CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA NHÌN TỪ DI SẢN ĐỊA PHƯƠNG TỚI TỔNG THỂ: TRƯỜNG HỢP LÀNG QUAN HỌ CỔ VIÊM XÁ - DIỀM, BẮC NINH

  • 25/04/2026 15:12:00
  • PGS.TS.NGUYỄN ĐÌNH LÂM*;NGUYỄN ĐỨC VINH**;NGUYỄN ĐÌNH KHOA ĐIỀM***
  • Nghiên cứu, trao đổi
  • 0

Trên cơ sở phân tích nguồn lực và những thách thức của di sản tại làng Quan họ cổ Viêm Xá - Diềm (Bắc Ninh) trong bối cảnh hiện nay, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm phát triển công nghiệp văn hóa một cách bền vững.

    Trong vài thập kỷ qua, công nghiệp văn hóa đã dần khẳng định vị thế như một định hướng phát triển chiến lược trên phạm vi toàn cầu, phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình kinh tế dựa chủ yếu vào tài nguyên hữu hình sang nền kinh tế dựa trên tri thức, sáng tạo và giá trị biểu tượng. Từ cuối thế kỷ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đại chúng và kinh tế tri thức, khái niệm công nghiệp văn hóa và các ngành kinh tế sáng tạo ngày càng được nhìn nhận như một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như tái cấu trúc đời sống văn hóa đương đại. David Throsby cho rằng di sản và các hoạt động văn hóa không nên được xem đơn thuần như một khoản chi phí bảo tồn, mà thực chất cấu thành một dạng “vốn văn hóa” có khả năng tạo ra giá trị kinh tế đồng thời mang lại lợi ích xã hội lâu dài nếu được quản trị hợp lý, tôn trọng giá trị cốt lõi và định hướng tới phát triển bền vững. Từ góc nhìn phát triển, văn hóa và sáng tạo còn được xem như phương tiện mở rộng lựa chọn cho cộng đồng địa phương, bởi chúng có khả năng kích hoạt nguồn lực bản địa, nâng cao năng lực cộng đồng và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong tiến trình phát triển kinh tế và xã hội.

   Tại Việt Nam, đặc biệt trong 2 đến 3 năm gần đây, công nghiệp văn hóa đã thực sự trở thành một trọng tâm chính sách, gắn liền với mục tiêu biến văn hóa thành động lực phát triển quốc gia. Dấu mốc quan trọng là Quyết định số 1755/QĐTTg năm 2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Tuy nhiên, khoảng cách giữa tinh thần chiến lược và hiệu quả thực tiễn vẫn còn lớn. Câu hỏi đặt ra là: công nghiệp văn hóa cần bắt đầu từ đâu và đâu là vấn đề then chốt của nguồn lực văn hóa cho công nghiệp văn hóa phát triển thực chất? Vấn đề là ở nhiều địa phương, việc phát huy di sản vẫn chủ yếu dừng ở mức “sự kiện hóa” hoặc “trình diễn hóa”; sản phẩm văn hóa chưa hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh; sự liên kết giữa cộng đồng và chính quyền cùng với doanh nghiệp, truyền thông còn rời rạc. Đồng thời công nghệ số và AI mới chỉ được nhắc đến như một xu hướng nhưng chưa trở thành phương tiện để mở rộng tiếp cận di sản.

   Chính vì vậy, nghiên cứu công nghiệp văn hóa bắt đầu từ thực tiễn vi mô chính là không gian sống của di sản, nơi có cộng đồng chủ thể, quy tắc truyền dạy, chuẩn mực thẩm mĩ, cấu trúc xã hội của thực hành văn hóa và các thiết chế văn hóa tại địa phương. Chỉ tiếp cận từ vi mô mới có thể nhận diện rõ nhất những thành tố tạo nên di sản, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn khi chuyển từ bảo tồn sang phát triển. Hơn nữa, vi mô chính là nơi kiểm chứng và làm giàu cho luận điểm vĩ mô, chính sách quốc gia chỉ thực sự có ý nghĩa khi được hiện thực hóa thành những mô hình vận hành phù hợp với bối cảnh cụ thể.

   Trên cơ sở cách tiếp cận lý thuyết về công nghiệp văn hóa và hệ thống từ vi mô đến vĩ mô, đồng thời trên cơ sở nguồn tài liệu phỏng vấn sâu trực tiếp từ các nghệ nhân cao tuổi, người làm quản lý văn hóa địa phương và một số thành viên trong cộng đồng địa phương tại làng Diềm – một trong những cái nôi quan trọng của di sản Quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009, làm nghiên cứu trường hợp điển hình từ đó thảo luận những vấn đề cốt lõi để trả lời câu hỏi bản chất của công nghiệp văn hóa là hướng vào cách lựa chọn sản phẩm/di sản văn hóa nào; và từ một di sản văn hóa cụ thể, chúng ta cần gửi thông điệp gì đến vấn đề lớn hơn để tạo ra tri thức dẫn dắt cho định hướng công nghiệp văn hóa tổng thể. Nghiên cứu cũng thảo luận, phân tích mức độ vận dụng khung chính sách quốc gia và địa phương, đồng thời đề xuất các giải pháp chiến lược về truyền thông và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm phát triển công nghiệp văn hóa bền vững cũng như gợi mở điều chỉnh và nhân rộng cho các làng nghề, làng văn hóa truyền thống khác tại Việt Nam

   1. Nhận diện di sản của một địa phương - làng Viêm Xá

   1.1. Những hạt nhân kiến tạo cốt lõi

   Làng Viêm Xá (làng Diềm - từ đây có thể sử dụng một trong 2 tên gọi này để phân tích) trước đây là xã Viêm Xá, tổng Châm Khê, tỉnh Kinh Bắc, nay thuộc phường Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh. Thời nguyên sơ, làng còn có tên là Viêm Ấp, ấp Viêm Trang. Theo các nguồn sử liệu tại đền Vua Bà, làng Diềm được hình thành từ thời kỳ Hùng Vương thứ 6, gắn liền với truyền thuyết về Vua Bà là vị thủy tổ được coi là người sáng tạo ra dân ca Quan họ. Vị trí địa lý của làng nằm sát ranh giới với tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm thành phố Bắc Ninh khoảng 6 km về phía Bắc, tạo nên một không gian nông thôn truyền thống giữa bối cảnh đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ, nơi các yếu tố văn hóa cổ xưa vẫn được bảo tồn qua các thực hành cộng đồng hàng ngày. Sách Không gian văn hóa Quan họ có viết: “sinh hoạt văn hóa Quan họ và hoạt động lễ hội đã chứng tỏ Quan họ là sản phẩm văn hóa làng xã ở một vùng quê tiêu biểu nhất của Bắc Ninh - Kinh Bắc. Đó là 49 làng Quan họ mà trung tâm là thành phố Bắc Ninh ngày nay”. Với hơn 49 làng Quan họ cổ ban đầu, trong đó Làng Diềm đóng vai trò trung tâm hội hát Quan họ trong việc duy trì và lan tỏa thực hành này. Làng Diềm đại diện cho không gian văn hóa gốc của Quan họ, nơi các thực hành hát đối đáp giữa bọn Quan họ vẫn được duy trì qua các phong tục kết chạ và lễ hội truyền thống, như hội làng vào ngày 6 tháng 2 âm lịch, văn hóa quan họ hay các buổi hát đối đáp, giao duyên truyền thống giữa các liền anh, liền chị tại nhà chứa Quan họ (nhà thực hành), đình làng và các không gian văn hóa cộng đồng.

   Điểm sáng nguồn lực di sản đầu tiên được nhận diện từ các di tích vật thể bao gồm Đình Diềm được xây dựng từ năm 1692, được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1991, với bức cửa võng chạm khắc tinh xảo đại diện cho nghệ thuật kiến trúc thời Lê; Đền thờ Vua Bà - Thủy tổ Quan họ, nơi tổ chức các lễ cúng hàng năm để tôn vinh nguồn gốc di sản; Nhà hát Dân ca Quan họ với diện tích 500m², được coi là hoành tráng nhất nước, phục vụ biểu diễn và lan tỏa dân ca Quan họ; Đền Cùng - Giếng Ngọc (liên quan đến truyền thuyết về nguồn nước thiêng gắn với đời sống người dân trong làng) và các nhà cổ ba gian truyền thống tạo nên một hệ sinh thái văn hóa kết hợp giữa kiến trúc cổ kính và thực hành phi vật thể. Những yếu tố này không chỉ bảo tồn giá trị lịch sử mà còn phục vụ như không gian diễn xướng, nơi các làn điệu Quan họ được trình diễn trong các dịp hội làng, hay các hoạt động cộng đồng hàng ngày.

   Lịch sử lâu đời cùng với các thiết chế văn hóa cổ đạo giúp làng Diềm kiến tạo một hệ sinh thái văn hóa với cộng đồng rộng lớn hơn. Thực tế cho thấy, Làng Diềm là một trong số ít các làng vẫn giữ được sự kết nối với các làng truyền thống như Sim Bịu (Hoài Thị) và Đống Cao, nơi các Quan họ nam và nữ duy trì tục chơi Quan họ theo lối cổ, thể hiện tính giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng địa phương. Như lời nghệ nhân Nguyễn Thị Thềm chia sẻ: “người Quan họ trước hết phải học cách ăn nói, tiếp bạn, giữ lễ nghĩa rồi mới học đến câu ca, bởi hát Quan họ thực chất là sự giao lưu tình cảm và kết nối cộng đồng”. Nghệ nhân Nguyễn Văn Thưởng cũng nhấn mạnh rằng: “Người làng Diềm luôn tự hào về làng, về vốn văn hóa quan họ. Việc kết chạ giữa các làng được duy trì như một mối quan hệ lâu dài, đã là bạn Quan họ thì không chỉ gặp nhau khi hội mà còn thăm hỏi, giữ tình nghĩa quanh năm”. Điều này khẳng định vai trò của làng như một không gian gốc, nơi di sản Quan họ vẫn sống động, không bị mai một giữa dòng chảy thời gian, và trở thành mô hình tham chiếu cho việc bảo tồn di sản phi vật thể ở Việt Nam. Như vậy, làng Diềm được xác định là một địa phương đã định hình và kiến tạo được những “hạt nhân” tạo ra nguồn lực quan trọng để tiến hành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt là các yếu tố văn hóa lõi mà chúng tôi nghiên cứu sau đây.

   1.2. Hệ giá trị văn hóa và cấu trúc nguồn lực di sản

   Hệ giá trị văn hóa tại Làng Diềm được xây dựng xung quanh các yếu tố cốt lõi của dân ca Quan họ, bao gồm tinh thần cộng đồng, triết lý sống nhân văn và bản sắc địa phương, phản ánh qua các bài hát đối đáp nam nữ thể hiện tình yêu, tình bạn và các giá trị đạo đức truyền thống như sự tôn trọng, khiêm nhường và thanh lịch. Quan họ vì thế vừa là âm nhạc vừa là một hệ thống giá trị đạo đức, nhấn mạnh tình bạn, tình yêu, sự tôn trọng lẫn nhau qua các bài hát đối đáp, với hơn 300 làn điệu cổ được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Văn hóa Quan họ cho thấy các quy tắc ứng xử được duy trì nghiêm ngặt, từ cách mời trầu, tiếp nước, xưng hô đến cách đứng ngồi, đối đáp trong hát. Phong tục kết chạ giữa các làng Quan họ góp phần tạo nên mạng lưới giao lưu văn hóa bền vững, củng cố mối quan hệ xã hội giữa các cộng đồng cư dân. Như nhận định của Lưu Hữu Phước và cộng sự: “Nền nếp Quan họ đòi hỏi mọi người khi đã đến với Quan họ đều phải lịch sự, trang nhã từ trang phục, cử chỉ, ngôn ngữ, khi ăn, nói, lúc đứng ngồi... cho đến miếng trầu, chén nước. Cho nên giao tiếp trong ca hát Quan họ là một mảng đẹp trong văn hóa lối sống, văn hóa giao tiếp của một thời”. Các nghệ nhân Quan họ tại Diềm cũng khẳng định rằng giá trị cốt lõi của Quan họ nằm ở đạo lý và tình nghĩa giữa con người với nhau. Chủ nhiệm câu lạc bộ Quan họ Làng Diềm Nguyễn Thành Đô chia sẻ rằng: “người học Quan họ trước hết phải học cách làm người cho phải phép, biết kính trên nhường dưới rồi mới học đến câu hát”, bởi theo các nghệ nhân, nếu chỉ hát hay mà không giữ được nền nếp ứng xử thì chưa phải là người Quan họ đúng nghĩa. Theo Throsby, những giá trị này có thể được coi là “vốn văn hóa”, tức “một dạng tài sản hàm chứa hoặc tạo ra giá trị văn hóa bên cạnh giá trị kinh tế mà nó có thể sở hữu” và có thể trở thành nguồn lực tạo ra lợi ích kinh tế – xã hội nếu được khai thác bền vững.

   Dựa trên quá trình thực địa, chúng tôi nhận thấy cấu trúc nguồn lực di sản tại làng Diềm có thể được phân loại thành ba nhóm chính: (i) nguồn lực con người, (ii) nguồn lực vật chất và (iii) nguồn lực phi vật thể. Ba nguồn lực này tạo thành một hệ thống tương đối hoàn chỉnh phục vụ cho việc bảo tồn và phát huy di sản. Về nguồn lực con người, cộng đồng làng hiện có nhiều nghệ nhân và cư dân tích cực tham gia các câu lạc bộ Quan họ, trong đó các thế hệ cao niên đóng vai trò truyền dạy lề lối hát cho lớp trẻ thông qua sinh hoạt cộng đồng, lễ hội và các hoạt động văn hóa địa phương. Các nghệ nhân cho rằng việc truyền dạy Quan họ không chỉ là dạy hát mà còn là truyền lại nền nếp sống, bởi “học Quan họ là học cả cách sống, cách cư xử sao cho người ta quý mến mình”. Nguồn lực vật chất bao gồm hệ thống di tích và không gian văn hóa tiêu biểu như Đình Diềm với bức cửa võng được công nhận là bảo vật quốc gia, Đền thờ Vua Bà – Thủy tổ Quan họ, cùng Nhà hát Dân ca Quan họ và các không gian sinh hoạt cộng đồng khác. Những công trình này không chỉ mang giá trị kiến trúc lịch sử mà còn đóng vai trò là không gian diễn xướng, nơi diễn ra các hoạt động hát Quan họ trong dịp lễ hội cũng như sinh hoạt thường nhật của người dân. Cuối cùng, nguồn lực phi vật thể bao gồm hệ thống tri thức dân gian, các làn điệu Quan họ cổ được truyền miệng, cùng các nghi lễ và lễ hội truyền thống như Hội làng Diềm, vốn gắn liền với thực hành di sản Quan họ được UNESCO công nhận. Chính sự kết hợp giữa tri thức, thực hành nghệ thuật và ký ức cộng đồng đã tạo nên bản sắc văn hóa đặc thù của làng, giúp di sản tiếp tục tồn tại như một phần không thể thiếu của đời sống xã hội. Tổng thể, sự kết hợp giữa nguồn lực con người, không gian vật chất và di sản phi vật thể đã tạo điều kiện để Quan họ tại Làng Diềm từng bước được chuyển hóa thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa như chương trình biểu diễn phục vụ du lịch, sản phẩm âm nhạc dân gian hay các hoạt động quảng bá văn hóa trong và ngoài nước. Điều này không chỉ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương mà còn củng cố vị thế của Quan họ trong bối cảnh hội nhập, đồng thời mở ra khả năng kết nối di sản truyền thống với các lĩnh vực sáng tạo hiện đại hay phát triển du lịch trải nghiệm văn hóa cộng đồng.

   2.3. Những thách thức trong quá trình chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển

   Mặc dù sở hữu hệ thống di sản văn hóa phong phú, làng Diềm hiện đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình chuyển hóa những tiềm lực hiện có thành nguồn lực phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng bền vững, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ tại tỉnh Bắc Ninh. Những thách thức này không chỉ liên quan đến việc bảo tồn các giá trị truyền thống mà còn phản ánh khoảng cách giữa tiềm năng di sản ở cấp độ cộng đồng với khả năng chuyển hóa thành nguồn lực phát triển ở quy mô rộng hơn. Một trong những vấn đề nổi bật là sự biến đổi không gian sống truyền thống, kéo theo sự thu hẹp của môi trường thực hành văn hóa cộng đồng. Mặc dù làng Diềm vẫn giữ được nhiều nét sinh hoạt nông thôn trong lòng đô thị, song theo nhận định của nhiều nghệ nhân địa phương, không gian thực hành Quan họ đã thay đổi đáng kể so với trước đây. Nghệ nhân Trần Thị Phụng chia sẻ: “Ngày xưa cứ đến hội hay dịp vui trong làng là mọi người tụ lại hát, không cần sân khấu, ai thích thì đến nghe, đến hát. Bây giờ phần lớn hát trong chương trình tổ chức sẵn, có sân khấu, có thời gian quy định, không còn tự nhiên như trước”. Liền chị Trần Thị Thu cũng cho biết sự thay đổi không gian kéo theo thay đổi trong cách thưởng thức: “Trước kia người ta nghe Quan họ để cảm cái tình, còn bây giờ nhiều người nghe cho vui, nghe nhanh rồi đi, ít ai ngồi hàng giờ để nghe đối đáp”. Bên cạnh đó, hiện tượng thương mại hóa và “sự kiện hóa” di sản cũng đặt ra thách thức không nhỏ đối với việc bảo tồn tính xác thực của Quan họ. Các chương trình biểu diễn phục vụ du lịch hay các lễ hội quy mô lớn thường rút ngắn thời lượng và điều chỉnh làn điệu để phù hợp với thị hiếu khán giả đại chúng. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Thưởng: “Quan họ cổ hát cả canh để giao tình, còn lên sân khấu thì phải hát nhanh, hát gọn cho khán giả dễ nghe, nên nhiều lề lối bị bỏ đi”, “khách du lịch thích nghe bài quen, vui tai, nên các làn điệu cổ dài hơi ít được hát nữa, lâu dần lớp trẻ cũng không còn biết nhiều”. Sự thay đổi này giúp Quan họ tiếp cận công chúng rộng rãi hơn, nhưng đồng thời cũng làm giảm vai trò chủ thể của cộng đồng trong việc duy trì chuẩn mực thực hành, khiến một số làn điệu cổ đứng trước nguy cơ mai một. Một thách thức đáng chú ý khác là việc chưa thu hút được sự đầu tư đủ mạnh và ổn định từ các doanh nghiệp trong phát triển du lịch cộng đồng và các sản phẩm trải nghiệm văn hóa chuyên nghiệp. Trên thực tế, các câu lạc bộ Quan họ, hoạt động lễ hội và việc truyền dạy dân ca trong cộng đồng vẫn được duy trì khá đều đặn với sự tham gia tích cực của người dân và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển kinh tế bền vững vẫn gặp nhiều hạn chế do thiếu các mô hình đầu tư dài hạn nhằm xây dựng chuỗi sản phẩm văn hóa, du lịch có tính chuyên nghiệp và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Hoạt động bảo tồn hiện nay chủ yếu dựa vào nỗ lực của cộng đồng địa phương, trong khi sự tham gia của doanh nghiệp vào việc tổ chức dịch vụ trải nghiệm, phát triển sản phẩm sáng tạo hay xây dựng các tuyến du lịch cộng đồng gắn với Quan họ còn khá hạn chế. Điều này khiến hoạt động tham quan tại địa phương phần lớn chỉ dừng lại ở mức ngắn hạn, chưa tạo được các trải nghiệm văn hóa sâu, qua đó làm cho tiềm năng kinh tế của di sản chưa được khai thác tương xứng với giá trị văn hóa vốn có. Nhiều người dân trong làng cũng nhận thấy rằng lượng khách đến tham quan ngày càng tăng nhưng lợi ích kinh tế mang lại cho cộng đồng vẫn còn khá khiêm tốn. Một người dân làm dịch vụ gần khu di tích cho biết: “Khách về làng đông hơn trước, nhưng phần lớn đến xem rồi đi, ít người ở lại lâu hay tham gia sinh hoạt cùng dân làng nên thu nhập của người dân không thay đổi nhiều”. Thủ từ đền Thủy tổ Quan họ cũng chia sẻ thêm: “Khách thường đi thăm đền, đình rồi về luôn, chưa có nhiều hoạt động để họ ở lại trải nghiệm cuộc sống làng Quan họ”. Những nhận định này phản ánh khoảng cách giữa tiềm năng phát triển du lịch văn hóa và khả năng tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương. Nhìn rộng hơn, trường hợp làng Diềm phản ánh một thực tế phổ biến trong phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam hiện nay. Di sản ở cấp độ vi mô, tức cộng đồng địa phương vẫn chỉ tồn tại như một thực hành văn hóa sống, song việc chuyển hóa thành chuỗi giá trị văn hóa ở cấp độ vĩ mô vẫn chưa thực sự đồng bộ. Trong khi các chính sách quốc gia đã xác định công nghiệp văn hóa là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế sáng tạo thì tại cấp cơ sở, việc xây dựng mô hình khai thác di sản chuyên nghiệp, gắn với du lịch trải nghiệm, sản phẩm sáng tạo và thị trường văn hóa vẫn còn ở giai đoạn thử nghiệm. Do đó, bài toán đặt ra cho làng Diềm nói riêng và các không gian di sản truyền thống nói chung không chỉ nằm ở việc bảo tồn hay quảng bá mà còn ở khả năng xây dựng những mô hình phát triển trong đó cộng đồng địa phương trở thành chủ thể tham gia và hưởng lợi trực tiếp từ quá trình khai thác di sản. Chỉ khi thiết lập được sự kết nối hiệu quả giữa thực hành văn hóa ở cấp độ vi mô với cơ chế thị trường và chính sách phát triển ở cấp độ vĩ mô, di sản Quan họ mới có thể trở thành nguồn lực phát triển bền vững, đồng thời vẫn duy trì được sức sống trong đời sống cộng đồng đương đại.

   2. Vấn đề ứng dụng chính sách về công nghiệp văn hóa trên thế giới vào thực tiễn Việt Nam ở địa phương

   2.1. Vấn đề chính sách về công nghiệp văn hóa trên thế giới

   Trên phạm vi toàn cầu, hệ thống chính sách và khung pháp lý liên quan đến công nghiệp văn hóa (cultural and creative industries – CCIs) được hình thành tương đối muộn nhưng phát triển nhanh chóng trong bối cảnh kinh tế tri thức và toàn cầu hóa văn hóa. Điểm chung của các quốc gia và các tổ chức quốc tế là chuyển dịch nhận thức từ việc coi văn hóa thuần túy như một lĩnh vực tinh thần sang coi văn hóa đồng thời là nguồn lực kinh tế, động lực sáng tạo và công cụ nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

   Ở cấp độ quốc tế, nền tảng pháp lý quan trọng nhất hiện nay là hệ thống công ước của UNESCO, đặc biệt là Công ước năm 2005 về Bảo hộ và Thúc đẩy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa. Công ước này khẳng định quyền chủ quyền của các quốc gia trong việc xây dựng chính sách hỗ trợ và bảo vệ các ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời thừa nhận sản phẩm văn hóa vừa mang giá trị kinh tế vừa mang giá trị bản sắc. Nhờ đó, nhiều quốc gia đã xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo, nghệ sĩ, thị trường nội dung số và xuất khẩu sản phẩm văn hóa như một phần của chiến lược phát triển kinh tế. Báo cáo toàn cầu của UNESCO vào năm 2018 về việc định hình lại các chính sách văn hóa sau đó cũng tiếp tục nhấn mạnh vai trò của các ngành sáng tạo trong phát triển bền vững và hợp tác văn hóa quốc tế. Song song với đó, Công ước năm 2003 về Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể tạo nền tảng quan trọng để duy trì nguồn lực văn hóa cho các ngành sáng tạo. Trong thực tiễn, nhiều quốc gia khai thác các yếu tố di sản, thủ công truyền thống, nghệ thuật trình diễn, lễ hội và tri thức dân gian như việc sáng tạo cho thiết kế, du lịch văn hóa, sản phẩm văn hóa số và các loại hình công nghiệp văn hóa khác. Điều này cho thấy xu hướng chung là kết nối giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế sáng tạo. Bên cạnh đó, Nghị quyết 2347 năm 2017 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã đặt vấn đề bảo vệ di sản văn hóa trong xung đột vũ trang vào phạm vi quan tâm của an ninh quốc tế. Mặc dù không trực tiếp điều chỉnh công nghiệp văn hóa, văn kiện này góp phần khẳng định tầm quan trọng của di sản như một tài sản chung của nhân loại cần được bảo vệ để phục vụ phát triển lâu dài.

   Ở cấp độ khu vực, Liên minh châu Âu (EU) là một trong những khu vực xây dựng chính sách công nghiệp văn hóa tương đối toàn diện. Kế hoạch làm việc của EU về văn hóa giai đoạn 2023–2026 nhấn mạnh liên kết giữa văn hóa, di sản và phát triển bền vững, thúc đẩy số hóa tài sản văn hóa, đồng thời mở rộng thị trường cho các ngành công nghiệp sáng tạo trong môi trường số. Các chương trình hỗ trợ tài chính như Creative Europe tạo điều kiện cho các dự án hợp tác xuyên biên giới, thúc đẩy lưu thông sản phẩm văn hóa và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sáng tạo châu Âu. Tại khu vực Đông Nam Á, các quốc gia thành viên ASEAN đã từng bước xây dựng hợp tác văn hóa thông qua Kế hoạch Chiến lược Văn hóa – Nghệ thuật ASEAN giai đoạn 2016–2025, trong đó nhấn mạnh bảo tồn đa dạng văn hóa, phát huy di sản và khuyến khích sáng tạo văn hóa trong phát triển kinh tế – xã hội. Dù mức độ thể chế hóa còn khác nhau giữa các quốc gia thành viên, xu hướng chung cho thấy khu vực đang quan tâm hơn đến việc chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành động lực phát triển sáng tạo. Song, nhiều nước đã xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa gắn với di sản và nội dung sáng tạo. Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Vương quốc Anh và một số quốc gia châu Âu đã đưa công nghiệp văn hóa vào chiến lược phát triển kinh tế quốc gia, thông qua các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo, ưu đãi thuế cho ngành nội dung, bảo vệ bản quyền, đầu tư vào số hóa di sản và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Các xu hướng này cũng được phản ánh trong các báo cáo kinh tế sáng tạo toàn cầu của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) vào năm 2022, cho thấy công nghiệp văn hóa ngày càng trở thành lĩnh vực tăng trưởng quan trọng trong thương mại quốc tế.

   Nhìn chung, xu hướng pháp lý toàn cầu cho thấy công nghiệp văn hóa đang được định hình như một lĩnh vực giao thoa giữa chính sách văn hóa, chính sách kinh tế sáng tạo và quản trị công nghệ số. Các quốc gia ngày càng coi văn hóa không chỉ là tài sản tinh thần mà còn là nguồn lực chiến lược cho tăng trưởng bền vững, xây dựng bản sắc và nâng cao vị thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa.

   2.2. Chính sách về công nghiệp văn hóa ở Việt Nam hiện nay

   Tại Việt Nam, khung chính sách và pháp luật liên quan đến công nghiệp văn hóa được hình thành tương đối muộn nhưng đang từng bước được hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng và hội nhập quốc tế. Nhà nước ngày càng coi văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần mà còn là nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội, trong đó di sản văn hóa được xem là một thành tố quan trọng tạo nền tảng cho các ngành sáng tạo. Bước ngoặt quan trọng trong chính sách quốc gia là việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8/9/2016 phê duyệt “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, lần đầu tiên xác định công nghiệp văn hóa là bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân và khuyến khích huy động nguồn lực xã hội tham gia phát triển các ngành sáng tạo dựa trên tài nguyên văn hóa, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Chiến lược cũng đặt mục tiêu nâng dần đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế, thúc đẩy hình thành thị trường văn hóa và mở rộng xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Tiếp đó, Quyết định số 1909/QĐ-TTg năm 2021 phê duyệt “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030” tiếp tục khẳng định vai trò của công nghiệp văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia, nhấn mạnh yêu cầu kết hợp bảo tồn và phát huy giá trị di sản với phát triển các ngành sáng tạo, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa.

   Về phương diện pháp lý, hệ thống luật hiện hành tiếp tục tạo nền tảng quan trọng cho việc phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh mới. Việc Quốc hội thông qua Luật Di sản văn hóa năm 2024, bắt đầu có hiệu lực từ năm 2025 thay thế Luật Di sản văn hóa năm 2001 và các lần sửa đổi trước đây, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong khung pháp lý về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên phạm vi cả nước. Luật mới không chỉ tăng cường cơ chế quản lý, bảo vệ và tu bổ di sản mà còn nhấn mạnh yêu cầu phát huy giá trị di sản trong đời sống đương đại, gắn bảo tồn với phát triển bền vững, mở rộng cơ chế xã hội hóa và khuyến khích ứng dụng công nghệ số trong quản lý, lưu trữ và lan tỏa giá trị di sản. Những điều chỉnh này tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho việc kết nối di sản với du lịch văn hóa, sáng tạo nội dung và các ngành công nghiệp văn hóa trong nền kinh tế sáng tạo. Song song với đó, chính sách tôn vinh và đãi ngộ nghệ nhân, những người nắm giữ và truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể, thông qua các danh hiệu như Nghệ nhân Nhân dân và Nghệ nhân Ưu tú, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn tri thức truyền thống và duy trì thực hành văn hóa trong cộng đồng. Đồng thời, việc nhiều di sản văn hóa của Việt Nam được UNESCO ghi danh cũng góp phần nâng cao vị thế văn hóa quốc gia trên trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch văn hóa và hình thành các sản phẩm sáng tạo dựa trên tài nguyên văn hóa địa phương.

   Trong bối cảnh chuyển đổi số, Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg năm 2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó khuyến khích số hóa dữ liệu và phát triển nền tảng số trong nhiều lĩnh vực, bao gồm văn hóa, du lịch và bảo tồn di sản. Trên cơ sở đó, nhiều bảo tàng và khu di tích đã triển khai trưng bày trực tuyến và các hình thức trải nghiệm số, góp phần mở rộng khả năng tiếp cận di sản cho công chúng. Du lịch văn hóa cũng được xác định là một hướng phát triển quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch quốc gia. Quyết định số 147/QĐ-TTg năm 2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 nhấn mạnh việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, đa dạng văn hóa các dân tộc, đồng thời xây dựng sản phẩm du lịch gắn với lễ hội, ẩm thực và không gian văn hóa địa phương. Nhiều sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn như Festival Huế hay các lễ hội văn hóa vùng miền đã góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm văn hóa. Một xu hướng mới trong quản lý văn hóa là tăng cường hợp tác công – tư trong đầu tư hạ tầng văn hóa và du lịch. Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 tạo cơ sở pháp lý cho khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào hạ tầng và dịch vụ công, bao gồm các công trình văn hóa và du lịch. Việc thu hút nguồn lực xã hội hóa được xem là giải pháp quan trọng nhằm giảm gánh nặng ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu quả khai thác các không gian văn hóa.

   Gần đây, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hóa và con người là nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát huy sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam nhằm phục vụ phát triển nhanh và bền vững. Những định hướng này tạo cơ sở chính trị quan trọng để tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển công nghiệp văn hóa gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong thời gian tới. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy hệ thống pháp luật về công nghiệp văn hóa ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế. Khung pháp lý hiện nay chủ yếu nằm rải rác trong các văn bản về văn hóa, du lịch, sở hữu trí tuệ và đầu tư, chưa hình thành một luật chuyên ngành về công nghiệp văn hóa; cơ chế ưu đãi cho doanh nghiệp sáng tạo còn hạn chế và việc cân bằng giữa bảo tồn di sản với khai thác kinh tế vẫn đặt ra nhiều thách thức trong quá trình phát triển.

   3. Một vài gợi ý về định hướng phát huy công nghiệp văn hóa từ làng Viêm Xá

   Từ việc nhận diện hệ giá trị văn hóa, cấu trúc nguồn lực di sản cũng như các thách thức trong quá trình chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển, có thể thấy làng Diềm hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành một mô hình thực hành công nghiệp văn hóa dựa trên di sản ở cấp cộng đồng. Tuy nhiên, việc phát huy nguồn lực này đòi hỏi sự chuyển đổi từ cách tiếp cận bảo tồn đơn thuần sang mô hình phát triển tích hợp giữa bảo tồn, sáng tạo và thị trường, trong đó cộng đồng vẫn giữ vai trò trung tâm. Tái cấu trúc sản phẩm văn hóa dựa trên trải nghiệm cộng đồng. Một trong những hướng đi quan trọng là chuyển từ mô hình biểu diễn đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái trải nghiệm văn hóa. Quan họ tại làng Diềm không chỉ tồn tại như một loại hình biểu diễn mà còn là tổng hòa của không gian sống, phong tục, nghi lễ, nghệ thuật ứng xử và ký ức cộng đồng. Vì vậy, sản phẩm công nghiệp văn hóa không nên chỉ dừng lại ở chương trình biểu diễn sân khấu, mà cần được thiết kế thành các trải nghiệm văn hóa gắn với đời sống thực của cư dân địa phương. Các hình thức có thể phát triển bao gồm: tour trải nghiệm hát Quan họ tại nhà chứa, tham gia sinh hoạt câu lạc bộ Quan họ, học hát và tìm hiểu phong tục mời trầu, tiếp nước, trải nghiệm lễ hội làng, hoặc tham gia các hoạt động đời sống nông thôn truyền thống. Đặc biệt, hệ thống di tích như Đình Diềm, Đền thờ Vua Bà, Đền Cùng – Giếng Ngọc và các nhà cổ truyền thống có thể được tích hợp vào các tuyến trải nghiệm, nơi du khách không chỉ tham quan mà còn được tham gia trực tiếp vào sinh hoạt văn hóa diễn ra trong không gian di sản. Khi khách tham quan được tham gia vào không gian sinh hoạt văn hóa thực, di sản không còn là đối tượng trình diễn mà trở thành một phần của trải nghiệm sống. Mô hình này không chỉ giúp kéo dài thời gian lưu trú của du khách mà còn tạo điều kiện để lợi ích kinh tế được phân bổ trực tiếp tới cộng đồng, từ đó tăng động lực bảo tồn di sản trong dân cư địa phương. Xây dựng chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa địa phương. Chuỗi giá trị văn hóa ở đây cần được hiểu là những sản phẩm văn hóa cụ thể được định hình và phát huy gắn với văn hóa Quan họ cần được nhận diện và đóng gói thành sản phẩm. Hình tượng liền anh liền chị hát Quan họ được xác định là biểu tượng văn hóa quan trọng của địa phương có thể được biến thành sản phẩm bán cho du khách. Một canh hát Quan họ cổ, mới có thể trở thành những “sản phẩm” cụ thể cần được đóng gói cũng như lên chương trình để cho du khách lựa chọn. Một chương trình diễn xướng lễ hội cũng cần được sản phẩm hóa và được tuyên truyền, quảng bá trước một thời gian dài để thu hút, hấp dẫn thu hút những “khách hàng” ở khắp mọi miền Tổ quốc mỗi dịp lễ hội văn hóa cổ làng Diềm. Hình tượng Giếng Ngọc trong làng gắn với các huyền tích của địa phương cũng cần được “đóng gói” thành sản phẩm để có thể bán được, phát triển được... Đó chính là những hoạt động cụ thể của công nghiệp văn hóa. Cần nhấn mạnh lại, một hạn chế hiện nay của nhiều không gian di sản là sản phẩm văn hóa chưa hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Tại làng Diềm, hoạt động biểu diễn Quan họ, tham quan di tích và lễ hội vẫn tồn tại tương đối độc lập, chưa được kết nối thành hệ sinh thái dịch vụ văn hóa. Do đó, việc phát triển công nghiệp văn hóa cần gắn kết các thành tố gồm biểu diễn Quan họ, hệ thống di tích lịch sử, ẩm thực địa phương, sản phẩm lưu niệm, dịch vụ lưu trú cộng đồng, hoạt động giáo dục trải nghiệm và truyền thông số. Khi các điểm di tích như Đình Diềm, Đền Vua Bà hay Nhà hát Dân ca Quan họ được kết nối thành tuyến trải nghiệm văn hóa thống nhất, giá trị gia tăng của di sản sẽ được mở rộng, tạo cơ hội hình thành các doanh nghiệp sáng tạo nhỏ và các mô hình kinh doanh cộng đồng. Đặc biệt, cần khuyến khích sự tham gia của thế hệ trẻ trong việc sáng tạo các sản phẩm mới dựa trên chất liệu Quan họ, như âm nhạc đương đại kết hợp dân gian, thiết kế quà tặng văn hóa, sản phẩm truyền thông số hoặc nội dung sáng tạo trên các nền tảng trực tuyến. Điều này vừa giúp di sản tiếp tục sống trong đời sống hiện đại, vừa tạo cơ hội việc làm mới tại địa phương. Ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong lan tỏa di sản.

   Công nghệ thông tin, trong đó bao gồm công nghệ số và AI đang nhanh chóng làm thay đổi đột phá quá trình công nghiệp văn hóa trên phạm vi toàn thế giới. Từ thực tiễn cho thấy, vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong số hóa và quảng bá di sản làng Viêm Xá – Diềm hiện nay sẽ có những hiệu quả và tác động nhất định tới quy trình quảng bá di sản và phát triển sản phẩm văn hóa, thúc đẩy kinh tế làng di sản ở địa phương này hiện nay. AI và công nghệ số không chỉ giúp quá trình giới thiệu toàn bộ di sản văn hóa vật thể mà còn, quan trọng hơn, đóng góp thành từng sản phẩm công nghiệp văn hóa một cách chi tiết các khía cạnh khác nhau của mỗi di sản của làng này, từ giai điệu các bài Quan họ cổ cho đến trang phục, phong tục gắn với lối chơi Quan họ và các tục lệ cổ truyền của một địa phương cụ thể là ở làng Diềm. Như vậy, các sản phẩm được đóng gói chính là một hoạt động rất cụ thể của công nghiệp văn hóa, thúc đẩy du lịch cộng đồng và du lịch di sản địa phương. Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn và phát huy di sản là xu hướng tất yếu. Làng Diềm có thể trở thành mô hình thử nghiệm cho việc xây dựng hệ sinh thái di sản số, trong đó dữ liệu về Quan họ và hệ thống di tích liên quan được số hóa và lan tỏa trên các nền tảng số. Các giải pháp có thể triển khai bao gồm: xây dựng thư viện số các làn điệu Quan họ cổ, phát triển tour tham quan ảo các di tích như Đình Diềm hay Đền Vua Bà, ứng dụng thuyết minh tự động tại các điểm di sản, cũng như phát triển nội dung đa phương tiện trên nền tảng mạng xã hội. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phục dựng không gian hát Quan họ truyền thống, tạo trải nghiệm tương tác cho du khách hoặc hỗ trợ giáo dục di sản cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ cần được đặt trên nguyên tắc tôn trọng cộng đồng và giá trị nguyên gốc của di sản, tránh biến trải nghiệm văn hóa thành sản phẩm giải trí đơn thuần. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa cộng đồng, chính quyền và doanh nghiệp.

   Một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển công nghiệp văn hóa bền vững là thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả giữa ba chủ thể chính: cộng đồng, chính quyền và doanh nghiệp. Tại làng Diềm, cộng đồng hiện vẫn là lực lượng giữ vai trò trung tâm trong việc duy trì thực hành Quan họ, song khả năng kết nối với thị trường còn hạn chế. Chính quyền địa phương có thể đóng vai trò điều phối, hỗ trợ quy hoạch không gian văn hóa, trong đó hệ thống di tích như Đình Diềm, Đền Vua Bà và các không gian sinh hoạt cộng đồng được tổ chức khai thác theo hướng vừa bảo tồn vừa phục vụ trải nghiệm văn hóa. Đồng thời, việc xây dựng thương hiệu văn hóa địa phương và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào các sản phẩm văn hóa du lịch sẽ giúp mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Trong khi đó, doanh nghiệp có thể mang lại nguồn lực tài chính, kinh nghiệm quản trị và khả năng tiếp cận thị trường rộng hơn. Khi ba chủ thể này tìm được tiếng nói chung, việc phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra nguồn thu kinh tế mà còn góp phần nâng cao chất lượng đời sống văn hóa cộng đồng.

 

 

 

Chú thích:
*, ** Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.
*** Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp.
1 Hesmondhalgh, David (2019), The Cultural Industries, 4th ed., Sage Publications, London.
2 Throsby, David (1999), “Cultural Capital”, Journal of Cultural Economics, Vol. 23, No. 1, pp. 3–12.
3 United Nations Development Programme and UNESCO (2013), Creative Economy Report 2013: Widening Local Development Pathways, New York.
4 Lê Danh Khiêm, Hoắc Công Huynh, Lê Thị Chung (2006), Không gian văn hóa Quan họ, Trung tâm Văn hóa Quan họ Bắc Ninh, Bắc Ninh, tr. 3.
5 Ghi chép Phỏng vấn nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Thềm tháng 1/2026.
6 Ghi chép Phỏng vấn nghệ nhân dân gian Nguyễn Văn Thưởng tháng 1/2026.
7 Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc (1962), Dân ca Quan họ Bắc Ninh, NXB Văn hóa, tr. 82.
8 Ghi chép Phỏng vấn nghệ nhân dân gian Nguyễn Thành Đô, tháng 1/2026.
9 Throsby, David (2001), Economics and Culture, Cambridge University Press, p. 46.
10 Ghi chép Phỏng vấn nghệ nhân dân gian Nguyễn Văn Thưởng tháng 1/2026.
11 Ghi chép Phỏng vấn nghệ nhân nhân dân Trần Thị Phụng tháng 1/2026.
12 Ghi chép Phỏng vấn nghệ nhân dân gian Trần Thị Thu tháng 1/2026.
13 Ghi chép Phỏng vấn nghệ nhân dân gian Nguyễn Văn Thưởng tháng 1/2026.
14 Ghi chép Phỏng vấn người dân làng Diềm Nguyễn Thị Hải tháng 1/2026.
15 Ghi chép Phỏng vấn Thủ nhan đền Thủy tổ Quan họ Trần Thị Tuyết tháng 1/2026.
16 UNESCO (2005), Convention on the Protection and Promotion of the Diversity of Cultural Expressions, Paris.
17 UNESCO (2018), Re Shaping Cultural Policies: Advancing Creativity for Development, Paris.
18 UNESCO (2003), Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, Paris.
19 United Nations Security Council (2017), Resolution 2347 on the Protection of Cultural Heritage, New York.
20 Council of the European Union (2022), EU Work Plan for Culture 2023–2026, Brussels.
21 European Commission (2021), Creative Europe Programme 2021–2027, Brussels.
22 ASEAN Secretariat (2016), ASEAN Strategic Plan for Culture and Arts 2016–2025, Jakarta.
23 UNCTAD (2022), Creative Economy Outlook 2022: The International Year of Creative Economy for Sustainable Development — Pathway to Resilient Creative Industries, United Nations Conference on Trade and Development.
24 Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
25 Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1909/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030.
26 Quốc hội (2024), Luật Di sản văn hóa.
27 Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐTTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
28 Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 147/QĐTTg phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.
29 Quốc hội (2020), Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP).
30 Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Bình luận

    Chưa có bình luận