Dân tộc Thái ở Thanh Hóa lưu giữ nhiều di sản vật thể và phi vật thể mang đậm bản sắc tộc người, một trong những di sản đó là hoa văn thổ cẩm. Với người Thái, việc dệt vải, thêu họa tiết trên vải để may trang phục, đồ dùng như mặt phà (chăn), gối, khăn, địu, túi... là thước đo về sự khéo léo và phẩm hạnh của người con gái. Vì lẽ đó, dệt thổ cẩm thổi hồn cả hệ sinh thái từ tự nhiên đến phong tục, tín ngưỡng... bằng các họa tiết hoa văn. Các họa tiết hoa văn phong phú, từ đơn giản đến phức tạp và tinh tế, đã lưu giữ những dấu ấn văn hóa của cộng đồng người Thái. Những tích truyện về hoa văn được lưu truyền từ đời này sang đời khác như một thứ tư liệu trong thực hành dệt thổ cẩm đã làm cho hoa văn thổ cẩm càng thêm quan trọng, ý nghĩa trong tâm thức đồng bào. Hoa văn từ ngàn xưa đến nay, qua bao thăng trầm của cuộc sống nhưng dù ở đâu vẫn là một trong những dấu hiệu để nhận diện bản sắc dân tộc. Vì thế, hoa văn thổ cẩm có một vòng tròn vô tận từ đời sống vào truyện kể, rồi từ truyện kể chuyển hóa thành nghệ thuật tạo hình trên vải, thành sản phẩm phục vụ đời sống. Từ truyện kể dân gian đến cuộc sống đương đại, trong xu hướng công nghiệp văn hóa, hoa văn thổ cẩm của người Thái ở Thanh Hóa đã và đang kiến tạo giá trị của riêng mình.
1. Hoa văn thổ cẩm của người Thái ở Thanh Hóa trong truyện kể dân gian – những biểu đạt văn hóa
1.1. Hoa văn thổ cẩm trong truyện kể và đời sống
Thổ cẩm là sản phẩm nghề dệt thủ công truyền thống của các đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và người Thái ở Thanh Hóa nói riêng. Trên từng tấm thổ cẩm, các họa tiết hoa văn chứa đựng câu chuyện, đời sống, ký ức văn hóa, biểu tượng văn hóa của tộc người. Bên cạnh đó, nó còn thể hiện thông điệp nhân văn, sâu sắc về thế giới quan, nhân sinh quan của con người miền sơn cước.
Thổ cẩm của đồng bào dân tộc Thái được dùng làm trang phục, khăn, mặt phà (chăn), túi, địu... với những hoa văn gắn bó mật thiết với đời sống và những nghi lễ quan trọng của con người. Truyện kể truy nguyên nguồn gốc, giải thích lý do xuất hiện hoa văn, ý nghĩa biểu tượng của nó đối với cộng đồng. Hoa văn trên thổ cẩm của người Thái được dệt/ thêu với nhiều họa tiết phong phú: họa tiết kỷ hà (sóng nước, các hình tam giác, hình vuông...), hình động vật (con rồng, con ngựa, con cá, con chim, con voi, con khỉ...), hình hoa lá, cỏ cây, mặt trời... Tất cả được thổi hồn một cách vừa đơn giản, mộc mạc vừa cầu kỳ, tinh tế, sinh động, với nhiều màu sắc rực rỡ, trầm mặc như tâm tình, thổi vào đôi bàn tay khéo léo, tài hoa của phụ nữ Thái.
Từ trong truyện kể, nhiều hoa văn đã được hồi sinh trên thổ cẩm thành trang phục, phụ kiện, đồ dùng của con người và trở thành những biểu tượng giàu tính nhân văn. Trước hết, hệ thống biểu tượng hoa văn đó đã tự thân tạo nên giá trị văn hóa trong truyện kể của dân tộc Thái ở Thanh Hóa. Truyện kể đã khoác lên hoa văn thổ cẩm những ý nghĩa biểu tượng độc đáo, gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt và đời sống tinh thần của người dân. Hệ thống truyện kể trở thành dạng tài liệu truyền miệng về cấu trúc và ý nghĩa của hoa văn thổ cẩm với những mã văn hóa khác nhau. Đến lượt mình, hoa văn thổ cẩm không đơn thuần chỉ nhắc nhớ lại nguồn gốc từ tích truyện trong văn học mà nâng cấp giá trị lên tầm mới là chuyển tải ý nghĩa biểu tượng ra cuộc sống, tiếp tục sinh tạo đời sống cho nó bằng hình ảnh sinh động mà chân thực.
1.2. Hoa văn thổ cẩm – tình yêu thiên nhiên, cuộc sống
Cũng như bao dân tộc khác, đồng bào Thái ở Thanh Hóa rất coi trọng và thân thiện với thiên nhiên. Không gian sinh tồn ấy quen thuộc với những dòng suối róc rách uốn mình giữa các triền núi cao, những bông hoa phay, hoa ban, ngọn phắc cút quen thuộc... mang lại cuộc sống yên bình; ở đó không thể thiếu những linh vật như rồng, voi đến những con vật gắn bó với cuộc sống thường nhật: ngựa, khỉ, tôm, cua..., góp phần tạo nên những nhịp sống an vui, phồn thịnh của con người... Tất cả thiên nhiên, muôn vật, cỏ cây được dệt vào những dải thổ cẩm đã phản ánh sự bền chặt, mật thiết giữa con người với thiên nhiên. Các đồ án hoa văn trên thổ cẩm vì vậy đã neo vào trang phục, vào chăn gối, vào đồ dùng của con người như một lẽ tất yếu. Bức tranh thiên nhiên sống động được cấu trúc theo các nhóm hoa văn như sau:
Đồ án hoa văn kỷ hà được thêu dệt với dạng hình học như hình tam giác, hình tròn, hình thoi, dạng sóng nước, mây trời trên thổ cẩm của người Thái khá phổ biến, không chỉ là yếu tố trang trí mà còn mang đậm ý nghĩa văn hóa và tín ngưỡng của dân tộc. Những họa tiết này được thêu, dệt vào vải một cách tinh xảo, phản ánh tri thức và sự kết nối giữa con người với thiên nhiên; không chỉ mang tính trang trí mà còn tượng trưng cho sự vững chắc, ổn định và sự trật tự trong vũ trụ.
Đồ án hoa văn động vật khá đa dạng và đặc sắc, motif hoa văn về linh vật, các con vật có sức mạnh như rồng, rùa, voi, hổ... hoặc những con vật quen thuộc như khỉ, cá, tôm, cua… có ảnh hưởng và liên quan tới đời sống con người. Những biểu tượng hoa văn này chứa đựng giá trị tinh thần sâu sắc, tín ngưỡng tâm linh, thể hiện sự tôn thờ thiên nhiên và hài hòa với vũ trụ, sự kết nối giữa con người và thiên nhiên trong mọi hoạt động của cộng đồng người Thái. Những họa tiết này mang trong mình niềm tin vào các thế lực bảo vệ và mang lại may mắn cho gia đình, cộng đồng.
Đồ án hoa văn thực vật bao gồm các hình ảnh như: hoa ban, hoa phay, quả trám, cây thuộc họ dương xỉ (phắc cút)… Đây là những họa tiết vừa mang vẻ đẹp tự nhiên vừa hàm chứa thông điệp về sự sinh sôi, phát triển và gắn bó mật thiết với môi trường sống của cộng đồng.
Đồ án hoa văn mặt trời, biểu tượng phổ biến trong các nền văn hóa nông nghiệp, thể hiện sức sống, ánh sáng, sự vĩnh hằng và mối liên hệ với tín ngưỡng thờ thần Mặt Trời.
Trong hệ thống hoa văn trên trang phục người Thái ở Thanh Hóa, hoa văn động vật và thực vật chiếm tỉ lệ lớn nhất, phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa con người với tự nhiên, bởi con người tồn tại phải cần đến thiên nhiên.
1.3. Hoa văn thổ cẩm – phong tục tập quán của đồng bào Thái
Trong phong tục của người Thái, dệt thổ cẩm có từ rất sớm, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của họ. Hoa văn thổ cẩm là di sản được truyền lại từ mẹ sang con gái, việc dệt thổ cẩm được coi như là thiên chức của người phụ nữ Thái, đó cũng là một trong những tiêu chí đánh giá sự khéo léo, đảm đang của người phụ nữ. Vì vậy, tục ngữ Thái đã đúc kết sự phân công lao động: “Nhính dệt phại, chái xan he”1 (Gái dệt vải, trai đan chài), nên con gái Thái “Xíp ết hụ khót choọng, xíp xoỏng hụ tăm húk”2 (Mười một tuổi biết độn tóc, mười hai tuổi biết ngồi khung dệt vải) và dệt vải khéo léo, điêu luyện tới mức “Khoặm mư pên lai, hai mư pên bóok”3 (Úp bàn tay nên hoa, ngửa bàn tay thành bông). Những cô gái mới lớn đã làm quen với khung cửi, kéo sợi và đặc biệt đã biết dùng sự khéo léo của mình đan dệt những sợi chỉ vào nhau thành những hoa văn truyền thống của dân tộc mình. Bản thân họ biết dệt váy, dệt khăn làm lễ phục cho hôn nhân của mình; ngoài ra còn biết làm chăn, làm gối, túi... để tặng cho người thân khi về nhà chồng. Có lẽ vậy mà những thổ cẩm có vị trí quan trọng trong tâm thức người Thái. Những hoa văn càng tinh xảo càng thể hiện được tài nghệ của cô gái. Sản phẩm thổ cẩm cũng tạo nên những phong cách, sự sáng tạo, sở thích, tâm hồn của từng người. Những cô gái hồn nhiên, chăm chỉ nơi sơn cước đã sinh tạo ra di sản hoa văn trên thổ cẩm một cách độc đáo và giàu bản sắc.
Không chỉ vậy, trong nghi lễ vòng đời của người Thái, hoa văn thổ cẩm trên trang phục, trên túi, trên khăn... có những dấu ấn, màu sắc và những họa tiết riêng. Thổ cẩm là vật phẩm không thể thiếu trong các nghi lễ quan trọng như khi mới sinh, cưới hỏi, tang ma, thể hiện sự kết nối linh thiêng giữa con người và thế giới tâm linh. Khi người mẹ sinh con thường có trang phục trẻ nhỏ hoặc cái địu được dệt thêu họa tiết tô linh (con khỉ) để thể hiện tình yêu thương, sự che chở của mẹ cho con. Họa tiết này gắn với câu chuyện cảm động về đứa con vì phạm lỗi mà sợ hãi, chạy vào rừng và biến thành con khỉ, người mẹ ngóng chờ, tìm con trong nhớ thương vô vọng. Vì vậy, họa tiết con khỉ trên thổ cẩm luôn gắn với trang phục của trẻ nhỏ. Lúc yêu nhau, đôi trai gái có tín vật định tình là chiếc khăn piêu với những họa tiết phong phú, tinh xảo; khi phương trưởng, lập thành gia thất, họa tiết đôi chim, hoa ban, hoa phay thể hiện sự quấn quýt, yêu thương, chung thủy của cô dâu, chú rể. Hoa văn còn mang mã văn hóa, tín hiệu đặc biệt không chỉ với người sống mà còn với người chết. Tại một số địa phương ở Thanh Hóa, hoa văn mặt trời dệt trên trang phục của người đã khuất có những quy ước riêng về màu sắc. Nó được dệt trong những tấm vải dài, hoàn toàn bằng màu cam với ý nghĩa “ánh hoàng hôn vụt tắt” đánh dấu sự kết thúc cuộc đời con người và sau đó sẽ được chôn cất cùng với người đã mất, linh hồn sẽ được siêu thoát. Như vậy, hoa văn trên thổ cẩm của người Thái ở Thanh Hóa có sự gắn kết bền chặt với nghi lễ vòng đời của con người, từ khi sinh ra đến khi nhắm mắt xuôi tay. Mỗi loại hoa văn thổ cẩm gắn với lễ thức khác nhau, mang tín hiệu văn hóa khác nhau trong cuộc sống con người.
Hoa văn trên thổ cẩm từ truyện kể cũng góp phần tái hiện thiết chế xã hội truyền thống của người Thái. Trong xã hội, tầng lớp lang đạo ngoài những trang phục hằng ngày có phần giản dị thì thường mang trang phục với những hoa văn tinh xảo về linh vật, tô tem hoặc những con vật có sức mạnh phi thường như rồng, voi, ngựa, chim… hoặc hoa văn hình chim (nộc ôn tốn, tô nộc mi noại) biểu trưng cho tình anh em đoàn kết. Ông thầy cúng được mang trang phục hoa văn mãnh hổ tượng trưng cho uy quyền của người kết nối với thần linh, có sức mạnh sát quỷ, trừ tà…; trẻ con thường mang trang phục có hoa văn hình con khỉ; các hoa văn trên trang phục cưới xin, trang phục trong nghi lễ, tang ma đều có những quy định chặt chẽ… Đó là những phong tục, tập quán, những kiêng kỵ dân gian… được gián tiếp phản ánh trên hoa văn thổ cẩm. Từ trong lịch sử dân tộc, người Thái ngày nay kế thừa di sản quý báu của cha ông để lại.
2. Hoa văn thổ cẩm của người Thái ở Thanh Hóa trong xu hướng công nghiệp văn hóa
2.1. Bảo tồn bản sắc và phát huy di sản hoa văn thổ cẩm của dân tộc Thái trong cuộc sống đương đại
Giá trị văn hóa truyền thống sẽ làm nên bản sắc của từng dân tộc, linh hồn của văn hóa. Bảo tồn giá trị cốt lõi, hồn cốt của các hoa văn trên thổ cẩm của người Thái bắt đầu từ việc lưu giữ và truyền dạy nguyên vẹn ý nghĩa và kỹ thuật của từng hoa văn. Để làm được việc này cần phải tái kiến tạo nghề dệt thổ cẩm bằng cách tổ chức những lớp học truyền dạy kỹ thuật dệt thổ cẩm, trao truyền các truyện kể về nguồn gốc hoa văn để mỗi người hiểu được giá trị cốt lõi và linh hồn của sản phẩm. Thế hệ trước truyền dạy cho thế hệ sau, cứ tiếp nối như vậy để lưu giữ được di sản văn hóa của dân tộc. Đó là phong tục của người Thái. Vì vậy, những sinh hoạt văn hóa ý nghĩa góp phần làm sống lại các đồ án hoa văn trên vải và đi vào cuộc sống. Những nghệ nhân dệt vải, se sợi, nhuộm sợi... đều là những người nắm giữ chìa khóa, nắm giữ bí quyết về thổ cẩm và các mã văn hóa của các họa tiết hoa văn. Họ cần được vinh danh, cần có người kế tục để giữ gìn di sản của dân tộc.
Bên cạnh gìn giữ kỹ thuật dệt còn phải khôi phục nguyên liệu truyền thống: cây bông, cây dâu tằm và các loại cây nguyên liệu lấy màu nhuộm tự nhiên: tro bếp, cây dành dành, cây chàm, cây nâu, lá bàng, rễ xẹt, cánh kiến... để đảm bảo sản phẩm thổ cẩm giữ được chất liệu mộc đẹp và màu sắc truyền thống, thân thiện với môi trường tự nhiên. Các sản phẩm từ thiên nhiên sẽ tạo màu sắc bền đẹp, không độc hại; quan trọng hơn, đó là một phần cuộc sống của con người.
Lớp nghệ nhân gạo cội trong nghề dệt thổ cẩm nắm giữ công thức nhuộm màu, phơi sợi, các loại hoa văn ngày càng ít; nếu không kịp trao truyền, khi họ về thế giới bên kia sẽ vĩnh viễn mất đi di sản hoa văn thổ cẩm trong cả truyện kể và đời sống. Vì vậy, để truyền dạy dệt hoa văn trên thổ cẩm có hiệu quả thì việc xây dựng ngân hàng dữ liệu hoa văn là rất quan trọng. Ngân hàng dữ liệu hoa văn được xây dựng trên cả việc ghi chép lại các câu chuyện về nguồn gốc hoa văn (truy nguyên nguồn gốc) và cả trên phương diện số hóa các họa tiết cổ: hình rồng đôi, cá vía, con voi, con ngựa, con khỉ, hoa ban, hoa phay, phắc cút, hình mặt trời, sóng nước... thành các định dạng kỹ thuật số (vector, 3D) để làm tài liệu nghiên cứu và cấp phép sử dụng cho các ngành công nghiệp sáng tạo (game, phim ảnh, đồ họa). Việc số hóa hoa văn trên thổ cẩm cần thực hiện trong một thời gian dài và kết hợp của nhiều bên liên quan: chính quyền, nghệ nhân, nhà nghiên cứu văn hóa, lớp người tiếp nhận, phương tiện kỹ thuật số hóa...
2.2. Phát triển kinh tế, xã hội từ hoa văn thổ cẩm
Nghề dệt thổ cẩm của người Thái không chỉ đơn thuần là một sản phẩm thủ công mà còn kết tinh những giá trị văn hóa, nghệ thuật và tri thức dân gian qua nhiều thế hệ nên trở thành di sản văn hóa. Việc phát huy di sản này không chỉ giúp bảo tồn một nghề truyền thống mà còn góp phần tạo dựng bản sắc văn hóa, thúc đẩy kinh tế địa phương và lan tỏa giá trị di sản ra phạm vi rộng lớn hơn. Để làm được điều đó, cần dựa trên những tinh hoa cốt lõi của nghề dệt thổ cẩm mà linh hồn là các hoa văn với nhiều mã biểu tượng văn hóa khác nhau.
Những giá trị truyền thống của các hoa văn trên vải được ghi nhận, phát huy trong thực tiễn. Năm 2015, UBND tỉnh Thanh Hóa đã có Quyết định 4620/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển nghề, làng nghề truyền thống vùng dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016-2020”. Trong đó, có bảo tồn nghề dệt thổ cẩm ở các huyện (cũ): Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Như Xuân, Thường Xuân, Cẩm Thủy; hỗ trợ 7 làng nghề dệt thổ cẩm gồm: bản Chai, bản Cang, bản Sáng, bản Pùng, bản Ban, thôn Lặn Ngoài, thôn Muốt. Hiện nay các huyện trên địa bàn tỉnh đang triển khai thực hiện “Kế hoạch bảo tồn di sản văn hóa giai đoạn 2020-2025”, trong đó có khôi phục và phát triển nghề dệt may, thêu truyền thống các dân tộc thiểu số ở một số địa phương trên địa bàn các huyện (cũ) Quan Hóa, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Bá Thước...
Hoa văn trên thổ cẩm của người Thái ở Thanh Hóa là mã văn hóa chứa đựng những giá trị văn hóa vô hình, thiêng liêng trong tâm thức con người. Các sản phẩm này vốn rất tinh tế, thân thiện với thiên nhiên, song chủ yếu dừng lại ở khăn, áo, túi, chăn... của đồng bào người Thái. Để phát huy được sản phẩm và biến di sản thành tài sản trong phát triển kinh tế từ thổ cẩm, cần ứng dụng sáng tạo và đa dạng hóa sản phẩm trong thiết kế đương đại đáp ứng thị hiếu của du khách, của người tiêu dùng một cách phổ biến.
Trước hết, chất liệu thổ cẩm với họa tiết hoa văn mang những biểu tượng văn hóa khác nhau nên được mở rộng trong ngành thời trang ứng dụng bằng cách chính quyền kết nối để các hợp tác xã dệt thổ cẩm có cơ hội hợp tác với các nhà thiết kế để đưa hoa văn thổ cẩm vào sản phẩm hiện đại, dễ tiếp cận thị trường hơn. Sản xuất sản phẩm với các mức giá khác nhau để hợp với túi tiền, điều kiện kinh tế của người tiêu dùng: áo dài, áo khoác, áo sơ mi, váy, phụ kiện tóc, ví đựng tiền, ví đựng các loại thẻ, túi xách công sở, túi đựng mĩ phẩm... Việc này cần đảm bảo hoa văn được sử dụng có chọn lọc và tôn trọng nguyên bản, lưu giữ được ý nghĩa của hoa văn từ nguồn truyện kể mang tính truyền thống nhưng phù hợp với xu hướng hiện đại.
Bên cạnh đó, phát triển sản phẩm ứng dụng như đa dạng hóa sản phẩm để có tính thương mại cao hơn trong các lĩnh vực thiết kế nội thất, đồ gia dụng: ứng dụng các hoa văn thổ cẩm Thái vào gối tựa, rèm cửa, khăn trải bàn, tranh treo tường... tạo nên sự độc đáo cho không gian sống hiện đại. Các sản phẩm này có thể trang bị trong gia đình, các tiệm cafe và thích hợp với quà lưu niệm, nhất là du khách nước ngoài.
Ngoài ra, để mở rộng cánh cửa quảng bá cho hoa văn thổ cẩm, những gợi ý trong việc sản xuất phụ kiện công nghệ: túi chống sốc laptop, máy tính bảng, bao đựng điện thoại, túi xách du lịch... cũng là hướng đi cần khuyến khích. Trên sản phẩm từ thổ cẩm có thể sử dụng hoa văn kỷ hà để dệt/ thêu tên của chủ nhân các món đồ hoặc những họa tiết theo sở thích của người dùng để tạo dấu ấn cá nhân.
Như vậy, từ việc tái phục hồi các làng nghề, phát triển các hợp tác xã dệt thổ cẩm đến việc đa dạng hóa các sản phẩm thổ cẩm hướng đến thương mại hóa để lan tỏa sản phẩm của nghề dệt sẽ góp phần lan tỏa, mở rộng đời sống của hoa văn thổ cẩm không chỉ trong đồng bào Thái mà còn hướng đến thị trường trong nước và từng bước ra quốc tế.
Hiện nay, du lịch được coi là ngành “công nghiệp không khói” với nhiều loại hình khác nhau trên các nguồn tài nguyên văn hóa sẵn có, góp phần quảng bá văn hóa, kinh tế ở địa phương. Trong đó, du lịch cộng đồng được nhiều du khách quan tâm vì mang lại những trải nghiệm thú vị. Trên cơ sở nguồn lực về cảnh quan, di sản văn hóa, trong đó có dệt thổ cẩm, một số mô hình du lịch cộng đồng tại bản làng của người Thái ở Thanh Hóa đã có những hoạt động bước đầu khá hiệu quả, có thể kể đến các bản du lịch Pù Luông ở Bá Thước (cũ); bản Bút, bản Hang ở Quan Hóa (cũ); bản Mạ ở Thường Xuân (cũ); bản Ngàm ở Quan Sơn (cũ)... Tại đây, khi du khách đến tham quan đã được “mục sở thị”, thậm chí được tham gia vào quy trình dệt, từ se sợi đến dệt/ thêu thành phẩm hoặc cách pha nước nhuộm, cách nhuộm và phơi sợi, phơi vải (tuỳ theo thời gian lưu trú, trải nghiệm của du khách)... Sản phẩm du lịch chính là những trải nghiệm và sản phẩm thổ cẩm mua trực tiếp từ nghệ nhân; đặc biệt hơn, trong những họa tiết hoa văn trên thổ cẩm ở sản phẩm có thể “pha” dấu ấn của du khách bằng dệt một vài đường thoi hoặc se sợi, quay tơ, phơi vải nhuộm... dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân. Điều này chắc chắn sẽ tạo nên những trải nghiệm, sự thích thú cho du khách.
Trong quá trình du lịch trải nghiệm, du khách còn được nghe nghệ nhân diễn xướng các câu chuyện gắn với các họa tiết hoa văn, ví dụ: hoa văn hình rồng mang ý nghĩa bảo vệ người Thái, hoa văn hình khỉ là tình cảm thương nhớ khôn nguôi của mẹ dành cho con, hoa ban là tình yêu chung thủy, hoa văn hình hổ là biểu thị của quyền uy, hình voi là sự trường tồn... Từ đó, du khách có thể lựa chọn loại hoa văn mình yêu thích, phù hợp với mình để làm quà lưu niệm. Truyện kể về hoa văn trong các sản phẩm thổ cẩm đã góp phần tăng giá trị văn hóa và giá trị cảm xúc của món hàng; mỗi chiếc áo, cái khăn, cái túi... không đơn giản chỉ là vật dụng mà còn chứa đựng, mang tải những biểu tượng văn hóa, ký ức của tộc người trong dòng chảy văn hóa.
Bảo tồn và phát huy di sản hoa văn thổ cẩm của người Thái ở Thanh Hóa là một việc làm quan trọng hiện nay. Với những kết quả bước đầu sẽ tạo động lực cho đồng bào tiếp tục hành trình này trong tương lai. Tuy nhiên, nghề dệt thổ cẩm truyền thống đứng trước sự mai một vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, tác động của cơ chế thị trường... sản phẩm dệt thủ công có thể bị sản phẩm công nghiệp “đánh bại” vì giá thành và thời gian sản xuất sản phẩm hoặc bị đạo nhái thương hiệu... Vì vậy, xây dựng và công bố thương hiệu, đăng ký bản quyền, bảo hộ thương hiệu của các địa phương, các hợp tác xã dệt thổ cẩm cần được quan tâm; đồng thời cần tạo hành lang pháp lý, với cơ chế tiêu thụ chính ngạch các sản phẩm thổ cẩm dệt truyền thống... Không ngừng mở rộng, quảng bá sản phẩm trên các nền tảng số (mạng xã hội, website), hội chợ triển lãm, lễ hội truyền thống...; sử dụng sản phẩm trong các dịp lễ, hội họp, sự kiện văn hóa, du lịch... để giới thiệu, quảng bá vẻ đẹp và lan tỏa câu chuyện về hoa văn thổ cẩm của bản Thái, từ đó giúp các sản phẩm có cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế và từng bước trở thành sản phẩm thương mại có giá trị. Xây dựng thương hiệu và duy trì thương hiệu để bảo tồn hoa văn trên thổ cẩm là việc làm quan trọng, góp phần phát triển kinh tế địa phương và quảng bá văn hóa trong thời đại số.
3. Kết luận
Có thể vận dụng nhận định chung của nhà nghiên cứu Hoàng Lương cho hoa văn thổ cẩm của dân tộc Thái ở Thanh Hóa để khẳng định giá trị của hoa văn thổ cẩm: “Hoa văn Thái đã bảo lưu và phát huy truyền thống trang trí cổ xưa trong điều kiện cụ thể của mình”4. Với những biểu đạt văn hóa, những cảm xúc, tâm tư, tình cảm tái hiện qua các họa tiết, các đồ án hoa văn, người Thái đã thể hiện sự hài hòa trong cuộc sống của con người với thế giới thiên nhiên, mở ra phong tục, tập quán, thế giới quan của họ. Hoa văn thổ cẩm đã sống trong cả nghệ thuật ngôn từ dân gian (truyện kể) và nghệ thuật tạo hình dân gian (nghề dệt thổ cẩm), từ vô hình đến hữu hình; trí tưởng tượng và đôi bàn tay của con người đã sáng tạo nên di sản văn hóa độc đáo trên cả phương diện vật chất lẫn tinh thần.
Trong thời đại ngày nay, bảo tồn văn hóa phải có sự kết hợp hài hòa giữa giá trị văn hóa cốt lõi (qua truyện kể, ý nghĩa biểu tượng) với nhu cầu thị trường hiện đại (công nghiệp văn hóa) để tạo sinh kế bền vững cho người dân. Cách bảo tồn động và sáng tạo sẽ giúp hoa văn thổ cẩm không chỉ là di sản mà còn là sản phẩm của một ngành kinh tế sáng tạo văn hóa.
Chú thích:
* Khảo sát từ truyện cổ dân gian.
1, 2, 3 Tục ngữ Thái.
4 Hoàng Lương (2003), Hoa văn Thái, NXB. Lao động, tr. 113.