Ngày 12/2/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có công văn số 745/BVHTTDL - NTBD yêu cầu siết chặt quản lý, chấm dứt tình trạng “hát nhép”, sử dụng âm thanh ghi sẵn thay cho giọng thật, tập trung xử lý các biểu hiện nghệ sĩ biểu diễn không trung thực, ảnh hưởng đến chất lượng nghệ thuật và lòng tin của khán giả. Cùng với điều này, công văn còn nêu nhiều điểm khác như: không được phép thực hiện các chương trình biểu diễn không đúng nội dung, hình thức đã đăng ký và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận; công tác truyền thông, việc quảng bá các chương trình, vở diễn cũng phải đảm bảo đúng sự thật, phản ánh chính xác nội dung và hình thức thực tế sẽ diễn ra, không được phóng đại hoặc cung cấp thông tin sai lệch. Ngoài ra công văn cũng yêu cầu các nghệ sĩ, những người làm nghề, trong ngành biểu diễn phải thực hiện quy định pháp luật và quy tắc ứng xử trong hoạt động biểu diễn; các quy định liên quan đến quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số, đồng thời kịp thời chấn chỉnh các biểu hiện lệch chuẩn, phản cảm trong quá trình hoạt động. Cá nhân tham gia biểu diễn nghệ thuật cần trau dồi kỹ năng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động nghệ thuật cũng như văn hóa ứng xử, hướng đến các giá trị chân - thiện - mĩ trong sáng tạo và đời sống được xem là yếu tố quan trọng để giữ gìn hình ảnh người nghệ sĩ trước công chúng…
Chỉ dừng lại ở vấn đề “siết chặt quản lý, chấm dứt tình trạng “hát nhép” được nêu trong công văn, dư luận của các nghệ sĩ biểu diễn cho thấy quản lý văn hóa - nghệ thuật đã có thay đổi, nhanh chóng ổn định “thị trường âm nhạc” khi chúng ta đang xây dựng nền công nghiệp văn hóa mà công nghiệp biểu diễn đang có những thành quả ban đầu và cũng đã chứng minh là lĩnh vực giàu tiềm năng. Tuy nhiên, cần phải hiểu đúng văn bản nhà nước về điều này. So sánh với những nội dung của các văn bản chính phủ trước đây như Nghị định 79/2012/NĐ-CP (ban hành ngày 05/10/2012) quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp/người mẫu, và kinh doanh ghi âm, ghi hình và Nghị định 144/2020/NĐ-CP (ngày 14/12/2020) quy định về hoạt động biểu diễn thì quả thật có nhiều nhầm lẫn. Tại điểm D Điều 6 “Những quy định cấm”, Nghị định 79/2012/NĐCP cấm, “Sử dụng bản ghi âm để thay cho giọng thật của người biểu diễn hoặc thay cho âm thanh thật của nhạc cụ biểu diễn”. Điều này đã biến mất khỏi Nghị định 144/2020/NĐ-CP, do vậy cũng bị nhầm tưởng là đồng nghĩa với việc “cho phép” hát nhép (sử dụng bản ghi âm để thay cho giọng thật) và đàn nhái (thay cho âm thanh thật của nhạc cụ biểu diễn) đã không bị cấm. Nói theo một cách khác, người dân được quyền làm những điều không bị cấm (!) nên điều cấm khi rút ra khỏi văn bản nhà nước, có nghĩa là không bị cấm nữa.
Sau Nghị định 144/2020/NĐ-CP, “hát nhép” càng trở thành chuyện thường ngày. Một số nghệ sĩ, trong đó có cả những nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú… với nhiều lý do, việc “hát nhép”, “hát đè” (hát chồng lên âm thanh thu sẵn) trong các chương trình biểu diễn đã không cảm thấy “bất thường” đối với một nghệ sĩ thực thụ, chân chính.
Ban đầu, kỹ thuật thu hình diễn viên chỉ thể hiện hình ảnh và được ghép cùng với bản ghi âm được thu trước (lip-sync/playback) là phương thức của nghệ thuật làm phim điện ảnh (không phải phim tài liệu). Đó cũng là kỹ thuật được sử dụng để thực hiện các chương trình ca múa nhạc, sân khấu của ngành truyền hình. Các chương trình biểu diễn nghệ thuật đều không sử dụng kỹ thuật này. Xuất hiện kỹ thuật thu âm và chỉnh sửa âm thanh từ những năm 1940-1950 nhưng phải đến thập niên 80-90, các phần mềm công nghệ (kỹ thuật số DAW) phát triển mạnh mẽ trên thế giới, trở thành cứu tinh cho thu âm, ghi hình và phát triển ngành sản xuất băng, đĩa các chương trình nghệ thuật âm nhạc, sân khấu. Việt Nam bắt nhịp kỹ thuật này ở ngành sản xuất băng đĩa, và nhanh chóng bắt đầu có những chương trình biểu diễn ca nhạc (và kể cả sân khấu cải lương) mà diễn viên chỉ cần “giả vờ” hát hoặc nói theo một bản thu âm có sẵn, không phải âm thanh thực từ nghệ sĩ. Điều này đã được cơ quan quản lý nhà nước sớm nhận ra những ảnh hưởng và tác hại trong môi trường nghệ thuật chuyên nghiệp nên các văn bản của nhà nước, địa phương liên tiếp ra đời để chấn chỉnh.
Tuy nhiên, với sự thuận lợi của công nghệ số, nhiều ca sĩ hoàn toàn trông cậy vào các phần mềm để sửa những chỗ hát sai, lạc giọng, hát chậm nhịp và kể cả “nâng cấp” giọng hát, xử lý và trau chuốt bản ghi âm được thực hiện trong phòng thu. Họ không hát mà luôn mang bản thu âm sẵn để trình diễn trước công chúng, ở bất cứ điểm biểu diễn dù lớn hay nhỏ. Thậm chí, công nghệ hiện đại có thể trau chuốt âm thanh của nghệ sĩ và đưa vào các phần đệm, hát lót, hát bè, tạo nên những bản ghi tuyệt vời nhất, đến độ bản thân nghệ sĩ còn tự ngộ nhận về kỹ năng của mình và trên sân khấu, họ “tự tin”, chỉ cần “nhép” theo bản ghi âm đã được công nghệ chỉnh sửa, hoàn thiện. Công nghệ số khiến các chương trình biểu diễn càng đơn giản và tiện lợi: không cần dàn nhạc, không cần nhóm bè, chỉ cần phần mềm thu sẵn trên điện thoại kết nối ra loa khuếch đại âm thanh. Điều này cũng khiến nhiều người quan niệm là “chỉ cần biết cầm micro đều có thể là ca sĩ”, bởi đã có công nghệ làm thay.
Với công nghệ và cách biểu diễn “giả vờ”, “nhép” theo bản thu âm, người nghệ sĩ đã tự lừa dối và ảo tưởng về bản thân. Họ không chỉ không trung thực trong nghệ thuật mà còn ứng xử không công bằng với những nghệ sĩ khác và đánh lừa người nghe. Bởi, kỹ năng, tài nghệ của người nghệ sĩ ngoài năng khiếu, phẩm chất thiên phú bẩm sinh (như giọng hát đặc biệt), còn là một quá trình đào luyện gian khổ mới hình thành được. Khi cố ý nhờ công nghệ làm thay, sản phẩm nghệ thuật chỉ là kỹ xảo công nghệ, không phải là kỹ năng và cảm xúc của người nghệ sĩ đang trao gửi đến khán giả. Một bài hát được vang lên, một câu nói hay ca trên sân khấu… là biểu hiện của tư tưởng và cảm xúc, thể hiện tài nghệ, kỹ năng và sự sáng tạo của người nghệ sĩ. Một chương trình biểu diễn múa, âm nhạc, sân khấu… sẽ mãi là những tác phẩm có một không hai, bởi mỗi lần biểu diễn, là một lần sáng tạo khác nhau, với những cảm xúc khác nhau. Đó là kết quả của một quá trình đào luyện, từ những khả năng tuyệt kỹ của người nghệ sĩ và sự thăng hoa sáng tạo trên sân khấu, được gọi là “nghệ thuật”. Vậy nên, chỉ nhờ vào công nghệ, những giọng ca bình thường cũng có thể trở thành…phi thường, những hành động sân khấu chỉ là “giả vờ” mà không cần công sức nào cả, kỳ thực, chỉ là những sản phẩm giả nghệ thuật. Nghệ thuật đòi hỏi sự tinh túy cả về kỹ năng lẫn cảm xúc, là sự sáng tạo và thăng hoa. Người nghệ sĩ phải thể hiện được trình độ chuyên môn và bản lĩnh sân khấu và thông qua biểu diễn trực tiếp, chứ không thể dựa hoàn toàn vào công nghệ xử lý, đó là tự lừa dối bản thân và khán giả.
Khi người thưởng thức dám trả số tiền lên đến hàng triệu, hàng chục triệu đồng, họ mong muốn được cùng nồng nhiệt hay say đắm với âm nhạc, với nghệ thuật mà người nghệ sĩ hết mình thể hiện trên sân khấu. Họ sẽ như bị lừa bởi chỉ được nhìn ca sĩ nhảy nhót, múa may và nhép miệng theo âm thanh thu sẵn, mà trên thực tế, họ có thể nghe từ một chiếc CD chỉ đáng vài chục ngàn, còn có thể nghe nhiều lần... Bản chất của nghệ thuật biểu diễn nằm ở sự tương tác sống động giữa nghệ sĩ và công chúng, ở quá trình “trao – nhận” cảm xúc ngay trên sân khấu. Khi yếu tố “thật” bị thay thế bởi công nghệ, giá trị cốt lõi của nghệ thuật cũng bị suy giảm.
Đối với công chúng, sản phẩm âm nhạc được thưởng thức là không xứng với kỳ vọng, tình cảm, thời gian và tiền bạc mà họ bỏ ra. Người nghe đến với người nghệ sĩ đôi khi không vì nội dung, lời ca hay giai điệu của bài hát mà vì tình cảm, sự yêu mến nghệ sĩ, thưởng thức những tuyệt kỹ và những cảm xúc nghệ thuật mà người nghệ sĩ trực tiếp trao gửi. Vậy, có nên trao cho công chúng một sản phẩm “giả vờ”, chỉ là kết quả của các phần mềm công nghệ cùng với hình ảnh nghệ sĩ đang “nhép” theo? Trong bối cảnh công nghệ phát triển vượt bậc, trí tuệ nhân tạo (AI) đã có thể làm ra những sản phẩm âm nhạc hoàn chỉnh từ khâu sáng tác đến sản phẩm âm thanh cuối cùng thì chấp nhận “hát nhép”, diễn “giả vờ” cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận sự thay thế của AI ở một lĩnh vực mang tính “người” nhất của loài người - nghệ thuật.
Khoa học công nghệ đang ngày càng tác động và chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong mọi lĩnh vực hoạt động của loài người là thực tế hiện nay. Nghệ thuật trình diễn cũng hưởng lợi từ việc vận dụng những thành tựu khoa học công nghệ. Đưa khoa học công nghệ vào các mặt hoạt động của nghệ thuật trình diễn đang là nhu cầu, xu hướng và cũng là điều kiện để có thể phát huy được những nét đẹp của nghệ thuật. Đó có thể là kỹ thuật khuếch đại và bảo vệ chất lượng âm thanh thật nhất, tốt nhất, là hệ thống ánh sáng, hình ảnh đủ phù hợp và nâng cảm xúc của người diễn lẫn người xem. Ngoài ra, nhiều kỹ thuật công nghệ phục vụ cho sân khấu hiện đại như màn hình LED/3D, công nghệ Hologram, ánh sáng Kinetic, chiếu Mapping 3D, màn nước kỹ thuật số hay kể cả thực tế ảo (VR/AR)… nhằm đưa đến cho khán giả những trải nghiệm đa giác quan trong các chương trình âm nhạc, nghệ thuật sân khấu. Nhưng, nghệ thuật biểu diễn không phải là nơi trình bày, là chỗ để khán giả tìm kiếm hoặc mong muốn thưởng thức và tán thưởng những thành tựu công nghệ. Không nên để cho công nghệ trở thành mục đích cuối cùng của nghệ thuật và ngược lại không nên biến mình thành một công cụ, chỉ “nhép” lại âm thanh do công nghệ tạo ra. Những cảm xúc thật từ người nghệ sĩ và trải nghiệm nghệ thuật do nghệ sĩ mang đến mới là mong muốn của khán giả. Họ mong được cảm thụ và cùng thăng hoa với nghệ thuật.
Cho đến nay, kỹ thuật công nghệ phục vụ cho sân khấu hiện đại đã trở thành một phần không thể thiếu ở các chương trình nghệ thuật có quy mô lớn, các chương trình âm nhạc trong các sự kiện chính trị, sự kiện liên quan đến các ngành, ban... Hơn nữa, ở một số trường hợp đặc thù hoặc phục vụ nhiệm vụ chính trị, yếu tố kỹ thuật và yêu cầu an toàn có thể dẫn đến việc “thu trước – phát lại”, sử dụng những bộ phận kỹ thuật công nghệ là những giải pháp gần như bắt buộc. Tuy nhiên, cách làm này không thể trở thành thông lệ hay bị lạm dụng trong các chương trình biểu diễn.
Hiện nay, các nghệ sĩ quốc tế vẫn biểu diễn trực tiếp ở những sân khấu quy mô lớn, có điều kiện phức tạp… họ vẫn không sử dụng công nghệ thu trước – phát lại hay hát nhép! Những chương trình nghệ thuật lớn, có uy tín trên thế giới đều là diễn thật, hát thật. Do vậy, trước hết phải xuất phát từ ý thức của chính người nghệ sĩ. Nghệ sĩ phải tự trọng nghề nghiệp, phải xem việc hát thật, diễn thật là nghĩa vụ của mình. Diễn thật, hát thật là tự nâng mình lên vì biểu diễn luôn là một quá trình của kỹ năng và cảm xúc, thể hiện kết quả của nền tảng rèn luyện trước đó và sự thăng hoa sáng tạo nghệ thuật trước khán giả. Nếu thị trường tiếp tục dung túng cho việc “hát nhép”, diễn với bản thu âm sẵn, sẽ vô tình làm suy giảm năng lực nghề nghiệp của nghệ sĩ và hạ thấp chuẩn mực biểu diễn.
Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh, nếu nghệ thuật tiếp tục phụ thuộc và ỷ lại, nguy cơ bị thay thế là có thật. Không chỉ dừng lại ở “hát nhép” mà công nghệ, thậm chí trí tuệ nhân tạo, có thể can thiệp sâu hơn vào toàn bộ quá trình sáng tạo, từ sáng tác đến biểu diễn. Không ý thức được điều này là tự tha hóa bản chất “người” của nghệ thuật. Cần ý thức được phần tinh túy của nghệ thuật biểu diễn chính là ở ngay trong giây phút người nghệ sĩ trao cho khán giả tài nghệ và xúc cảm nghệ thuật của mình.
Ở chiều ngược lại, khi quen “thưởng thức” các chương trình biểu diễn mà thực chất chỉ là sự phô trương công nghệ, công chúng dần bị biến chất về khả năng cảm thụ, cảm xúc thẩm mĩ sẽ tha hóa và công nghệ hóa. Nếu không có biện pháp quản lý, chấn chỉnh và ngăn chặn kịp thời, chúng ta sẽ dần quen với những sản phẩm “giả” nghệ thuật, và điều đó không chỉ làm suy yếu nền tảng của công nghiệp văn hóa mà còn suy giảm những yếu tố giáo dục, thẩm mĩ, đạo đức… từ chức năng nghệ thuật mang đến cho công chúng, người dân. Nếu không kịp thời chấn chỉnh những biểu hiện “giả vờ” trong biểu diễn, không chỉ khán giả bị tổn thương mà chính nền nghệ thuật cũng tự đánh mất giá trị. Khán giả cần được trang bị những hiểu biết và quyền quyết định chọn lựa sản phẩm nghệ thuật biểu diễn mà mình mong muốn thưởng thức.
Cuối cùng, vai trò của cơ quan chức năng giống như “người bảo vệ” cho thị trường nghệ thuật và quyền lợi công chúng. Các quy định cần đi kèm chế tài đủ mạnh, tránh tình trạng khuyến khích chung chung nhưng thiếu công cụ thực thi. Đồng thời, cần hướng tới minh bạch thông tin trong biểu diễn, tương tự như cách công bố thành phần của một sản phẩm tiêu dùng. Tính trung thực là nền tảng để tạo dựng niềm tin. Bản thân nghệ sĩ, nhà sản xuất chương trình, những người tham gia vào công việc sáng tạo một sản phẩm nghệ thuật biểu diễn phải cùng đồng hành trong xây dựng giá trị thật của nghệ thuật./.
Chú thích:
* Trường Đại học Sài Gòn.