm đổ vỡ ảo tưởng về sự trở về nguyên vẹn. Chức năng của nhà ga là không gian trung chuyển, nơi nối liền các hành trình và các nơi chốn, mở ra tính liên tục đồng thời và tính di chuyển của không gian. Trong truyện ngắn, không gian này không chỉ đóng vai trò vận chuyển, nối liền hai không gian chiến trường/miền Nam - hậu phương/Hà Nội, mà còn có vai trò thời gian, đưa Tâm “trở lại” giữa các mốc thời gian ngày thơ ấu, ngày ra trận, ngày trở về: “hồi nhỏ, con nhà nghèo, thường lẩn ra đây, sau ga, mót trộm than vụn về đun”, “Ngày đó, khởi hành, già nửa quân số đoàn tàu là trai thủ đô, giờ đây, từ trên chuyến khứ hồi, chạy dọc miền Bắc lên thấu Lạng Sơn, chục toa xe chật thương binh và lính về vườn”.
Nhà ga vẫn là một không gian có thật, có thể định vị, song đã lệch khỏi logic vận hành của nó, không còn là không gian trung chuyển, mà trở thành nơi chốn gợi nhắc thời gian, đặt con người giữa các mốc thời gian khác biệt ngay giữa ngày trở về. Không chỉ thế, nhà ga còn đánh dấu không gian chiến trường ngay giữa hậu phương, là “đống gạch nát” giữa lòng Hà Nội hòa bình. Các lớp thời gian - không gian này không tích hợp theo hướng tuyến tính, mà được miêu tả trong trạng thái cùng tồn tại, chen lẫn vào nhau trong sự căng thẳng, phức tạp. Phản ứng của Tâm trước không gian này cho thấy sự va chạm phức tạp đó: “trước thực cảnh vẫn thấy choáng, Tâm phải ngồi lại một lúc trên sân ke, định thần” (tr. 13). Cảm xúc của Tâm có thể coi là cú sốc tâm lý trước sự hiện diện của không gian chiến tranh, rằng thực tại hòa bình lại không hiện diện trong không gian, mà dường như bom đạn vẫn tiếp diễn, nối dài ngay giữa lòng thành phố. Sự khải hoàn của nhân vật đã đứt gãy ngay tại nơi chốn mà đáng lẽ nó phải kết thúc một thời đoạn và mở ra một trang mới cho đời người, nơi cuộc chiến vẫn không khép lại, mà vẫn hiện diện trong hình hài vật chất của không gian. Nhà ga Hàng Cỏ, trong cảm quan của Tâm, đã trở thành không gian dị biệt đặt Tâm vào đồng thời các trải nghiệm tiền chiến, hậu chiến, trong chiến tranh, khiến anh chưa thể thoát khỏi chiến tranh, nhưng cũng chưa bước vào hòa bình. Tính chất giao điểm, liên kết các không - thời gian này của không gian heterotopia được mở rộng trong cách khắc họa phố xá Hà Nội như là sự đồng hiện của những thực tại không tương thích. Ở bề mặt đại thể, không gian thành phố là không gian của hòa bình, tái sinh: “Đường phố đông đúc nườm nượp người xe. Râm ran, tiếng nói, tiếng cười. Hà Nội sau thời chinh chiến, lâng lâng rạo rực hạnh phúc hòa bình…” (tr. 14), tương ứng rõ rệt với các diễn ngôn hậu chiến chính thống, rằng hòa bình như một trạng thái ổn định, sự trở lại của đời sống bình thường. Tuy nhiên, sự ổn định, êm ả này chỉ tồn tại trong không gian chung, rộng lớn của cả thành phố, nhưng không tồn tại trong đời sống của những cá nhân. Người mẹ của Kế lao ra giữa phố: “từ cháu ơi, bà kêu lên, khóc, gọi, Kế ơi, bạn con về rồi đây này, con ơi, mà con thì sao không, không bao giờ nữa, Kế ơi…” (tr. 14). Sự hiện diện của người mẹ liệt sĩ với cảm xúc không thể kiểm soát giữa không gian công cộng rộng lớn đã trình hiện tính chất heterotopia của không gian đô thị Hà Nội; trong cùng một không gian, hai đời sống đối lập cùng tồn tại: một đời sống của thành phố với sự đoàn tụ, khải hoàn, sự sống, hòa bình; đời sống còn lại, âm ỉ tồn tại trong lòng thành phố, phơi bày sự mất mát, cái chết và sự vắng mặt không thể bù đắp. Sự chồng lấn này không thể hài hòa được trong tổng thể, mà tạo ra cảm giác lệch pha, với cảm nhận của con người trong hoàn cảnh đó: “thẫn thờ người đứng, không thốt nổi lời nào. Cầm lòng không đậu, cơn thổn thức câm lặng rát bỏng lồng ngực” (tr. 14). Cảm nhận hạnh phúc và nhận thức về hòa bình của con người không biến mất, nhưng bị làm cho mơ hồ, không còn vững chắc: “niềm hạnh phúc như bước hụt, hẫng đi” (tr. 14). Không gian thành phố, như thế, không còn là phông nền trung tính của các sự kiện và nhân vật, mà trở thành tổ chức phức tạp, nghịch lý: vừa cho phép biểu hiện diễn ngôn hòa giải, vừa đồng thời lộ diện những gì mà hòa bình, trong sự rộng lớn và phẳng lặng, không thể bao quát, là những mất mát cá nhân luôn hiện diện bên trong nó. Chức năng đảo ngược của kiểu không gian dị biệt đã làm trình hiện tính chất bất toàn, bất an của trật tự hiện tại.
2.2. Không gian dị biệt trong không gian gia đình
Không gian gia đình trong Ngày trở về không tồn tại như một nơi chốn khép kín, riêng tư, mà luôn tồn tại, được kiến tạo trong một cấu trúc cộng cư đặc thù của đô thị Hà Nội giai đoạn hậu chiến. Ngôi nhà của Tâm được miêu tả là “biệt thự Tây hai tầng cũ kỹ” (tr. 14), “chung cư của bảy hộ gia đình” (tr. 15), không chỉ đơn giản là bối cảnh không gian mà còn gợi ý về một cấu trúc không gian phức hợp. Tính chất của biệt thự - chung cư này, với lịch sử là kiến trúc thuộc địa được quy hoạch trở thành công trình nhà ở tập thể sau 1954, kéo theo sự biến đổi cơ bản về mặt chức năng và cách thức tổ chức đời sống: từ không gian giới hạn của một gia đình cụ thể sang không gian bán công cộng, từ sự riêng tư sang sự chia sẻ, gắn với cộng đồng. Trong cùng một kiến trúc, các gia đình khác nhau bị đặt vào trong một quan hệ gần kề, không chung đụng hoàn toàn nhưng cũng không thể tách biệt khỏi nhau. Do tính chất đặc biệt này, không gian biệt thự - nhà tập thể rất giống với kiểu không gian Panopticon được Foucault giới thiệu như nơi chốn mà ở đó con người luôn bị đặt vào trong trạng thái bị giám sát vô hình, “không bao giờ biết được hiện mình có đang bị dòm ngó hay không; nhưng phải tin chắc rằng mình có thể luôn bị dòm ngó” bị dòm ngó”. Không gian heterotopia trong nhà tập thể này là một nơi chốn có thật, có thể định vị, nhưng luôn trong trạng thái chồng lấn giữa không gian riêng tư và không gian công cộng, đời sống cá nhân luôn chịu sự quan sát vô hình từ phía cộng đồng. Điều này lý giải cho sự sợ hãi và bất an có phần nghịch lý của Tâm và gia đình trong ngày trở về: một mặt, họ được tận hưởng niềm hạnh phúc khi con trai quay trở về sau cuộc chiến, mặt khác, trong suy nghĩ của mình, họ không thể ngừng nghĩ về những ánh mắt, suy nghĩ của những gia đình xung quanh, những gia đình đã đóng góp, ngoài Tâm, thêm ba liệt sĩ cho cuộc chiến. Cấu trúc phức tạp của không gian nhà tập thể khiến cái chết luôn hiện diện trong đời sống, cảm giác vĩnh biệt luôn song hành cùng sự đoàn tụ, vì vậy, lời đầu tiên của mẹ nói với Tâm là “Con ơi, Bảo nó mất rồi, vừa giấy báo tử tuần trước” (tr. 15), còn trong bữa cơm đoàn tụ, thì “ngay phòng bên, giáp tường, là tang tóc gia đình Bảo” (tr. 15). Sự đồng tồn tại làm đảo ngược những nhận thức thông thường về không gian gia đình, khiến nơi này không còn là nơi đoàn tụ, riêng biệt khỏi những bất trắc của đời sống, mà trở thành nơi những mất mát bị san sẻ, lan tỏa, cộng hưởng. Gia đình có người con còn sống sót duy nhất không dám mở tiệc ăn mừng, không dám đốt pháo ngày Tết vì luôn tự tưởng tượng mình đối diện với ánh mắt của các gia đình khác: “cả nhà sum họp, vô hạn mừng vui. Nhưng yên ắng, ai nấy khẽ tiếng” (tr. 15). Niềm vui không bị phủ nhận, nhưng bị giới hạn, bị điều chỉnh bởi cảm giác ý thức thường trực về nỗi bất hạnh luôn ở ngay bên cạnh. Không gian heterotopia trong căn hộ của gia đình Tâm khiến các trạng thái cảm xúc đối lập cùng tồn tại, quy định lẫn nhau, biến trải nghiệm của cá nhân Tâm, gia đình Tâm không thể tách rời khỏi số phận của Bảo, Hưởng và gia đình. Trong tổng thể heterotopia của căn biệt thự - tập thể, không gian gia đình Bảo là một kiểu không gian dị biệt nhỏ hơn, diễn ra những cơ chế đặc thù tìm cách phủ nhận và trì hoãn cái chết. Khi Tâm bước vào căn phòng gia đình Bảo, ấn tượng đầu tiên không phải sự bộc phát của đau thương, mà ngược lại, là trạng thái bình lặng bất thường. Mẹ Bảo dịu dàng đón Tâm, căn phòng có “chiếc đồng hồ treo tường thong thả đổ chuông [...] không thoảng mùi khói hương” (tr. 16), không có tiếng khóc hay bất kỳ dấu hiệu tang tóc nào. Người mẹ tiếp đón Tâm bằng những lời hỏi han có phần thường nhật, không giống như hỏi một người lính vừa từ chiến trường trở về: “Cháu về chuyến tàu trưa qua phải không, mà bác ở ngoài ga chẳng thấy cháu” (tr. 16) hay hỏi thăm về chuyện sắm Tết; cha Bảo thì ngồi lặng im, còn nhầm Tâm, đồng đội của con trai, với một người khác. Các chi tiết này, cùng với các sự kiện được hé lộ ở phía trước, rằng ngay cả khi giấy báo tử đã về, mẹ Bảo vẫn “lặn lội, khi nhà ga, khi bến xe” (tr. 15), cho thấy trong gia đình Bảo, cái chết của Bảo không được thừa nhận như một sự kiện đã hoàn kết, mà bị treo lại, không được thừa nhận. Thực tế không bị phủ nhận hoàn toàn, nhưng bị ngó lơ, bị làm mờ, bị trì hoãn trong cách nó được nói đến (hay đúng hơn, cách nó không được nói đến). Không gian gia đình, heterotopia trong gia đình Bảo, là không gian cách biệt với thực tại, không đề cập đến sự thật, không thừa nhận cái chết của con trai là cách cha mẹ Bảo đối diện và giảm thiểu chấn thương. Các câu chuyện về thời tiết, sức khỏe, Tết... không phải những chi tiết ngẫu nhiên, mà là sự thay thế, lấp đầy các khoảng hở mà cái chết của người con trai để lại. Càng tìm cách đảo ngược thực tế rằng Bảo chưa chết, tránh né đề cập đến cái chết của Bảo, như khi đứng ở ngưỡng cửa, mẹ Bảo đề cập đến ngày con trai lên đường: “Bảo nhà bác lên đường cũng hôm thế này đây, rét mướt, cận tết, mưa phùn, gió bấc” (tr. 17) thì cái chết vắng mặt của Bảo càng hiện rõ trong thực tại. Tính chất dị biệt của không gian khiến gia đình Bảo càng cố phủ nhận cái chết bao nhiêu, cái chết càng hiện diện, chi phối đời sống mọi người bấy nhiêu, phơi bày sự chấn thương trong trạng thái cố tỏ ra yên ổn, bình lặng của con người. Không chỉ phơi bày hiện thực, đảo ngược, chất vấn diễn ngôn hiện tại bằng cách đặt cạnh nhau những không gian không tương thích, các không gian dị biệt còn là nơi tích tụ những thời gian dị biệt (heterochronia), khiến con người “đứt đoạn với thời gian truyền thống (tức thời gian hiện tại) của mình”, tức để cho nhiều lớp thời gian cùng hiện diện và chồng lấn trong cùng một không gian. Trong căn nhà của Tâm cũng như gia đình Bảo, hay trong tâm tưởng của Tâm, quá khứ không bị đẩy lùi về sau, mà liên tục xâm nhập vào hiện tại qua ký ức, lời nói, các chi tiết vụn vặt. Ngày lên đường của Bảo với những ký ức về cuộc trò chuyện với cha Bảo, lời dặn dò gần như van lơn của mẹ Bảo, các kỷ niệm trước chiến tranh... liên tục đồng hiện như những thực tại đang tiếp diễn. Hiện tại không chỉ được cắt nghĩa qua những sự kiện đang xảy ra, mà còn được hiểu qua sự lặp lại của quá khứ: cuộc gặp gỡ với cha mẹ Bảo, thời tiết, bối cảnh ngày Bảo lên đường. Vì thế, không gian gia đình trở thành nơi tích tụ các lớp thời gian liên tục va chạm với thực tại. Giữa hòa bình kéo dài được nửa năm, Tâm vừa sống lại những năm 68, đợt tân binh nhập ngũ đầu xuân, vừa sống lại ngày chia tay gia đình Bảo, vừa sống lại ngày lên đường “chập tối, thành phố lên đèn, đoàn tàu quân sự rời Hàng Cỏ trong mưa” (tr. 19), lại vừa trải nghiệm ký ức ngày Oanh hy sinh khi “từ nhà 47 bên kia đường, ông cụ chống gậy sang thăm, mừng Tâm còn sống và hỏi thăm tin tức cháu trai” (tr. 20)... Từ các bình diện này, có thể nhận xét rằng, không gian gia đình trong truyện ngắn Ngày trở về không chỉ là nơi trú ngụ của con người, mà là nơi lưu giữ và vận hành ký ức, trong khi không ngừng khiến con người phải sống trong những không gian khác: không gian chiến trường, không gian của những gia đình hàng xóm có con là liệt sĩ... Nó góp phần trình hiện những phía khác của đời sống hòa bình, làm hiển lộ sự thật của đời sống hậu chiến, rằng chiến tranh vẫn chưa kết thúc, mà vẫn tiếp diễn trong những nơi con người trải nghiệm ký ức, bàng bạc trong sự liên thông ngầm ẩn giữa các không gian của các gia đình.
3. Không gian dị biệt (heterotopia) và diễn ngônhậu chiến
3.1. Không gian dị biệt và diễn ngôn chiến tranh
Trong truyện ngắn Ngày trở về, chiến tranh không được tái hiện trực tiếp, không có các trường đoạn miêu tả trận đánh, chiến thuật, trừ một tiểu đoạn nhỏ nói về cuộc chia tay với Oanh gần chiến trường Tây Nguyên. Chủ yếu, chiến tranh hiện diện vừa gián tiếp, vừa dai dẳng thông qua các cấu trúc không gian. Nhờ các không gian dị biệt heterotopia như một môi trường trung gian, chiến tranh không chỉ được lưu giữ, xuất hiện sống động, mà còn góp phần kiến tạo một diễn ngôn mới về chiến tranh từ phía người lính trở về sau cuộc chiến. Có thể nhận thấy rằng, các không gian trong truyện ngắn này, từ nhà ga Hàng Cỏ, phố xá Hà Nội cho đến không gian gia đình... đều mang dấu vết vật chất, chịu sự phá hủy, hoặc tinh thần, lưu giữ ký ức của chiến tranh. Không gian nhà ga Hàng Cỏ không chỉ là điểm trung chuyển chiến trường - thành phố, mà là đống gạch nát sau bom đạn mà thành phố chưa kịp phục hồi, là chỉ dấu trực tiếp nhất của bạo lực đang hiện diện trong thành phố. Không gian đường phố, dù đang vận hành theo nhịp điệu của hòa bình: “Tiếng chuông tàu điện, tiếng chuông xích lô, chuông xe đạp. Đường phố đông đúc nườm nượp người xe. Râm ran, tiếng nói, tiếng cười” (tr. 14), vẫn bị cắt ngang đột ngột bởi những khoảnh khắc mất mát như tiếng khóc của mẹ Kế. Không gian gia đình tưởng như riêng tư, yên ổn, lại luôn lảng vảng không thể trốn tránh cái chết của Bảo và Hưởng trong cùng khu nhà... Như vậy, chiến tranh không phải một cuộc chiến, không phải các trận đánh ở chiến trường, mà liên tục phân tán và cài cắm trong toàn bộ cấu trúc không gian đô thị và đời sống sinh hoạt. Không những chiến tranh lưu dấu vết trong không gian đô thị và gia đình, mà nằm ở cách các không gian này có khả năng tái kích hoạt các ký ức chiến tranh. Các không gian dị biệt của Hà Nội hậu chiến vận hành như những cơ chế có khả năng nối liền quá khứ với hiện tại. Nhà ga vừa là nơi Tâm trở về, trong một trường đoạn khác, lại kéo nhân vật về với các thời điểm khác nhau, ngày khởi hành năm 1968 với ký ức “đường phố lùi lại, trôi đi. Khâm Thiên, công viên Thống Nhất... Lính tráng kệ mưa mở toang tấm che cửa sổ, nhiều tay nhoài hẳn nửa người ra ngoài. Kim Liên, Bạch Mai, Vọng…” (tr. 19). Phố xá bất ngờ làm sống dậy ký ức về đồng đội đã hy sinh qua các cuộc gặp gỡ với người thân trong những buổi đưa thư: với Oanh, với Thịnh, với những người lính vô danh khác... Gia đình trong cảnh đoàn viên vẫn liên tục bị những liên tưởng về sự mất mát của các gia đình khác xâm nhập; mẹ của Bảo vẫn sống trong ký ức ngày con trai ra trận, trong những liên tưởng về thời tiết, ngày tháng. Các cơ chế nhắc lại này khiến chiến tranh không bao giờ trở thành sự kiện đã qua, mà như một thực tại, vẫn vận hành và chi phối sâu sắc đời sống hậu chiến, khiến cho người may mắn thoát khỏi nó, trớ trêu thay, trở về với thời bình, vô tình lại bị chắt lọc, bị gạt ra khỏi đời sống “chiến tranh” ấy: “những ngày ấy, được nhận những lời chào mừng, những cái vẫy tay thân thiết, những nụ cười và có khi cả những bông hoa nữa của bà con hàng phố, Tâm trĩu nặng từng bước chân” (tr. 18). Từ đây, có thể thấy, các không gian heterotopia trong truyện không chỉ lưu giữ, gợi nhắc lại chiến tranh, mà còn góp phần thêm cho quá trình tái sản xuất trải nghiệm chiến tranh. Tâm, người trở về, vừa trải nghiệm cảm giác bất lực, không thể hòa nhập với những gia đình hậu chiến, đôi khi trải nghiệm sự sống của mình bằng cảm giác “đau thương tột cùng” (tr. 25), vừa phải tiếp tục sống trong một cấu trúc không gian mà chiến tranh, theo một nghĩa khác, luôn hiện diện. Trải nghiệm chiến tranh của Tâm giữa không gian đô thị này rất khác với trải nghiệm ở chiến trường. Nếu ở chiến trường, trải nghiệm chiến tranh đáng kể nhất của Tâm được kể lại là trận bom trên đường hành quân trước khi vào Tây Nguyên bên đồng đội: “Loạt bom tọa độ tuy không táng thẳng vào ngay giữa bãi khách, nhưng sát kề. Tâm ngã đập lưng xuống đất. Không phải sóng nổ hơi bom, mà mảnh bom. Xoẹt đứt dây võng Tâm” (tr. 19), thì ở không gian hiện tại, chiến tranh được Tâm trải nghiệm phức tạp trong ký ức giữa không gian đô thị, bên người thân của đồng đội. Sự mất mát và hy sinh được Tâm trải nghiệm qua tưởng tượng về câu hỏi ghìm lại của mẹ Bảo: “Mà nay cháu đã đây rồi, sao con trai bác thì lại không, không bao giờ nữa?” (tr. 17), qua những tưởng tượng về những câu hỏi của những người thân khác: “Tâm luôn nghe thấy, cảm thấy câu hỏi ấy, hỏi mà không hỏi ra lời ấy, từ những người mẹ, người vợ, người chị, người yêu, em trai, em gái của anh em bộ đội nhà cùng phố, hoặc khác phố, nhập ngũ cùng Tâm, hoặc trước Tâm, hoặc sau Tâm” (tr. 17). Không gian đô thị, trong sự liên thông, nối nhau, “hơn trăm số nhà hai bên mặt phố”, khiến cho Tâm luôn tự dằn vặt bằng những câu hỏi tự đặt ra về số phận của người khác. Kinh nghiệm chiến tranh ở chiến trường là bom đạn, máu, hành quân... trong khi đối diện với những câu hỏi, cái nhìn, hy vọng của người thân đồng đội, Tâm hoàn toàn bối rối. Các không gian dị biệt liên tục nối liền hiện tại với trải nghiệm chiến tranh, và vì vậy, làm cho chiến tranh được trình hiện ở bình diện khác của nó: đã kết thúc ở chiến trường nhưng vẫn tiếp diễn ở hậu phương, kết thúc trong thực tại nhưng nối dài trong tâm tưởng. Sự trở về của người lính, vì vậy, không còn là một dấu mốc hoàn tất, sự xác nhận của chiến thắng như cách nghĩ thông thường, mà sự trở về ấy còn khơi sâu thêm những vết thương trong những gia đình mất con trong cuộc chiến, mở ra thêm những câu hỏi mới về ý nghĩa của sự sống trong lòng người sống sót. Các không gian dị biệt làm mới nhận thức về chiến tranh, tổ chức lại cách chiến tranh được nói đến và được trải nghiệm: chiến tranh vẫn chưa khép lại, không phải một chuỗi sự kiện đã qua, mà là kinh nghiệm đau đớn và dai dẳng trong đời sống hậu chiến, một vết thương chưa bao giờ lành miệng.
3.2. Không gian dị biệt và diễn ngôn hoà giải
Trong các bình diện nêu trên, chiến tranh hiện diện như một đời sống, một kiểu không gian dị biệt phân tán trong cấu trúc không gian thành phố qua sự liên tưởng và trải nghiệm phức tạp của con người; trong bình diện này, tương ứng với cách chiến tranh được suy nghĩ về, được tri nhận, là cách mà hòa bình được kiến tạo, vận hành, và có thể tự mình biểu lộ các giới hạn trong đời sống hậu chiến. Trên nét lớn, truyện ngắn Ngày trở về thể hiện một đặc điểm khái quát về hòa bình: hòa bình chưa phải một trạng thái hoàn tất, ổn định, mà trong bối cảnh hậu chiến, khi con người chật vật thích nghi với hòa bình sau “đằng đẵng ba chục năm trời da diết cầu mong tàn cuộc binh lửa” (tr. 22), hòa bình như một cấu trúc nghĩa thường xuyên bị gián đoạn, bị chất vấn, không ngừng bị xâm nhập bởi những thứ trạng thái ấy từng cố gắng vượt qua. Ở cấp độ bề mặt, hòa bình được trải nghiệm qua các dấu hiệu “bình thường hóa” của không gian sống thường nhật: không gian đường phố được tái lập trong cảm quan của Tâm, “đây, ngã ba Lý Thường Kiệt, đây, khách sạn Đồng Lợi, phở Lập, bún Sinh, hiệu sách Bình Minh, nhiếp ảnh Ánh Hồng? Thật vậy sao, tàu điện, đang chạy tới kia, dọc phố, trên cặp ray sáng loáng nước mưa” (tr. 13); đời sống lại quay lại nhịp sống như trước ngày Tâm ra trận, lại được cùng cha “đi thửa đôi giày ở tiệm giày “chui” ngõ Phất Lộc. Loanh quanh dạo phố, hai cha con đi ăn phở “chui” trên gác xép nhà họ Cổ phố Hàng Đồng, rồi vào cà phê phin, cũng “chui”, trong ngõ Gạch” (tr. 22). Không gian Tết đã quay trở lại với không gian thành phố: sau nhiều năm, gia đình Tâm mới có “giò hoa thủy tiên, chậu cúc, cành đào” (tr. 22). Tuy nhiên, có thể thấy, trải nghiệm hòa bình mới không có một trạng thái tự nhiên, mà là kết quả của một cơ chế điều tiết, tiết chế, có kiểm soát: thành phố không còn mở nhiều những bài ca quân hành, rạp phim không còn chiếu các phim máu lửa thời chiến; gia đình Tâm có pháo, nhưng chọn không đốt, vì “tiếng pháo quá rộn rã, trong khi biết bao gia đình không thể làm sao rộn rã cho nổi dẫu đã hòa bình rồi” (tr. 22), trong khi cả thành phố chìm trong “bao nhiêu là niềm mặc tưởng trong lòng khi mùa xuân tới” (tr. 22)... Sự mâu thuẫn trong trải nghiệm hòa bình này biểu lộ cách con người trong thành phố tạo nghĩa cho hòa bình: trong hòa bình, ký ức chiến tranh vừa không bị xóa bỏ, tồn tại trong những thực hành tìm cách tránh né, không đề cập đến; mặt khác, hòa bình lại là không gian của sự tiết chế, tìm cách gián cách chiến tranh với thực tại. Diễn ngôn hòa bình tìm cách để con người cảm nhận và biểu đạt đời sống thông qua sự tiết giảm cảm xúc, ký ức, nhu cầu phát ngôn về chiến tranh. Sự yên ắng, im lặng của bữa cơm đoàn tụ, tránh né ăn mừng của bữa tiệc gia đình, hay thái độ né tránh, cố làm lơ của người cha không hỏi Tâm về chiến trường... đều biểu lộ trật tự vô hình điều khiển hành vi và lời nói. Trong trật tự diễn ngôn ấy, hòa bình trở thành trạng thái được duy trì bằng cách hạn chế những gì có thể xáo trộn cảm quan về nó - các ký ức về chiến tranh. Vì sự hiện hữu của diễn ngôn tiết giảm này, nên vai trò của các không gian dị biệt (heterotopia) được biểu lộ. Diễn ngôn về hòa bình tìm cách tổ chức một trạng thái ổn định, trong khi heterotopia tìm cách làm rạn nứt, đảo ngược trạng thái này, cho phép những yếu tố bị kìm nén quay trở lại. Các không gian dị biệt như căn nhà của gia đình Tâm và Bảo, thông qua sự đặt cạnh không gian gia đình Tâm trong trạng thái “bị quan sát” với các gia đình khác, qua sự nối thông căn nhà Bảo với quá khứ mất mát, càng trình hiện sự mất mát, sự đau khổ khác nhau của mọi gia đình thời hậu chiến. Trong đêm giao thừa, ở nhà Thủy Tạ cạnh hồ Gươm, không gian lễ hội “đông đảo nườm nượp, trong trùng điệp tươi vui, tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát” (tr. 24) vốn tràn đầy sự sống, nhưng ký ức chiến tranh bất ngờ bùng lên, thoát khỏi sự kìm nén và tiết độ, “vì ai đó nhắc đến Cường khiến Lan khóc” (tr. 25). Khoảnh khắc này cho thấy ký ức chiến tranh không bị loại trừ hoàn toàn khỏi diễn ngôn hòa bình, mà chỉ bị nén lại, trì hoãn. Khi có điều kiện thích hợp, trong sự tụ họp của những con người cùng chia sẻ một quá khứ, sự giao thoa ký ức cùng nhau phá vỡ bề mặt ổn định của diễn ngôn. Hiện tượng này thể hiện tính chất tư duy của heterotopia như là nơi cho phép các diễn ngôn va chạm vào nhau, biểu lộ giới hạn của nhau, và cho phép người ta nhận thức sâu sắc hơn về thực tại đời sống. Qua các không gian dị biệt hiện diện, diễn ngôn hòa bình được trình hiện trong trạng thái mong manh, không thể triệt tiêu hay thay thế hoàn toàn những cảm nhận chiến tranh của con người; mà ngược lại, luôn tồn tại trong trạng thái phụ thuộc và chịu sự quy định bởi các ký ức về chiến tranh, trong sự thương thỏa, tìm cách trì hoãn, kìm nén của con người. Hòa bình, nhờ sự kiến tạo nghĩa này, được biểu lộ không phải như sự kết thúc chiến tranh và thay đổi thực tại, mà là một hình thức tổ chức khác của các ký ức chiến tranh, qua các hình thức tìm cách điều hướng, kiểm soát và tự kiểm soát ký ức. Thông qua cách cấu trúc mạng lưới các không gian dị biệt, truyện ngắn Ngày trở về làm lộ diện và chất vấn các diễn ngôn về chiến tranh và hòa bình. Một mặt, nó khẳng định chiến tranh chưa từng kết thúc, mà hiện diện nối dài và có khả năng tái sản xuất kinh nghiệm chiến tranh trong đời sống hậu chiến; mặt khác, các heterotopia thể hiện hòa bình như một trạng thái mong manh trong sự thỏa hiệp phức tạp của ký ức và cảm xúc được dồn nén, kìm hãm. Thông qua đây, nhận thức về không gian dị biệt thể hiện chiều kích nhân văn của nó: giúp ký ức chấn thương không bị cưỡng chế và lãng quên, không bị làm phẳng, mà được thừa nhận như một yếu tố bình thường cấu thành đời sống. Có thể nói rằng, trong Ngày trở về, không gian dị biệt không chỉ là công cụ phân tích không gian, mà còn là phương thức tư duy về lịch sử và con người. Nó cho phép văn bản vượt khỏi những cách nghĩ đơn giản, các diễn giải quan phương nhưng dễ bỏ quên phần riêng tư, nhỏ bé, thiểu số bằng cách mở ra cái nhìn mới về thời hậu chiến, rằng đây không phải thời kỳ “sau” chiến tranh, mà như một trạng thái nơi chiến tranh và hòa bình cùng tồn tại, va chạm và liên tục tái định nghĩa nhau. Song bài viết không chỉ nói về một diễn ngôn hòa bình thuần túy, Ngày trở về không chỉ là kiến tạo diễn ngôn về đô thị như một khu vực khép lại chiến tranh (dù nỗi đau còn âm ỉ, khôn nguôi) và nhìn về một đời sống mới nơi hòa bình sống lại với diện mạo của những vết thương lành sẹo (dầu khó khăn, và nhức nhối mỗi khi bị gợn lại ký ức). Cặp nhị nguyên hòa bình/hòa giải đã có sự luân chuyển, giao thoa. Sự kỳ vọng vào hòa bình không chỉ xảy ra vào thời khắc kết thúc chiến tranh, đón những đoàn trai Hà Nội từ trong Nam hồi Bắc. Nó đã có ngay từ sau mùa đông năm ấy, vắng bóng giò thủy tiên mỗi ngày tết, mãi cho tới xuân Bính Thìn 1976, loài hoa xuân đặc trưng của đất Hà Nội mới xuất hiện trở lại. Dường như mọi ước mơ của con người đã đơn giản hóa thành trạng thái sinh tử, và không loài hoa tết nào có thể đẹp bằng một lá thư mặt trận gửi đến, một dáng mũ xanh tai bèo của lính Trường Sơn bước xuống từ chuyến tàu Nam Bắc. Bảo Ninh đã có sự sắp đặt ý niệm hòa bình - niềm vui lớn lao của dân tộc sau bao tháng năm mong mỏi bằng cách viết về khúc ca vui chiến thắng Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng được vang lên đầu tiên, song ngay sau đó là ý niệm hòa giải – ca khúc kế tiếp của Trịnh Công Sơn mang tên Nối vòng tay lớn. Sẽ không thể có hòa bình nếu không có hòa giải giữa những khác biệt nơi này với nơi kia, giữa quá khứ với hiện tại. Lưu Quang Vũ đã từng viết trong bài thơ Tiếng Việt đầy trăn trở, nặng lòng: “Ai ở phía bên kia cầm súng khác/ Cùng tôi trong tiếng Việt quay về”. Bảo Ninh và Lưu Quang Vũ giống nhau ở chỗ, viết và viết bằng tiếng Việt là một hành vi đầy trách nhiệm và tự trọng của một nhà văn với cộng đồng độc giả, với nhân dân của mình; họ nhận ra dân tộc và thể tính không thể là những chiến công và máu xương, nó còn là nhận chân những nỗi đau, mất mát mãi mãi là chấn thương, ám ảnh, hủy diệt linh hồn; tự thú về bao mặc cảm, có cả tội lỗi mà trong hoàn cảnh ngặt nghèo của chiến tranh, con người ta không thể làm khác đi. Bằng cách trung thực với ký ức, một sự liêm chính đạo đức được tái thiết, làm cho lịch sử càng trở nên khả tín, người lính có thể nhẹ nhõm trút bỏ lớp áo chủ nghĩa anh hùng để hòa giải phần nào với phần tinh thần mãi mãi thương đau mà quay về với đời sống hòa bình. Bảo Ninh đã khép lại truyện ngắn của mình bằng câu chuyện về cuộc hội ngộ giữa Tâm với bạn bè phổ thông trường Bưởi vào ngày cuối năm. Câu chuyện về Cường lớp trưởng (ngay trước thềm năm mới, và trong cái tết đầu tiên của Hà Nội sau thống nhất, giữa không khí trầm tư, mặc tưởng đến kỳ lạ của Thủ đô) đưa tất cả mọi nhân vật vào cảm giác đau thương tột cùng. Đó là nỗi đau của việc phải sống tiếp và đón nhận đau thương ấy. Chỉ trong việc tự đánh dấu mình bằng đau thương, ký ức về những người lính đã kiên trung ngã xuống cho Tổ quốc mới không bị lãng quên, phản bội. Và chỉ trong đau thương và bị đánh dấu bởi vết sẹo luôn mưng mủ mỗi khi ký ức sống lại và mới lên như thể chưa từng phôi pha, người lính trong thời bình mới đủ sức nặng lời nói ở câu chuyện kể lại cho những người sinh ra trong thời bình vốn xa lạ với bom rơi đạn nổ, buộc họ phải lắng nghe về một thời mất mát, và họ có trách nhiệm gìn giữ hòa bình, hòa giải những biên giới nghịch thù trong tối tăm tư tưởng, mạch lạc và thông tỏ trong nhận thức về số phận con người, dân tộc để có thể thực sự cùng dân tộc nắm tay nhau nối vòng tay lớn thực sự cùng tình yêu thương, bác ái.
4. Kết luận
Từ việc vận dụng khái niệm heterotopia của Michel Foucault vào việc đọc truyện ngắn Ngày trở về của Bảo Ninh, bài viết đã cho thấy không gian trong văn bản không chỉ là phông nền của tự sự, mà là một cấu trúc mang tính diễn ngôn, nơi các kinh nghiệm lịch sử và cảm xúc hậu chiến được tổ chức, điều tiết và biểu hiện. Các không gian như nhà ga, phố xá, gia đình, trong tính chất “dị biệt” của chúng, không đơn thuần phản ánh thực tại, mà còn là những cơ chế làm lộ diện các trật tự tri thức và cảm xúc vốn vận hành trong đời sống hậu chiến. Trên cơ sở đó, có thể khẳng định rằng heterotopia, trong trường hợp này, không chỉ là một công cụ mô tả không gian, mà là một phương thức nhận thức cho phép tiếp cận văn bản như một trường diễn ngôn phức hợp, nơi các trật tự ý nghĩa luôn trong trạng thái vận động, va chạm và tái cấu trúc. Cách tiếp cận này góp phần mở rộng khả năng đọc văn học hậu chiến Việt Nam, chuyển trọng tâm từ việc truy tìm nội dung phản ánh sang việc phân tích các cơ chế kiến tạo nghĩa, qua đó làm nổi bật tính chất đa tầng, đa chiều của kinh nghiệm lịch sử trong văn học. Từ đây, có thể gợi mở một hướng nghiên cứu rộng hơn: việc khảo sát các không gian dị biệt trong văn học Việt Nam đương đại không chỉ giúp nhận diện các hình thức tổ chức không gian nghệ thuật, mà còn cho phép tiếp cận sâu hơn vào cách văn học tham gia vào quá trình kiến tạo và chất vấn các diễn ngôn lịch sử, văn hóa và xã hội. Trong bối cảnh đó, heterotopia có thể được xem như một khung lý thuyết hữu hiệu, kết nối nghiên cứu văn học với nghiên cứu ký ức, từ đó mở ra những khả thể diễn giải mới cho văn học Việt Nam sau chiến tranh.
Chú thích:
1 Foucault đề cập đến khái niệm heterotopia tổng cộng ba lần trong sự nghiệp của mình. Lần đầu tiên, khái niệm này được giới thiệu trong lời nói đầu cho cuốn Trật tự vạn vật (The Order of Things), với nội hàm xem heterotopia như một khu vực nằm ngoài cấu trúc diễn ngôn khả tri, đối lập với khu vực nhận thức mà Foucault gọi là utopia, là nơi giúp cho các diễn ngôn được củng cố, “tồn tại một miền tưởng tượng, yên ổn, nơi chúng có thể triển khai” [4; tr. xix]. Lần thứ hai, Foucault giới thiệu thuật ngữ này trong một bài phát thanh, và lần thứ ba, ông tiếp tục đề cập đến heterotopia qua bài giảng được đề cập đến trong bài viết. Trong đó, bài giảng được ghi chép lại có thể xem như nguồn tham khảo quan trọng nhất, đầy đủ nhất về khái niệm này trong tư tưởng của Foucault. Có nhiều bản dịch khác nhau cho bài giảng này, tiêu biểu là của Jay Miskowiec và Robert Hurley.
2 Michel Foucault (1986), “Of other spaces”, Jay Miskowiec dịch sang tiếng Anh, Diacritics: A Review of Contemporary Criticism, tập 16, số 1, tr. 22-27.
3 Michel Foucault (1988), “Different Spaces”, Robert Hurley dịch sang tiếng Anh, Aesthetic, Method and Epistemology: Essential works of Foucault 1954 - 1984, tập 2, James D. Faubion biên tập, NXB The New Press, tr. 175-186.
4 Nguyên văn: “That enables thought to operate upon the entities of our world, to put them in order, to divide them into classes, to group them according to names that designate their similarities and their differences”. Xem: Michel Foucault (2005), The Order of Things: An Archaeology of the human sciences, NXB Routledge, tr. xix.
5 Nguyên văn: “They are society perfected or the reverse of society”; xem: Michel Foucault (1988), “Different Spaces”, Robert Hurley dịch sang tiếng Anh, Aesthetic, Method and Epistemology: Essential works of Foucault 1954 - 1984, tập 2, James D. Faubion biên tập, NXB The New Press, tr. 178
6 Nguyên văn: “They secretly undermine language, because they make it impossible to name this and that, because they shatter or tangle common names, because they destroy ‘syntax’ in advance”. Cần lưu ý, trong đoạn này, Foucault không có ý đề cập đến tư duy ngôn ngữ theo cách thông thường, mà đề cập đến cách tư duy của con người. Bối cảnh của nhận định này trong trật tự vạn vật là hiện tượng một cuốn bách khoa toàn thư Trung Hoa được Borges đề cập đến có những mục từ sắp xếp bất quy tắc. Thông qua hiện tượng này, lập luận của Foucault là, vì con người (phương Tây) sống trong một bầu sinh quyển diễn ngôn hoàn toàn biệt lập với người Trung Hoa, nên không thể hiểu được trật tự này. Do vậy, nhờ sự hiện diện của một heterotopia là cuốn bách khoa toàn thư, người ta mới có thể nhận ra các quy tắc ngầm ẩn vô hình chi phối nhận thức của chính mình, thông qua việc khiến người đọc bối rối trước một trật tự xa lạ; xem: Michel Foucault (2005), The Order of Things: An Archaeology of the human sciences, NXB Routledge, tr. xix.
7 Nguyên văn: “Realized utopias in which the real emplacements, all the other real emplacements that can be found within the culture are, at the same time, represented, contested, and reversed, sorts of places that are outside all places, although they are actually localizable”; xem: Michel Foucault (1988), “Different Spaces”, Robert Hurley dịch sang tiếng Anh, Aesthetic, Method and Epistemology: Essential works of Foucault 1954 - 1984, tập 2, James D. Faubion biên tập, NXB The New Press, tr. 178.
8 Michel Foucault (1988), “Different Spaces”, Robert Hurley dịch sang tiếng Anh, Aesthetic, Method and Epistemology: Essential works of Foucault 1954 - 1984, tập 2, James D. Faubion biên tập, NXB The New Press, tr. 175-186.
9 Bảo Ninh: “Ngày trở về”, trong Văn mới 10 năm 2015 - 2025 (Nhiều tác giả), NXB Hội nhà văn, 2026, tr. 13. Bắt đầu từ đây, các trích dẫn trong Ngày trở về đều lấy từ cuốn sách này.
10 Hiện tượng nhiều gia đình cùng ở chung trong một căn biệt thự Pháp cổ ở Hà Nội giai đoạn sau 1954 đến từ chính sách nhà đất của nhà nước. Sau năm 1954, nhiều biệt thự thuộc sở hữu tư nhân được Nhà nước tiếp quản và phân chia lại. Đây là hình thức “cải tạo xã hội chủ nghĩa” đối với nhà ở.
11 Panopticon là kiểu nhà tù hình tròn, cho phép các giám thị cai ngục quan sát tù nhân, trong khi các tù nhân không thể biết được chắc chắn rằng mình có đang bị quan sát hay không. Foucault vận dụng kiểu kiến trúc này để xây dựng khái niệm về một “hệ thống giám sát toàn cảnh”, nơi con người thực hành vị thế là những kẻ tự giám sát chính mình và tuân theo khuôn khổ, trong khi không cần thiết có một giám ngục chắc chắn. Xem:Michel Foucault (2022), Giám sát và trừng phạt - nguồn gốc nhà tù, Trần Thị Châu Hoàn, Nguyễn Ngọc Tuấn dịch, Hoàng Hưng hiệu đính, NXB Tri thức, tr. 275.
12 Nguyên văn: “Break with their traditional time”.Michel Foucault (1988), “Different Spaces”, Robert Hurley dịch sang tiếng Anh, Aesthetic, Method and Epistemology: Essential works of Foucault 1954 - 1984, tập 2, James D. Faubion biên tập, NXB The New Press, tr. 175-186.
12 Diễn ngôn, trong ngữ cảnh này, là một cơ chế tạo nghĩa mang tính xã hội, thông qua đó thực tại được tổ chức, phân loại và trở nên khả tri đối với con người. Theo cách hiểu này, diễn ngôn luôn gắn với một trật tự tri thức cụ thể trong những điều kiện lịch sử xác định, nơi các phát ngôn không tồn tại tự do mà bị quy định bởi những quy tắc vô hình: cái gì có thể được nói, ai có quyền phát ngôn, và những gì bị loại trừ khỏi khả năng biểu đạt. Do đó, diễn ngôn không chỉ phản ánh thế giới, mà còn tham gia vào việc kiến tạo thế giới, thiết lập nên các hệ thống ý nghĩa, chuẩn mực và giá trị chi phối cách con người nhận thức và hành động. Trong tiến trình đó, diễn ngôn luôn là kết quả của những thương thảo và xung đột phức tạp giữa các lực lượng xã hội, mang dấu ấn của quan hệ quyền lực - tri thức. Sara Mills định nghĩa: “Các diễn ngôn là tập hợp các nhận định được phê chuẩn, mang một thứ lực được định chế hóa nào đó, điều đó có nghĩa là chúng có ảnh hưởng sâu sắc đến cách mà cá nhân hành động và suy nghĩ. Cái tạo nên biên giới của một diễn ngôn rất không rõ ràng. Tuy nhiên, ta có thể nói rằng các diễn ngôn là các nhóm nhật định có một thứ lực giống nhau - chúng được nhóm lại với nhau bởi một áp lực định chế nào đó, bởi sự tương tự giữa xuất xứ và bối cảnh hay bởi chúng cùng hành động theo một cách gần giống nhau.” (Sara Mills, “Các cấu trúc của diễn ngôn”, Hải Ngọc dịch, https://hieutn1979.wordpress. com/2015/10/17/sara-mills-cac-cau-truc-cua-dien-ngon/, đăng ngày 17/10/2025, truy cập ngày 12/03/2026). Trong mối quan hệ với không gian, utopia có thể được hiểu như một cấu trúc tưởng tượng góp phần củng cố và hợp thức hóa các diễn ngôn hiện tồn, bằng cách kiến tạo những hình ảnh ổn định, hài hòa về trật tự xã hội. Ngược lại, heterotopia không trực tiếp phá hủy diễn ngôn, mà đặt các diễn ngôn vào trạng thái lệch pha và va chạm, qua đó làm lộ ra tính chất kiến tạo, tính bất ổn và những giới hạn nội tại của chính các diễn ngôn đó.