KHAI THÁC YẾU TỐ THẨM MĨ CỦA THỔ CẨM, ĐAN LÁT TRUYỀN THỐNG CƠ-HO CHIL TRÊN THIẾT KẾ SẢN PHẨM TIÊU DÙNG HIỆN ĐẠI

Bài viết khái quát giá trị thẩm mĩ của thổ cẩm và đan lát truyền thống Cơ-ho Chil tại tỉnh Lâm Đồng, chỉ ra thực trạng khai thác sản phẩm tiêu dùng. Trên cơ sở đó đề xuất hướng khai thác yếu tố thẩm mĩ của sản phẩm và gợi mở hướng đi cho các ngành thủ công truyền thống khác trong bối cảnh đương đại.

 

   Từ lâu, nghệ thuật Tây Nguyên đã trở thành một nguồn cảm hứng bất tận đối với giới nghiên cứu nghệ thuật và văn hóa. Trong đó, ta dễ dàng nhận thấy một chỉnh thể thẩm mĩ hài hòa giữa cộng đồng và tự nhiên, giữa vật chất và tinh thần. Từ những mái nhà rông vươn cao như biểu tượng của sức sống và khát vọng cộng đồng đến những tượng nhà mồ mộc mạc, thâm trầm thể hiện mối liên kết giữa sự sống và cái chết. Tất cả cùng tạo nên một thế giới nghệ thuật nguyên sơ sâu sắc. Nếu kiến trúc và điêu khắc là những tác phẩm công cộng thì thổ cẩm lại là thế giới nghệ thuật gắn liền với đời sống cá nhân và gia đình. Chỉ cần nhìn vào cách phối màu, bố cục và đặc biệt là các họa tiết chủ đạo, người ta có thể dễ dàng nhận ra đó là sản phẩm của tộc người nào. Thổ cẩm là một thứ ngôn ngữ không cần lời nói nhưng vẫn thể hiện trọn vẹn tâm tình và tư duy thẩm mĩ của những tộc người Tây Nguyên.

   Tại Đà Lạt (Lâm Đồng), những tấm thổ cẩm hay chiếc gùi ngày trước từng là một nét đặc trưng, được du khách tìm mua như một vật kỷ niệm đậm chất cao nguyên, giá trị thẩm mĩ này đang dần mai một trước nhịp sống hiện đại và sự biến đổi chóng mặt của đô thị. Sự phai nhạt ấy đặt ra một câu hỏi cấp thiết cho các thế hệ đi sau, đặc biệt là những người làm nghiên cứu và thiết kế: Làm thế nào để có thể bảo tồn, làm mới và tiếp tục duy trì dòng chảy sáng tạo cho nghệ thuật này?

   1. Khái quát về đan lát, thổ cẩm Cơ-ho Chil tại Đà Lạt

   Người Chil là một trong những tộc người lâu đời sinh sống tại vùng đất Lâm Đồng, mang trong mình bề dày lịch sử và nền văn hóa đặc trưng của cư dân bản địa Tây Nguyên. Trải qua quá trình chung sống và giao lưu lâu dài với các nhóm dân tộc khác (Xrê, Nốp, Cơ-don, Lách) người Chil dần chia sẻ nhiều nét tương đồng về ngôn ngữ, phong tục và đời sống xã hội. Cho đến nay, tên gọi chính thức là Cơ-ho Chil theo Danh mục các dân tộc Việt Nam 1979. Tuy nhiên, trong chiều sâu tâm thức, người Chil vẫn giữ vững ý thức về cội nguồn và bản sắc riêng biệt của mình.

Nghề đan lát, dệt thổ cẩm của các tộc người Tây Nguyên đã thấm đẫm hồn thiêng đại ngàn từ thuở xa xưa, được gìn giữ qua những huyền thoại về các vị thần linh hay ông, bà tổ nghề. Mỗi dân tộc lại thêu dệt nên một phong cách riêng, như trong nghiên cứu Vùng đất huyền ảo đã ghi chép: “Có lối đi thang, lối đi chữ chi, lối đi hình trái tim, lối đi chéo, lối đi vòng quanh, lối đi thẳng mút đường...”1. Trong dòng chảy văn hóa ấy, người Cơ-ho Chil đã tạo nên dấu ấn riêng biệt với những chiếc gùi đế cao – nét đặc trưng làm nên hình hồn sản phẩm của họ. Đan gùi, dựng nhà không chỉ là kỹ năng mà còn là thước đo phẩm chất người đàn ông Chil, không biết đan gùi, không thành thạo việc nhà thì khó lấy được vợ. Còn với người phụ nữ, tấm thổ cẩm cũng quan trọng chẳng kém, bởi nghề dệt là di sản thiêng liêng được truyền lại cho những người con gái trong gia đình, như một lời nhắn gửi văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác, những lời dạy truyền nghề vẫn còn được ghi lại trong câu ca:

   “… Lam iup brài t’râm
   Kồng kòn yàng
   Pàng khai Bàp Đêi, May Bing”

                                                                                 Dịch:

  “... Dạy nhuộm sợi (bằng) cây t’râm (lá)
   Kồng con thần
   Tổ tiên của bà là Cha Đêi, Mẹ Bing”2

   Tức là thần linh dạy lấy lá t’râm (cây chàm mèo) làm màu nhuộm vải; câu ca còn được hát, nghề dệt còn được truyền lại. Trong một khoảng thời gian dài, thổ cẩm, gùi đeo từng là những mặt hàng thủ công được tìm mua của du khách khi đến Đà Lạt, là những kỷ vật văn hóa chứa đựng linh hồn của cao nguyên, nơi gợi nhớ về một bản sắc nguyên bản và đầy quyến rũ. Gùi được sử dụng để trưng bày trong các không gian lưu trú, quán cà phê hay resort mang phong cách bản địa, còn thổ cẩm được khai thác trong trang phục biểu diễn, sản phẩm lưu niệm, túi xách, khăn choàng... tạo nên một hình ảnh văn hóa vừa mộc mạc vừa giàu tính thẩm mĩ.

   2. Hiện trạng khai thác các mặt hàng tiêu dùng lấy cảm hứng từ nghệ thuật truyền thống

   Trước hết đối với thổ cẩm truyền thống, khi những mặt hàng lưu niệm dần trở nên kém hấp dẫn hơn trong mắt người tiêu dùng, việc khai thác và sử dụng thổ cẩm, đan lát, trên hết là tận dụng nguồn lực thẩm mĩ của loại sản phẩm này tiếp tục trở thành cảm hứng cho chuyên ngành thiết kế. Nhiều nhà thiết kế trong nước như K’Jona, Hưng Cao khai thác thổ cẩm các dân tộc Tây Nguyên trong các bộ sưu tập thời trang mang tinh thần hiện đại như “Vườn hoa thổ cẩm”, K’Jona và Hưng Cao, “Hoa Lang Biang” K’Jona năm 2024, hay đem vẻ đẹp của thổ cẩm vượt khỏi biên giới địa lý như bộ sưu tập thổ cẩm của nhà thiết kế Minh Hạnh có tên là “Minh Hạnh - Italia - Giao thoa văn hóa”, bộ sưu tập này là sự kết hợp độc đáo giữa chất liệu thổ cẩm truyền thống của nhiều dân tộc Việt Nam với các họa tiết kiến trúc Gothic, Baroque của châu Âu. Ngoài ra, các sản phẩm tiêu dùng thổ cẩm khác trên thị trường vẫn là hình thức thiết kế theo kiểu cũ, sử dụng tối đa chất liệu nguyên bản của thổ cẩm dệt trên nền các sản phẩm như túi, ví, khăn choàng... Các mặt hàng này đã trở nên vô cùng quen thuộc nhưng lại không đủ sức để giữ được nhiệt trên thị trường tiêu thụ, đặc biệt là ở người trẻ.

   Một mặt, có thể xem đây là một hình thức của bảo tồn nguyên dạng (preservation), tức là can thiệp tối thiểu vào bản chất vốn có của chủ thể, như hình thức, vật liệu, cấu trúc hay công năng gốc, không thể phủ định rằng, ưu điểm lớn nhất của bảo tồn nguyên dạng chính là tính xác thực cao, giữ nguyên được giá trị nguyên bản, phản ánh tay nghề chân thực của người làm nghề, đây xem như một biểu hiện theo lối triết lý Art & Crafts – ra đời vào thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ hai – là sự phản ứng lại trước cuộc chạy đua tiến bộ và sản xuất hàng loạt. Sự khác biệt nằm ở chỗ, thực trạng của các sản phẩm tiêu dùng như thổ cẩm và thổ cẩm Cơ-ho Chil hiện nay không mang hẳn là tinh thần hoài cổ, mà là sự “dậm chân tại chỗ” trong tư duy thiết kế. Giữ nguyên hình thức và chất liệu truyền thống nhưng thiếu vắng nỗ lực đổi mới để thích ứng với đời sống đương đại. Chính John Ruskin từng cảnh báo rằng, nghệ thuật nếu chỉ quay lưng lại với thực tại để tìm về một quá khứ được lãng mạn hóa, thì nó có thể đẹp nhưng sẽ trở nên cô lập. Từ góc nhìn đó, bảo tồn thích ứng (adaptive conservation) trở thành hướng tiếp cận cần thiết. Theo định hướng của UNESCO và ICOMOS, việc bảo tồn di sản trong bối cảnh hiện đại không chỉ dừng lại ở việc duy trì tính nguyên gốc một cách tĩnh tại mà cần hướng tới một mối quan hệ năng động, sản phẩm văn hóa phải mang giá trị sử dụng trong những điều kiện mới. Hưởng ứng hướng đi này, một số các thiết kế làm mới giá trị thẩm mĩ truyền thống trên đồ gia dụng như “S’CRAFT: Craftsmanship 2025” tại Thái Lan, với chủ đề chính “Thai textile treasures: four regions, timeless legacy” giới thiệu bộ sưu tập 88 túi xách nữ, làm từ vải dệt tơ tằm Thái, kết hợp hoa văn dệt truyền thống từ bốn vùng miền của Thái Lan. Hoặc thương hiệu trang sức xa xỉ Niwaka của Nhật Bản, đem cảm hứng từ rất nhiều chất liệu văn hóa địa phương như lễ hội, thiên nhiên, nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản hay cả tranh sơn mài lên thiết kế trang sức. Tại Việt Nam, hiện nay có thể nhắc đến thương hiệu TheMay, với các sản phẩm khai thác vẻ đẹp của thổ cẩm Chăm và Ba Na trên các sản phẩm phụ kiện trang sức, túi xách vô cùng thời thượng và độc đáo nhưng trên hết vẫn giữ được cái “chất” của mĩ thuật dệt thổ cẩm truyền thống.


Hình 1. Sản phẩm túi nữ trong bộ sưu tập “Royal Weave” tại sự kiện “S’CRAFT: Craftsmanship 2025” tại Thái Lan (Nguồn: Sirivannavari & ICONCRAFT (2025), prestigeonline.com)


Hình 2. Vòng cổ từ đá quý với hoa văn người nhảy múa, lấy cảm hứng từ lễ hội Gion ở Kyoto của hãng Niwaka (Nguồn: Collection Kyo no matsuri, Niwaka.com)


Hình 3. Một sản phẩm túi của Themaybrand tại Lifestyle Vietnam 2025 (Nguồn: Themaybrand, Instagram.com)

   Từ thực tiễn Việt Nam và những bài học trong các mô hình phát triển văn hóa trên một số trường hợp ở “nước bạn”, có thể thấy thách thức cốt lõi của sản phẩm tiêu dùng mang yếu tố truyền thống không nằm ở kỹ thuật hay nguyên liệu mà chính ở tư duy thiết kế. Thực trạng các sản phẩm thổ cẩm, đan lát của người Cơ-ho Chil chỉ dừng lại ở việc sao chép hình thức cổ truyền mà chưa tạo dựng được một ngôn ngữ thẩm mĩ đương đại. Chính điều này đã kìm hãm sức sống của di sản, khiến chúng rơi vào tình trạng “đóng băng” trong đời sống đương đại.

   3. Khai thác đặc điểm thẩm mĩ của thổ cẩm và đan lát gùi Cơ-ho Chil trên sản phẩm tiêu dùng hiện đại

   Trước thực tế nghề dệt và đan lát đang ngày một mai một cả trong lẫn ngoài cộng đồng Cơ-ho Chil, việc mở rộng không gian ứng dụng và ngữ cảnh sáng tạo cho các di sản này trở thành một đòi hỏi cấp thiết, ít nhất là mở rộng tính ứng dụng để mang thứ nghệ thuật này đến gần hơn với nhiều người. Để làm được việc này, trước tiên cần hiểu được đặc điểm và quan trọng là tinh thần, tư duy thẩm mĩ xuyên suốt người Cơ-ho Chil trong sáng tạo các sản phẩm thủ công của họ. Bên cạnh sự giao lưu với bên ngoài, mỗi tộc người đều dần hình thành những đặc trưng văn hóa, nghệ thuật riêng biệt để khẳng định bản sắc của mình. Thông qua một số khía cạnh như màu sắc, kỹ thuật và nội dung trên thổ cẩm và đan gùi, người Cơ-ho Chil đã thể hiện một hệ tư duy thẩm mĩ của riêng, đồng thời bộc lộ quan niệm về cái đẹp và mối quan hệ giữa cộng đồng với tự nhiên.

   Cuộc sống bám vào rừng, vào thiên nhiên, cho nên hệ màu sắc của thổ cẩm hay đan lát đều là từ thiên nhiên. Hiện nay, thổ cẩm truyền thống và đan lát, đặc biệt là các sản phẩm dệt truyền thống, có một bộ màu gồm xanh chàm, nâu, đỏ, cam, vàng, xanh lá. Trong đó, màu xanh chàm là màu sắc chiếm diện tích lớn nhất trên tấm vải và cũng xem là màu quan trọng nhất đối với cộng đồng. Về việc lựa chọn màu sắc, đầu tiên nhất đây có thể xem là lựa chọn lý tính, khi nghề dệt mới hình thành, cây chàm mèo và cây bông là hai loại thực vật tạo màu đầu tiên, giữa xanh và trắng, sắc độ đậm của màu xanh vẫn có thể xem là tương đối phù hợp hơn với môi trường sống. Các nghiên cứu tâm lý màu sắc lại chỉ ra rằng màu xanh thường gợi cảm giác trầm tĩnh, xa cách và sự kiềm chế. Xét đến môi trường sống, “rừng và rú” là nơi những nhóm người Cơ-ho Chil xa xưa sinh sống, tách biệt và xa cách với các tộc người khác, những ngôi nhà dài trên sườn dốc, ẩn giữa rừng thông bạt ngàn của Tây Nguyên, phải chăng cũng như vậy đã hình thành nên tính đồng điệu trong tâm lý, dẫn đến sự lựa chọn màu xanh chàm làm màu chủ đạo, những tấm áo xanh chàm như giúp họ hòa làm một với không gian kỳ bí của rừng già, trở thành một phần của rừng, như chính cách họ gọi bản thân là Kou N’Ho3 – những người con của rừng thông. Trên lớp nền đó, những dãy màu sắc của hoa văn thổ cẩm bố cục thành các dải dài, khi mặc lên như những dải màu sắc quấn quanh thân thể, thể hiện những sắc màu làm đẹp thêm cho tấm thổ cẩm. Khi khai thác màu sắc các sản phẩm mới, cần hướng tới bản chất trong tư duy thẩm mĩ, sản phẩm tiêu dùng thể hiện được sự mộc mạc, sâu lắng của núi rừng nhưng vẫn có điểm nhấn màu sắc giàu cảm xúc.

   Đối với thiết kế bao bì ở Hình 4, bên cạnh yếu tố màu sắc, đồ án hoa văn được khai thác song song là motif “hạt lúa”, phối hợp các tông vàng, cam và xanh lá mạ trên nền xanh chàm chủ đạo. Trong quan niệm của người Cơ-ho Chil, hạt lúa là biểu tượng của sự sung túc, phồn thực và thịnh vượng, đồng thời phản ánh mối liên hệ mật thiết giữa con người và đất mẹ. Các dải hoa văn được bố trí liên tục và nhịp nhàng, gợi hình ảnh vòng tuần hoàn của mùa màng, biểu trưng cho dòng chảy của sự sống và ước vọng mùa màng bội thu. Nền xanh giúp nổi bật gam ấm của lúa chín nhưng với tỉ lệ màu chiếm ưu thế, vẫn gợi được cảm giác sâu lắng, mộc mạc.


Hình 4. Thiết kế bao bì ứng dụng hoa văn và màu sắc của thổ cẩm Cơ-ho Chil (Ảnh: LHA, 2025)

   Yếu tố khác là kỹ thuật, kỹ thuật dệt, đan lát Cơ-ho Chil cũng ảnh hưởng đến giá trị thẩm mĩ của sản phẩm thủ công. Phụ nữ gắn bó với nghề dệt thổ cẩm, còn đàn ông lại gắn liền với nghề đan gùi, hai loại hình lao động vừa mang tính thực dụng vừa giàu giá trị biểu tượng. Biết đan gùi hay dệt vải được xem là dấu mốc của sự trưởng thành, là minh chứng cho khả năng lao động, khéo léo và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với gia đình và cộng đồng. Để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh, người thợ phải mất nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần để tìm kiếm và xử lý nguyên vật liệu, đồng thời dành hàng giờ tập trung cho từng đường dệt, mũi đan sao cho đều, chắc và đẹp. Kỹ thuật tạo tác là cái đẹp chân chính sinh ra từ lao động thủ công trung thực, người thực hành gắn bó với vật liệu, sản phẩm làm ra không chỉ đẹp mà còn chứa đựng tinh thần đạo đức của người làm ra nó. Đan lát gùi cũng chia thành nhiều loại, phụ thuộc vào công năng sử dụng, có gùi để mang củi, có gùi lúa, lại có gùi nhỏ vắt hông để chứa hạt giống, lại có gùi nhỏ với hoa văn hóa lá để mang đi chợ hoặc làm vật phẩm tặng cho người thân, bạn bè. Một sản phẩm đẹp là sản phẩm được làm ra một cách tỉ mỉ, không phô trương và vẻ đẹp đó phải bắt nguồn từ chính chức năng của nó. Nói đến kỹ thuật, vẻ đẹp của tấm thổ cẩm hay chiếc gùi nằm ở độ bền chắc, ở sự hài hòa của hoa văn và ở sự tận tâm mà người thợ đã gửi gắm vào từng công đoạn.

   Trong thiết kế sản phẩm hiện đại, người thiết kế đứng giữa nghệ nhân và nhà nghiên cứu. Khi nói đến kỹ thuật chế tác, người thiết kế không thể, cũng không nên sao chép toàn bộ kỹ năng tay chân, tinh thần cốt lõi là sự thấu hiểu và chuyển dịch các giá trị phía sau kỹ thuật ấy, cần “đọc” được vẻ đẹp của đường dệt, sự ăn khớp của cấu trúc đường đan hay sự biến đổi của màu nhuộm tự nhiên, tức là xem kỹ thuật là một hệ thống tư duy thẩm mĩ chứ không phải là thao tác tay nghề nữa. Trên tinh thần của một thiết kế thích ứng, để tránh đóng khuôn sản phẩm, nên tách rời kỹ thuật khỏi hình thức, người thiết kế có thể dùng công cụ hiện đại để mô phỏng nhịp điệu của đan lát, hay dùng vật liệu công nghiệp để tái tạo cảm giác bề mặt của thổ cẩm, miễn sao cái “tinh” của kỹ thuật thủ công vẫn được duy trì, đó là sự tôn trọng vật liệu, tỉ lệ, nhịp điệu và tính con người trong quá trình sáng tạo.


Hình 5. Thiết kế túi nữ ứng dụng kỹ thuật và màu sắc của thổ cẩm Cơ-ho Chil (Ảnh: LHA, 2025)

   Thiết kế túi tròn lấy cảm hứng từ kỹ thuật đan lát truyền thống của người Cơ-ho Chil, kết hợp với ngôn ngữ hình khối và vật liệu hiện đại. Hình thức túi tròn gợi nhớ hình ảnh chiếc gùi đế cao quen thuộc của đời sống lao động vùng cao nguyên. Nếu chiếc gùi xưa là vật dụng lao động gắn liền với đời sống cộng đồng, thì trong thiết kế này, công năng được chuyển đổi từ “mang vác” sang “mang theo”. Mặt túi ứng dụng motif đan ngang đơn giản, ở đây khai thác kỹ thuật đan và tìm kiếm các vật liệu thay thế có tính tương đồng với mây tre truyền thống để làm mặt túi, motif trên cũng phù hợp với kiểu dáng hiện đại, thêm chất liệu da gồ ghề và kim loại, là sự kết hợp giữa kỹ thuật và vật liệu hiện đại khi khai thác sản phẩm tiêu dùng.

   Yếu tố tiếp theo là nội dung tạo hình trên các sản phẩm thổ cẩm và đan lát, trong đó chức năng chủ đạo là truyền tải thông điệp văn hóa. Khác với ngôn ngữ chữ viết, hoa văn thể hiện tư duy của cộng đồng qua hình ảnh và nhịp điệu thị giác, phản ánh thế giới quan, tín ngưỡng và cảm xúc thẩm mĩ của con người. Trong văn hóa phương Đông, hoa văn luôn mang vị trí đặc biệt, vừa là yếu tố trang trí vừa là biểu tượng của triết lý sống và đạo đức con người. Các hình tượng như hoa sen, hoa mai, tứ quý biểu trưng cho sự thanh cao, bền bỉ và tuần hoàn của tự nhiên, xuất hiện xuyên suốt trong thơ ca, hội họa, kiến trúc và đời sống thường nhật. Thổ cẩm Tây Nguyên cũng như vậy, ở thổ cẩm Cơ-ho Chil, các đồ án hoa văn có thể phân theo một số nhóm hoa văn côn trùng - biểu trưng cho sự cần mẫn và chu kỳ sinh sôi, nhóm hoa văn thực vật - thể hiện sự gắn bó với rừng và mùa màng, nhóm hoa văn vật dụng hàng ngày - phản ánh đời sống lao động, nhóm đồ án hoa văn trang trí và nhóm đồ án các hoa văn mang ý nghĩa đặc biệt - biểu thị tín ngưỡng hay mong ước sung túc, đủ đầy. Hệ thống hoa văn kỷ hà được hình thành từ các bố cục xéo, khối tam giác to nhỏ, tạo thành các mô thức thị giác đa dạng, tuy lấy cảm hứng trực tiếp từ thế giới xung quanh nhưng đồ án hoa văn thường tối giản trong miêu tả nhưng phong phú trong ý nghĩa, thể hiện lối tư duy trừu tượng điển hình của phương Đông, khác với tư duy mô phỏng của phương Tây. Đồ án thổ cẩm Cơ-ho Chil có trật tự và quy tắc, nơi cái đẹp được cảm nhận qua nhịp điệu, tỉ lệ và tính cân bằng của hình thể, hơn là qua mô phỏng hiện thực. Để khai thác được yếu tố cốt lõi của một hệ thống đồ án hoa văn, nhà thiết kế cần thấu hiểu tư duy biểu tượng ẩn sau từng họa tiết, một quá trình đòi hỏi sự phân tích sâu sắc hơn là việc thu thập các mẫu hình bề ngoài. Thành công cuối cùng của thiết kế được đo bằng khả năng khiến người dùng cảm nhận được “tinh thần” của di sản hoa văn một cách tinh tế, thông qua trải nghiệm thị giác và xúc giác, đồng thời khơi gợi ở họ sự tò mò tự nhiên muốn khám phá những câu chuyện và ý nghĩa sâu xa đằng sau các đồ án đó.


Hình 6. Thiết kế sổ viết với đồ án của thổ cẩm Cơ-ho Chil (Ảnh: LHA, 2025)

   Thiết kế sổ viết lấy từ đồ án “cườm cổ chim cu” trong hệ thống hoa văn truyền thống của người Cơ-ho Chil. Trong văn hóa bản địa, chim cu là hình ảnh gắn liền với thần linh và tri thức, được xem như sứ giả của thế giới siêu nhiên, cầu nối giữa con người và các đấng thiêng liêng. Hoa văn “cườm cổ chim cu” vì thế biểu tượng của tri thức, trí tuệ và sự khai sáng tinh thần. Trên từng trang giấy, người dùng có thể bắt gặp những dòng chú thích ngắn về câu chuyện dân gian hoặc ý nghĩa biểu tượng của hoa văn “cườm cổ chim cu”. Cách thể hiện này tạo nên sợi dây kết nối giữa hành động viết, ghi nhớ và tri thức văn hóa, quá trình sử dụng trở thành một hành trình khám phá văn hóa. Giúp tăng giá trị của sản phẩm từ giá trị hình thức lên giá trị tinh thần.

   4. Đề xuất một số cách thức để khai thác giá trị thẩm mĩ truyền thống trên sản phẩm tiêu dùng hiện đại

   4.1. Tách kỹ thuật ra khỏi hình thức

   Về bản chất, kỹ thuật (như nhuộm vải, đan lát, dệt) là hệ thống tri thức, kỹ năng và quy trình sáng tạo. Trong khi đó, hình thức là diện mạo trực quan của sản phẩm, những hoa văn cố định trên tấm thổ cẩm hay kiểu dáng quen thuộc của một chiếc gùi. Sự gắn kết cứng nhắc giữa một kỹ thuật và một hình thức duy nhất vô hình trung đã bó hẹp không gian sáng tạo. Người thiết kế dễ rơi vào lối mòn “tái tạo” thay vì “sáng tạo” và bỏ lỡ những cơ hội thử nghiệm quý giá. Chẳng hạn, thay vì dùng kỹ thuật dệt thổ cẩm chỉ để may váy, chúng ta hoàn toàn có thể ứng dụng nó để tạo ra chất liệu cho một chiếc túi xách hiện đại, một tấm vải bọc đệm sang trọng hay thậm chí một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt. Dựa trên tinh thần khẳng định rằng giá trị của kỹ thuật nằm ở bản thân nó, chứ không phải ở sản phẩm cuối cùng quen thuộc. Đây là sự “trung thực” với tiềm năng của kỹ thuật chứ không phải với diện mạo của nó.

   4.2. Tách nhỏ và nhấn mạnh một phần

   “Tách nhỏ” là quá trình giản lược hoặc trích xuất một chi tiết, motif hay nhịp hình đặc trưng từ tổng thể để khai thác độc lập, còn “khuếch đại” là hành động phóng to, nhấn mạnh hoặc lặp lại một phần hình ảnh nhằm tạo sức biểu cảm mạnh hơn trong quy trình sáng tạo. Trong thực hành, thay vì sử dụng nguyên bản một hoa văn truyền thống, chúng ta chủ động cô lập các phần tử của nó. Chẳng hạn, một “mũi đan” đặc trưng có được khuếch đại thành họa tiết chính cho một bức tường trang trí hoặc một tấm thảm, hay nhịp điệu của đường dệt có thể được tách nhỏ và chuyển thể thành hình in trên vải may mặc. Nhờ vậy, các yếu tố văn hóa trở nên đa năng, dễ dàng thích ứng với các hình thức thiết kế đa dạng từ bao bì, trang sức, thời trang đến đồ nội thất. Ví dụ, việc khuếch đại một chi tiết nhỏ bằng cách thay đổi tỉ lệ cực đại hay đặt nó trong một bố cục có chủ ý trên chất liệu mới (như kính, kim loại) sẽ biến nó thành điểm nhấn đặc biệt, nâng tầm giá trị của chi tiết mới. Bằng cách giải phóng các yếu tố hình thức khỏi chính nó, hình thức cũ có được diện mạo mới và tiếp tục phát triển.

   4.3. Kết hợp với vật liệu và kỹ thuật mới

   Việc kết hợp giá trị thẩm mĩ truyền thống với vật liệu và kỹ thuật sản xuất mới tạo ra bước đột phá trong việc đưa di sản vào đời sống đương đại. Thay vì bó hẹp trong chất liệu truyền thống, thiết kế mới ứng dụng nguyên lý tạo hình và họa tiết đặc trưng lên các vật liệu mới như kim loại, composite, kính cường lực hay nhựa kỹ thuật cao thông qua các công nghệ như in 3D, cắt laser hay dệt kỹ thuật số. Chẳng hạn, kỹ thuật đan lát truyền thống có thể được mô phỏng bằng chất liệu nhựa trong suốt để tạo ra những chiếc đèn treo hiện đại hay hoa văn thổ cẩm được khắc lên gốm sứ bằng công nghệ in kỹ thuật số. Bên cạnh những công nghệ sản xuất vật lý, trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những khả năng vô tận trong việc di sản hóa số và sáng tạo dựa trên di sản. Cụ thể, AI có thể được huấn luyện để nhận diện, phân tích và học tập các đặc trưng thẩm mĩ từ kho dữ liệu hình ảnh về hoa văn, màu sắc truyền thống. Từ đó, tạo ra vô số biến thể thiết kế mới vẫn giữ được “gene” thẩm mĩ gốc. Vật liệu và kỹ thuật mới thử thách và làm phong phú thêm cho nguồn nguyên liệu truyền thống. Thể hiện sự tôn trọng bằng cách tin tưởng rằng kỹ thuật truyền thống có đủ sức mạnh để thích nghi và tỏa sáng trong bối cảnh mới.

   5. Kết luận

   Có thể thấy, nghệ thuật thổ cẩm và đan lát của người Cơ-ho Chil tại tỉnh Lâm Đồng đang đứng trước những thách thức của sự mai một, nhưng đồng thời cũng chứa đựng những tiềm năng to lớn chưa được khai thác hiệu quả. Thực trạng cho thấy các sản phẩm hiện nay chủ yếu dừng lại ở mức độ bảo tồn nguyên dạng hoặc sao chép hình thức truyền thống lên các vật phẩm lưu niệm quen thuộc, dẫn đến sự trì trệ và thiếu sức hút với người tiêu dùng hiện đại. Tuy nhiên, các thiết kế tiền lệ trong và ngoài nước đã chứng minh rằng việc khai thác giá trị thẩm mĩ truyền thống một cách sáng tạo hoàn toàn có thể tạo ra những sản phẩm đương đại vừa mang tính thẩm mĩ cao vừa có giá trị thương mại bền vững. Những thành công ấy cho thấy “linh hồn” của di sản không nằm ở việc sao chép nguyên bản mà ở khả năng chắt lọc, chuyển hóa và tái diễn giải các giá trị cốt lõi của tri thức truyền thống trong ngữ cảnh hiện đại.

   Từ những phân tích đó, bài viết đã đưa ra một số ý tưởng thiết kế sản phẩm tiêu dùng hiện đại lấy cảm hứng từ thổ cẩm và đan lát Cơ-ho Chil, nhằm chứng minh tiềm năng ứng dụng của nguồn giá trị thẩm mĩ này trong đời sống đương đại. Đồng thời, bài viết đề xuất ba nguyên lý then chốt cho quá trình phát triển sản phẩm tiêu dùng hiện đại. Từ khai thác đặc tính đến ứng dụng công nghệ, khoa học để làm mới sản phẩm. Từ đó mở rộng không gian tồn tại của các giá trị thẩm mĩ truyền thống trở thành nguồn tài nguyên sáng tạo sống động.

 

 

 

Chú thích:
1 Dournes, J. (2008), Miền đất huyền ảo (Nguyên Ngọc dịch), NXB. Thông tin và Truyền thông, tr. 76.
2 Lý Ngọc Hiển (2010), Nghề dệt vải của người Cơ-ho Chil, NXB. Văn hóa dân tộc, tr. 65.
3 Joann L. Schrock (1966), Minority groups in the republic of Vietnam. Headquarters, Department of the Army, tr. 389.

 

Bình luận

    Chưa có bình luận