BIỂU TƯỢNG LINH VẬT TRÂU TRONG TRUYỆN CỔ VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM*

Bài viết phân tích hình tượng trâu trong truyện cổ và tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Trâu được thiêng hóa thành vật tổ của nhiều tộc người, là linh vật khổng lồ mang sức mạnh siêu nhiên và đóng vai trò như sứ giả của thần Trời xuống trần gian.

   Việt Nam với cấu trúc một quốc gia đa tộc người, mỗi tộc người lại có một nền văn hóa riêng, đa dạng trong thống nhất. Điều đó dẫn đến tính đặc thù và phổ quát của tín ngưỡng dân gian về linh vật trâu ở các tộc người. Trâu vốn là một động vật hoang dã ăn cỏ và sống ở đầm lầy, được con người thuần hóa từ hàng ngàn năm trước, kể từ đó trâu trở thành loài vật gần gũi với con người, trâu có vai trò quan trọng trong cuộc sống và các hoạt động nông nghiệp, đặc biệt là việc trồng lúa. Con trâu là đầu cơ nghiệp, là tài sản lớn của mỗi gia đình. Trâu đã đi vào trong đời sống tâm linh của cộng đồng như là một biểu tượng văn hóa. Biểu tượng ấy đã tồn tại một cách hết sức tự nhiên. Trong truyện cổ và tín ngưỡng dân gian, trâu mang ý nghĩa biểu trưng là vị thần tổ tiên, một loài động vật linh thiêng với sức mạnh siêu nhiên, vị sứ giả của Trời xuống giúp người trần gian làm ruộng, cấy lúa.

   1. Trâu – vật tổ

   Tín ngưỡng thờ vật tổ với một hệ thống lý thuyết đa dạng, phức tạp, nhiều tín điều đã được công thức hóa qua những biểu hiện cụ thể về tục thờ tôtem. Theo tác giả Tạ Đức, trong huyền thoại Toraja, trâu là anh của người và lúa. Trong tâm thức người Tày – Thái, trâu đã trở thành bà tổ của họ. Những tượng gỗ hình tổ tiên có sừng của người Nias dường như cũng phản ánh quan niệm tổ tiên là trâu.. Đặc biệt, huyền thoại quả bầu của người Lào kể rằng, sau nạn hồng thủy, Trời cho loài người một con trâu để trồng lúa, khi trâu chết, từ lỗ mũi trâu mọc ra cây bầu đẻ ra một quả bầu mẹ lớn sinh ra các tộc người. Theo tài liệu dân tộc học của tác giả Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, đầu thế kỷ XX, người Tày tại Mường Muồm (Bảo Lạc, Cao Bằng) vẫn theo tục bắt người đàn ông làm vật hiến sinh trong lễ cúng linh hồn mường ở sông suối. Về sau thay thế bằng việc lấy trâu trắng làm lễ. Bà tổ sinh ra người Tày Trắng được đặt tên là Dà Vài Khao (Bà Trâu Trắng). Người Thái Đen khi làm lễ cúng hồn Mường ở sông suối tại địa điểm được chọn gọi là Văng Mương thì dùng trâu đen làm vật hiến sinh, khi cúng núi hồn mường mới dùng trâu trắng. Các lễ cúng mường theo cách đó người Thái gọi là Tế Đăm Đón (tế đen trắng). Trong nghi thức cúng bà đúc khuôn người (Xên Bẩu) của người Thái Đen xưa, người ta thường lấy lạt tết hình nộm trâu và gọi bằng tên tượng trưng là trâu tổ (quai nen). Mâm cúng gồm hình nộm con trâu - gọi bằng tên tượng trưng là trâu tổ - được bày xếp thành từng đàn nối đuôi nhau và bên cạnh chúng người ta còn đặt hình nộm nỏ hoặc cung, tên4.

   Tục cà răng ở các dân tộc khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên là biểu hiện của tín ngưỡng thờ trâu vật tổ, theo phong tục của cộng đồng, những người đến tuổi nhất định sẽ phải cà răng để có bộ răng giống con trâu tổ tiên của mình. Tác giả Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi cho biết, khi cà (cưa) răng rất đau đớn, nhiều người Ba Na phải chịu hủy 6 cái răng, mỗi lần kể lại họ vẫn còn thấy sợ. Các tác giả cho rằng nếu chỉ để tránh sự nhạo báng của kẻ khác nếu không cà răng thì chắc người Ba Na chẳng tội gì mua lấy cái đau đớn ấy. Có người Ba Na cho biết, người cà răng để giống trâu bò, người không cà răng giống ngựa5. Tục cà răng, cưa răng là tục phổ biến ở nhiều tộc trên thế giới với nhiều ý nghĩa: đánh dấu tuổi trưởng thành, tuổi kết hôn, làm đẹp, thử thách lòng dũng cảm, tạo ra một dấu hiệu đặc trưng cho người cùng làng hay cùng dòng họ... Các tục đó thường gắn với lễ trưởng thành, con người bắt đầu mang một dấu hiệu đặc trưng của con vật tổ6. Theo đó, tục cà răng là tín hiệu của tín ngưỡng thờ trâu vật tổ.

   Người Mạ có truyện về nguồn gốc tục cà răng, kể về vị thần K’Boong dặn những con người đầu tiên được sinh ra phải nghe lời các thần linh (Yang). Những con người đầu tiên nghe theo lời thần đã mở lễ tế thần linh, họ giết một người trong dòng họ mình để lấy thịt dâng lên thần nhưng thần N’duu nói với K’Yôt đi bảo những người đầu tiên biết là không được giết người cúng thần linh mà phải giết trâu thay thế cho con người. Người Mạ muốn tỏ mình là con cháu của K’Boong và của các Yang nên không ăn thịt người, chỉ ăn gạo và thức ăn chín. Họ phải cà răng trước cửa trước khi thành người lớn để chứng tỏ mình không ăn thịt người, tránh việc ma quỷ ở trong người mình (Sự tích về tục cà răng)7.

   Trong tín ngưỡng của các tộc người khu vực Tây Nguyên có nghi lễ đâm trâu còn gọi là lễ ăn trâu, nhằm hiến tế trâu đến thần Trời (Yang) - vị thần tối cao. Theo quan niệm người Tây Nguyên, trâu là tượng trưng cho vật tổ linh thiêng. Trâu dùng để hiến tế là con vật thay người làm vật cúng tế cho thần linh. Người ta hứng máu tuôn ra từ vết đâm trâu hòa với rượu để ông chủ lễ cúng thần. Máu trâu dùng làm lễ rửa túi thiêng (Yang kơdung) được đưa từ cây nêu xuống. Trong nghi lễ này, cột đâm trâu là cây gạo – cây vũ trụ, máu trâu tượng trưng cho mưa trời tưới xuống, đánh dấu một năm mới, một mùa lúa mới8.

   Qua các dữ liệu từ truyện cổ và tín ngưỡng dân gian cho thấy, ở một số tộc người miền núi, đặc biệt là ở đồng bào Tây Nguyên, linh vật trâu được thờ cúng, sùng bái như một vị thần tổ tiên, người ta đối xử với trâu trong các nghi lễ một cách trang trọng, trâu được coi là người với tư cách là linh vật tô tem.

   2. Trâu – linh vật khổng lồ, sức mạnh siêu nhiên

   Truyện cổ và tín ngưỡng thờ linh vật trâu ra đời, lưu truyền theo quy luật lưu truyền của các loài vật được linh thiêng hóa, các linh vật đều có hành trạng kỳ vĩ, phi thường, mang sức mạnh siêu nhiên. Người Tày có thần thoại kể rằng, thuở xưa, có hai vợ chồng Tài Ngào người cao lớn đến nỗi đầu ngập vào mây xanh. Hai vợ chồng còn có một cái cày to bằng cả một dãy núi đá lớn. Còn chiếc bừa của họ thì mỗi răng cũng bằng một ngọn núi đá chon von. Con trâu của họ to bằng nửa ông trời. Quanh năm, hai vợ chồng Tài Ngào cày ruộng, cấy lúa, gieo nương kín cả mặt đất (Hai vợ chồng Tài Ngào (Ông khổng lồ))9. Theo truyện kể, linh vật trâu có thân hình khổng lồ, sánh ngang tầm vóc của vũ trụ, tự nhiên.

   Trên vùng đất kinh thành Thăng Long xưa kia còn lưu truyền truyện có nội dung kể về nhà sư Khổng Lồ sang Bắc quốc xin đồng đen về đúc các khí vật thờ Phật, tháp Báo Thiên chín tầng, tượng Phật cao vừa sáu trượng, đồng thì đem đúc một qua “hồng chung”. Chuông đúc xong to đến nỗi khi đánh lên hồi đầu tiên, tiếng ngân vang khắp bốn cõi, vang sang đến tận bên Trung Quốc. Nghe tiếng chuông, con trâu vàng nằm trong kho vàng của vua Trung Quốc bỗng như được thức tỉnh. Vì đồng đen là mẹ của vàng, nó bèn chạy một mạch sang nước Nam, không một sức nào cản nổi. Nó tìm đến bên cạnh quả chuông mới đúc. Khổng Lồ sau khi được vua đồng ý đã mang quả chuông ném xuống hồ Tây. Con trâu vàng nghe tiếng, vội nhảy ngay xuống hồ. Từ đó về sau thỉnh thoảng những lúc thanh vắng người ta thấy quai chuông nổi lên mặt nước. Còn con trâu vàng đôi lúc lên bờ hồ đi dạo, hễ thấy bóng người là lặn xuống ngay. Cũng chính vì câu chuyện này mà Hồ Tây còn có tên là vực Kim Ngưu (trâu vàng) (Khổng Lồ đúc chuông)10. Theo truyện kể, linh vật trâu có sức mạnh vô song, khi trâu phi từ phương Bắc sang nước ta, không một sức nào có thể cản nổi.

   Ở vùng đất xứ Bắc lưu truyền truyện kể về tinh trâu vàng (Kim Ngưu) trên núi Tiên Du, nửa đêm thường toả ra ánh sáng. Có nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán trâu, trâu vàng bỏ chạy húc vào đất làm sụp thành cái hố. Nơi này sau gọi là thôn Húc. Trâu chạy đến địa phận Văn Giang, vì vậy ở đây có cái vũng lớn gọi là vũng Trâu Đằm. Trâu chạy qua các xã Như Phượng, Như Loan, Đại Lạn, Đa Ngưu. Các xã này sở dĩ tên như vậy là vì có vết chân trâu đi tới. Trâu lại từ bên trong ra sông Cái, đến Ninh Giang, đi men phủ Lý Nhân, theo ven sông Cái tới sông Tô Lịch, chỗ ấy chính là Tây Hồ. Người đời truyền tụng rằng, Cao Biền giỏi thuật số, thông địa lý, thường cưỡi diều giấy bây trên không trung để yểm các nơi thắng cảnh. Biền thấy trâu đi vào hồ Dâm Đàm (Nay là Tây Hồ) rồi thoắt không thấy trâu đâu nữa. Trên đường trâu chạy, khắp nơi biến thành khe, ngòi, rãnh, lạch (Con trâu vàng ở huyện Tiên Du)11. Theo truyện kể, linh vật trâu có hành trạng kỳ vĩ, hình dạng khổng lồ, sức mạnh siêu nhiên.

   Người Mường có truyện kể về con trâu to lớn và hung dữ, ngày thường không biết nó biến đi đâu nhưng đến khi lúa ngậm sữa trổ đòng thì lại xuất hiện. Nó ăn hết lúa ruộng này đến lúa ruộng khác. Có hai người hứa giúp dân bản trị trâu, tìm cách đến gần để bắn vào mắt trâu, người ta thấy mắt trâu to đến một cân nên gọi là “ta cân” – (mắt cân) (sau lấy tên bản là Ta Cân). Nhưng con trâu vẫn không chịu chết, nó chạy qua suối về phía đèo Pha Đin, đến ngã ba đường đi Lai Châu, Thuận Châu mới chịu ngã xuống. Nơi đó người ta đặt tên cho mường là mường Quái (mường Trâu). Còn chỗ hai chàng trai đánh đuổi trâu người ta gọi là mường Húa (“Húa” tiếng Thái là đuổi) - mường Đuổi (Mường Quái)12.

   Theo huyền thoại này của người Mường, dấu tích của linh vật trâu với sức mạnh siêu nhiên còn để lại trên những địa danh cụ thể trên vùng đất của đồng bào. Người Thái có truyện về trên cánh đồng Mường Lò, có một con trâu đá đứng quay về phía Nghĩa Lộ nên nó đã ăn hết của cải, gặm hết đất đai của vùng này. Thế rồi, có một ông khổng lồ không biết từ đâu đến đã dùng tay xoay hướng đứng của con trâu, bắt nó phải xoay đầu về phía Yên Bái. Từ đó cánh đồng Mường Lò trở lại màu mỡ, nhân dân Nghĩa Lộ trở nên giàu có, ấm no13.

   Trong tâm thức cộng đồng, trâu là linh vật có sức mạnh phi thường, mang tính siêu nhiên, các dấu tích của trâu vàng gắn với các địa danh là một hiện tượng mang tính phổ biến ở các nước thuộc khu vực Đông Bắc Á, tác giả Stein cho rằng, huyền thoại về con trâu vàng/kim loại (kim ngưu) gắn với hồ, núi, con đường, chùa mang tên Kim Ngưu không chỉ có ở Hà Nội mà con tìm thấy ở nhiều nơi ở Nam Trung Quốc và Nhật, liên quan tới tục người xưa khi đắp đê, dựng thành gần sông phải đúc tượng trâu bằng kim loại rồi thả xuống sông hồ hoặc chôn vào đất để “trấn sơn trị thủy”. Người ta tin rằng, việc chôn yểm thờ cúng tượng các con vật có tính lưỡng thê tức là vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước như trâu, rùa, cóc, nhái… có thể làm cho các công trình bằng đất như thành, đê được ổn định vững chắc lâu dài14. Ở nước ta, dấu tích trâu vàng gắn liền với sự hình thành các công trình có quy mô lớn, liên quan đến sông hồ, đê điều, thành quách. Ngoài ra, việc thờ trâu vàng còn là hình thức trấn sơn trị thủy, cầu mưa thuận, gió hòa.

   Trong truyện cổ người Chăm, con trâu thần đã chiến đấu dũng mãnh với kẻ thù, sau khi chết đã hóa thành núi. Truyện kể rằng, hai vị thần Po Haluw Aia và Po Kabai kết thân và rủ nhau săn bắn. Một lần, Po Kabai trở về nhà không thấy Nai Bala đâu, biết Po Haluw Aia đã cướp đi người yêu của mình. Po Kabai gọi con trâu thần (Kubaw Lingã) đến bàn để đấu chiến với Po Haluw Aia giành lại người yêu. Po Haluw Aia làm phép biến hóa nhiều vô số con ong vò vẽ mặt quỷ, ong vây chặn đốt và cắn con trâu thần, cuộc đấu chiến diễn ra bảy ngày, bảy đêm, máu của trâu thần tràn ngập trong rừng, con trâu thần chiến đấu không nổi buộc bỏ chạy vào nước nhưng bầy ong vẫn đuổi theo để đốt, máu đổ quá nhiều, máu đỏ chảy tràn ra biển thấm vào cát, để làm cho cát đỏ đến bây giờ. Con trâu thần chạy đến Aia Pa-aok Bhaok Ralang, bầy ong vẫn đuổi theo, Po Kabai phải hóa phép làm núi ngăn sông cho nước dâng lên để con trâu thần lặn xuống tránh bầy ong. Po Haluw Aia thấy Po Kabai làm phép ngăn sông cho trâu lặn xuống thì làm phép cho con lươn, cá chạch, con cua moi thủng núi để nước chảy. Con trâu thần trở lại đấu chiến trên cạn, do quá mệt, lại còn bị các bầy ong đốt liên tiếp, khiến trâu thần ngã lăn ra chết biến thành núi, người dân gọi là núi Kubaw Lingâ (Po Haluw Aia (còn gọi là Po Yang In))15. Đồng bào Chăm có nghi lễ chém trâu tế thần, trâu là vật dùng tế thần linh.

   Trong truyện cổ của người Kinh, linh vật trâu còn trở thành vị anh hùng có sức mạnh to lớn, chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Trên vùng đất Phú Thọ lưu truyền truyện kể về đức Tản Viên Sơn Thánh vâng lệnh vua Hùng đi dẹp giặc Thục, đến làng Quang Húc nghỉ chân. Buổi chiều thấy hai con trâu đực húc nhau rồi nhảy xuống sông Bứa mất tích. Xẩm tối hôm đó có hai chàng trai khỏe mạnh tự nhận là giỏi đánh nhau dưới nước, xin được theo Tản Viên ra trận lập công. Họ xưng là hai anh em, anh là Trần Giới, em là Trần Hà. Tản Viên thu nạp và sai thống lĩnh thủy quân. Hai anh em đã lặn xuống nước, đục thuyền địch, phá tan quân Thục. Về sau, họ khai thực là con vua Động Đình Hồ, do phạm tội nên bị phạt làm kiếp trâu nước ở sông Bứa. Họ nhờ Tản Viên nói với phụ vương cho về cung phủ, Tản Viên nhận lời. Thuyền quân về đến Quang Húc, tôm cá, rùa, giải, rắn, thuồng luồng nhao lên đón mừng. Giữa sông Bứa dềnh lên hai con trâu nước húc nhau. Trần Giới và Trần Hà vái chào Tản Viên rồi nhảy lên mình trâu cưỡi lặn cùng xuống đáy sông. Nhưng rồi cả hai vâng mệnh phụ vương, quay lại giúp Tản Viên đánh giặc. Về sau, vua Hùng truyền ngôi cho Thục An Dương Vương, hai ông giúp vua Thục đánh phá quân Tần, trổ tài bơi lội. Hai ông được thờ ở Quang Húc, ngày cầu có lệ chọi trâu, lấy điển tích từ đôi trâu nước húc nhau (Trâu nước)16. Truyền thuyết khác của người Kinh kể về vị tướng tài Yết Kiêu đã dùng đòn gánh đánh hai con trâu đang chọi nhau trên bờ biển làm chúng lặn mất. Yết Kiêu thấy trên đòn gánh dính vài sợi lông trâu, ông nuốt vào bụng, nhờ đó có tài bơi lặn đi lại dưới nước như trên cạn17. Các truyền thuyết trên kể về những nhân vật anh hùng chống giặc ngoại xâm của dân tộc, sức mạnh phi thường của họ được liên tưởng với hình tượng linh vật trâu.

   Trâu vốn cần cù, khỏe mạnh, làm việc nặng nhọc giúp cho người dân trong công việc đồng áng, nương rẫy. Nhờ sức mạnh của trâu nên những chàng trai khỏe mạnh, sung sức được ví với hình ảnh của trâu, người Việt có câu “Khỏe như trâu”. Ở một số địa bàn sinh tồn của người Việt đã diễn ra hội chọi trâu, tiêu biểu như hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng), hội chọi trâu ở Lập Thạch (Phú Thọ),… Các lễ hội này vừa thể hiện niềm tin tâm linh vào vị thần trâu, vừa biểu hiện sức mạnh và sự uy dũng của linh vật này.

   3. Trâu – sứ giả thần

   Trời Trâu sau khi được con người thuần hóa trở thành loài vật với đặc tính cần cù, hiền lành, dễ sai bảo đã được quan niệm như một linh vật đại diện của vua Trời - đấng thần linh tối cao. Trời/Then/ Yang ở trên cao, có thể nhìn thấy được toàn bộ đời sống của con người dưới trần gian, Trời truyền lệnh của mình qua linh vật trâu, sai trâu xuống trần gian làm những việc ích dụng để giúp người dân có cuộc sống no đủ hơn. Trâu trở thành linh vật với vai trò là sứ giả của thần Trời.

   Người Mường có truyện kể rằng, ngày xưa, có một anh nông dân làm nương rất giỏi. Đến ba mươi tuổi mà vẫn chưa có nhà ở. Trâu thần giúp anh mang cây gỗ về dựng nhà rồi cùng ở. Một đêm, anh nông dân mơ thấy thần Sét cầm lưỡi tầm sét đứng trên cửa trời trò chuyện với trâu và bảo trâu giúp anh làm nhà cho đến lúc xong. Làm xong nhà, anh nông dân hỏi trâu có về nhà trời nữa không, trâu bảo đã xin với nhà trời cho ở lại trần gian suốt đời với anh nông dân rồi. Từ đấy trâu và người nông dân làm ăn bên nhau đến già (Con trâu thần)18. Theo truyện kể này, trâu theo lệnh của Trời xuống giúp người dân có nhà để ở, sau khi hoàn thành sứ mệnh giúp người dân, trâu không trở về trời mà ở lại với người ở trần gian suốt đời.

   Người Tày có truyện kể, xưa kia người vẫn ở dưới đất và phải làm lụng kiếm sống, còn trâu được ở trên trời với Pụt. Pụt thấy loài người còn thiếu thứ cây ra quả để ăn cho no bụng bèn bảo trâu mang xuống hạ giới cho người ít giống lúa. Nhưng vì sợ người sẵn miếng ăn sẽ sinh lười biếng nên Pụt dặn trâu mang theo cả giống cỏ, rắc mười hạt lúa lại rắc một hạt cỏ. Làm như vậy, dẫu có cái ăn nhưng người sẽ không sinh ra biếng nhác. Nhưng trâu vốn là kẻ chậm chạp, hay quên nên khi xuống hạ giới lại làm ngược lại với lời Pụt dặn. Trâu rắc mười hạt cỏ, mới chịu rắc một hạt lúa. Từ đó, người có lúa ăn nhưng cỏ nhiều làm không xuể. Biết chuyện, Pụt tức giận, liền đày trâu xuống hạ giới ăn cỏ và giúp người cày bừa diệt cỏ. Loài trâu ngày nay phải kéo cày mà chỉ được ăn cỏ là bởi vậy (Tại sao ngày nay trâu ăn cỏ)19. Truyện giải thích nguyên nhân trâu ăn cỏ và ở lại trần gian với con người với tư cách là sứ giả của Trời, theo lệnh Trời xuống trần gian. 

   Ở vùng Phú Yên lưu truyền truyện kể về hai hòn đá lớn nằm kề sát nhau có hình dạng con trâu khổng lồ, đó là hai con trâu của thiên đình sai xuống giúp dân khẩn hoang, khai phá đất đai trong buổi đầu mở đất, để có những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ hai bên bờ sông Ba, sông Cái. Khai phá xong, đôi trâu thần quyến luyến với bản xứ nên không nỡ bay về trời, bèn hóa hồn vào đá thành hai tượng trâu nằm (Chuyện trâu thần). Theo nội dung của truyện, linh vật trâu đã thực hiện mệnh lệnh của Trời xuống trần gian giúp dân khai khẩn đất hoang, tạo dựng những cánh đồng. Trâu gắn bó với người nên đã hóa đá thành tượng để được ở lại trần gian với người.

   Linh vật trâu tồn tại trong tâm thức cộng đồng một cách sâu đậm với tư cách là một vị thần môn hộ, sứ giả của vua Trời. Trâu gần gũi và mang đến những điều tốt lành cho con người nên nhiều cộng đồng đã thực hành các nghi lễ về linh vật trâu gắn với hình thái sản xuất nông nghiệp. Người Thái có lễ hội dâng trâu tế Trời, một trong lễ hội lớn nhất của đồng bào. Người Thái còn có lễ “gọi hồn vía trâu bò” người dân vẫn gọi là lễ “hỏm hạnh”: “Hỡi Chạu Đỉn / Hôm nay làm lễ gọi vía trâu / Hỡi hồn vía trâu bò / Giờ ruộng xong rồi / Dây thừng buộc trâu đã để trên gác bếp / Giết con gà nhỏ làm lễ vía trâu / Cắt dây mũi cho trâu lên rừng ăn cỏ ở bãi / Lên đồng cỏ cầu kỳ cho nó / Chân sau đừng vướng vào rễ dạ, rễ nua mà chết oan / Nó cắn lá lau cho đến tận thân lá lau / Cắn lá gianh cho đến tận chỗ già / Đừng cho con tắc te vào mũi nó / Đi rừng cho vững chãi như hòn đá/ Về bản thì biến thành của cải”20. Nghi lễ diễn ra sau mùa cày cấy, vào khoảng tháng sáu hay tháng bảy âm lịch. Các gia đình nuôi trâu thường sắm lễ mọn, mời thầy cúng đến nhà làm lễ hú gọi hồn vía trâu bò về nghỉ ngơi sau những ngày cày bừa vất vả. Nhà nghiên cứu Cầm Trọng cho rằng các loài gia súc, điển hình như loài trâu cũng có thể tìm được các dấu vết trong huyền thoại Thái kể về cuộc sống hoang dã và hoạt động săn bắt của các tập đoàn người xưa đến thuần dưỡng để làm sức kéo trong nông nghiệp và vật hiến sinh như ngày nay. Như vậy, ở người Thái và nhiều dân tộc khác của vùng Đông Nam Á, con vật này người nuôi không phải chỉ để làm “tôi tớ” mà còn ngự trị trong văn hóa tâm linh21.

   Trong tín ngưỡng dân gian của người Pa Dí ở lao Cai có tục cúng trâu vào ngày sinh của trâu (mùng 1 tháng 10). Hằng năm vào ngày này, những người phụ nữ là vợ của chủ nhà trong bản làng gia ngô, trộn gạo nếp để dâng cúng tổ tiên và để cài lên sừng trâu. Họ cài 9 chiếc bánh có hình giống như hình dạng bánh dày và chia đều làm 3 chồng. Con trâu được họ cầu mong và thực hành nghi thức ma thuật. Người phụ nữ là vợ của chủ nhà nặn thành hai chiếc bánh có hình tròn như sừng trâu và cài thêm hai bông hoa để cài vào hai chiếc bánh rồi cắm lên sừng các con trâu của gia đình mình, rồi người phụ nữ ấy dặn dò trâu rằng: Hôm nay là ngày mùng 1 tháng 10, ngày sinh của trâu, gia đình đã làm bánh cho trâu mong trâu được vui vẻ22... Người Bố Y có tết Sử giề Pà còn gọi là lễ tạ ơn Trâu thần được coi ngày tết lớn nhất trong năm. Trong ngày tết này, họ tạ ơn trâu thần. Con trâu được coi là linh vật có công đầu nên trong ngày tết này, trâu được ăn đồ cúng trước con người. Trong tết Sử giề pà còn diễn ra tích trò trâu thần cứu giúp người dân. Người Bố Y coi ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch là ngày sinh của trâu.

   4. Kết luận

   Trong truyện cổ và tín ngưỡng của một số tộc người, biểu tượng linh vật trâu đa dạng về ý nghĩa biểu trưng. Trâu được tôn thờ làm vật tổ tộc người, được các tộc người sùng bái và thực hành nghi lễ hết sức trang trọng. Trâu cũng là linh vật dùng để hiến tế cho thần. Trâu với sức mạnh dồi dào, sự hùng dũng vốn có đã được huyền thoại hóa thành linh vật với sức mạnh siêu nhiên để lại dấu tích kỳ vĩ, trâu còn tượng trưng cho người đàn ông, được đồng nhất với sức mạnh nam tính. Đồng hành cùng với con người trong hàng ngàn năm lịch sử, trâu là loài vật không thể thiếu trong lao động sản xuất và trong đời sống văn hoá của các cộng đồng cư dân nông nghiệp, sự hiện diện của linh vật trâu ở trần gian với vai trò là sứ giả của thần Trời. Trong thực tiễn, trâu có quan hệ gắn bó mật thiết với con người, sở hữu trâu vừa là sở hữu tài sản, vừa thể hiện uy quyền của cá nhân trong cộng đồng. Xưa kia ở đồng bào Tây Nguyên, vị thế của người gắn với số lượng trâu mà người ấy mang hiến tế. Điều đó cho thấy, trâu giữ vai trò lớn trong thế giới quan và nhân sinh quan của một số tộc người.

 

 

 

Chú thích:
* Bài viết là sản phẩm của đề tài khoa học mã số: VVH/ NV/2026-03.
** Viện Văn học.
1 Dẫn theo Phân tâm học và văn hoá tâm linh trong đề mục Sự trở lại ấu thơ của tục tôtem bản dịch của Đoàn Văn Chúc, NXB. Văn hoá thông tin, 2004.
2, 8 Tạ Đức (1999), Nguồn gốc và sự phát triển của kiến trúc biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn, Hội dân tộc học Việt Nam, tr. 236; . 235-236.
3, 4 Cầm Trọng, Phan Hữu Dật (1995), Văn hoá Thái Việt Nam, NXB. Văn hoá dân tộc, tr 33-34, 56.
5 Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi (2011), Người Ba Na ở Kun Tum, NXB. Tri thức, tr. 214.
6 Tạ Đức, Nguồn gốc và sự phát triển của trống đồng Đông Sơn, NXB. Tri thức, H., 2017, tr. 613.
7 Huỳnh Văn Tới, Lâm Nhân, Phan Đình Dũng (2013), Văn hoá người Mạ, NXB. Văn hoá Thông tin, tr. 362-363.
9 Vũ Anh Tuấn, Bàn Tuấn Năng, Lâm Xuân Đình (2002), Truyện cổ Bắc Kạn, tập 3, Sở Văn Hóa – Thông tin và thể thao Bắc Kạn, tr. 37-38.
10 Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng chuyện cổ tích Việt Nam. Tập 1, NXB. Giáo dục, tr. 509-512.
11 Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh, Kiều Phú (1960), Lĩnh Nam chích quái, NXB. Văn hoá, tr. 117.
12 Ninh Viết Giao, Phan Kiến Giang, Hoàng Tam Khọi, Lò Văn Sĩ, Bùi Tiên (Sưu tầm, biên soạn) (1980), Truyện cổ Thái. NXB. Văn hóa, tr. 22-23.
13 Nguyễn Thị Huế (chủ biên - 2009), Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 3 - Thần thoại. NXB. Khoa học xã hội, tr 465.
14 Tạ Đức (1999), Nguồn gốc và sự phát triển của kiến trúc biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn, Hội dân tộc học Việt Nam, tr. 238.
15 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Thuận, (2019) Truyện cổ và truyền thuyết dân gian Chăm, NXB. Nông nghiệp, tr. 92-97.
16 Vũ Kim Biên (sưu tầm, biên soạn - 1009), Truyền thuyết Hùng Vương, thần thoại vùng đất tổ. Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Phú Thọ xuất bản năm 2009, tr. 42-44.
17 Tạ Đức (1999), Nguồn gốc và sự phát triển của kiến trúc biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn, Hội dân tộc học Việt Nam, tr. 238.
18 Hoàng Anh Nhân, Dương Anh, Bùi Thiện (sưu tầm, biên soạn - 1978), Truyện cổ Mường, Nxb. Văn hóa dân tộc, H, 1978, tr 135-137.
19 Vi Hồng (2000), Truyện cổ Bắc Kạn, Tập 3. Sở Văn hóa thông tin và thể thao Bắc Kạn, tr. 46.
20 Lê Văn Kỳ, Thu Loan (1995), Văn hoá Thái Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân tộc, tr 68-69.
22 Dẫn theo Phân tâm học và văn hoá tâm linh trong đề mục Sự trở lại ấu thơ của tục tôtem bản dịch của Đoàn Văn Chúc, NXB. Văn hoá thông tin, 2004.

Bình luận

    Chưa có bình luận