Sự chuyển mình của đời sống văn hóa, nghệ thuật Việt Nam sau 1975 trong bối cảnh hòa bình, hội nhập và phát triển đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử, tác động sâu rộng đến toàn bộ đời sống chính trị, xã hội và nghệ thuật. Tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) – trung tâm sân khấu lớn nhất cả nước – các loại hình nghệ thuật sân khấu như cải lương, múa rối, kịch nói, hát bội, được đặt dưới sự quản lý và định hướng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, đề cao chức năng tuyên truyền, giáo dục và phục vụ công cuộc xây dựng con người mới. Điều kiện hòa bình, ổn định xã hội cùng xu thế giao lưu quốc tế đã tạo môi trường thuận lợi để sân khấu phục hồi, đổi mới và tiếp thu tinh hoa nghệ thuật bên ngoài, làm giàu thêm hình thức biểu đạt, nâng cao chất lượng sáng tác và biểu diễn. Trong dòng chảy ấy, các kịch bản chuyển thể từ văn học dân gian tiếp tục giữ vai trò quan trọng, vừa bồi đắp ý thức văn hóa truyền thống và nuôi dưỡng bản sắc dân tộc vừa mở rộng ngôn ngữ nghệ thuật sân khấu. Ở TP.HCM, hoạt động chuyển thể văn học dân gian thành kịch bản hát bội được triển khai có chiến lược và bền bỉ, không chỉ khai thác tích truyện, ngôn ngữ, tư tưởng Việt Nam mà còn tiếp nhận một số tích truyện lịch sử và dân gian Trung Hoa, phù hợp với đặc trưng giao thoa văn hóa của đô thị Nam Bộ.
Tuy vậy, quá trình này cũng đặt ra thách thức: làm sao để sáng tạo và cải biên vừa giữ được tinh hoa truyền thống lại vừa đáp ứng được thị hiếu khán giả đương đại. Thực tiễn sáng tác cho thấy, việc khai thác chất liệu dân gian trên sân khấu TP.HCM hiện nay ngày càng phong phú, phản ánh tinh thần sáng tạo của đội ngũ biên kịch, soạn giả, đạo diễn cùng sự ủng hộ của nhà nước và công chúng. Bài viết này tập trung khảo sát kịch bản hát bội chuyển thể từ văn học dân gian Việt Nam, phân tích cách thức khai thác nguồn chất liệu ngôn từ dân gian trong nghệ thuật sân khấu, đồng thời đánh giá những giá trị đạt được, qua đó khẳng định vai trò bền vững của hát bội trong gìn giữ và phát huy di sản văn hóa dân tộc.
Bài viết vận dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội (historical - sociological method) nhằm phân tích bối cảnh chính trị, xã hội và văn hóa của TP.HCM sau năm 1975, đặc biệt là giai đoạn sau 1986, khi chính sách đổi mới và xã hội hóa nghệ thuật được triển khai rộng rãi. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ mối quan hệ giữa hoạt động sân khấu và bối cảnh xã hội - chính trị, lý giải sự vận động của các loại hình nghệ thuật cũng như nhu cầu thẩm mĩ của công chúng đô thị.
Bên cạnh đó, bài viết kết hợp phương pháp phân tích văn bản (textual analysis) để khảo sát cách thức chuyển thể chất liệu văn học dân gian vào kịch bản hát bội. Cụ thể, chúng tôi tập trung phân tích nội dung các tác phẩm văn học dân gian gốc bao gồm các motif, biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật đặc thù và các kịch bản được chuyển thể bao gồm lời thoại, tình huống xung đột và hành động kịch. Quá trình phân tích kịch bản sân khấu cũng xem xét đến việc kết hợp giữa yếu tố truyền thống và kỹ thuật dàn dựng mới, từ đó chỉ ra sự thích ứng và đổi mới sáng tạo trong diễn xuất.
Ngoài ra, phương pháp quan sát tham dự được áp dụng thông qua việc chúng tôi trực tiếp theo dõi các tuồng hát bội có kịch bản chuyển thể từ văn học dân gian tại Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP.HCM, Lăng Ông Lê Văn Duyệt, Đền Vua Hùng trong khuôn viên Thảo Cầm Viên, sân khấu đường sách Nguyễn Văn Bình trên địa bàn TP.HCM. Việc quan sát này giúp chúng tôi có thể so sánh, đối chiếu thực tiễn mở rộng sân khấu biểu diễn hát bội hiện nay với những nội dung và hình thức trong văn bản dân gian, qua đó đánh giá hiệu quả chuyển thể cũng như mức độ tiếp nhận của công chúng.
1. Chuyển thể trong kịch bản hát bội và vai trò lưu giữ, truyền tải văn hóa dân tộc của loại hình nghệ thuật sân khấu
Nghiên cứu về hát bội và mối liên hệ giữa loại hình sân khấu này với văn học dân gian đã được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm từ khá sớm. Có thể phân chia thành hai hướng chính: (1) các công trình khảo cứu việc chuyển thể chất liệu văn học dân gian (truyện cổ tích, truyền thuyết, giai thoại, truyện cười) vào kịch bản hát bội; (2) các nghiên cứu khẳng định, lý giải bản sắc dân tộc được truyền tải qua nghệ thuật hát bội.
Vấn đề chuyển thể và cải biên chất liệu văn học thành kịch bản sân khấu thực chất đã được các học giả quốc tế quan tâm và đã đưa ra những nền tảng lý thuyết quan trọng. Ngay từ đầu thế kỷ XXI, các học giả phương Tây đã nêu lên những quan điểm nền tảng về chuyển thể (adaptation) như một quá trình không chỉ chuyển ngữ mà còn chuyển mã và tái sáng tạo để phù hợp với khán giả mới, bối cảnh mới, kỹ thuật mới. Linda Hutcheon trong A Theory of Adaptation (2006) cho rằng chuyển thể, xét một cách tổng thể, có thể được hiểu như một tiến trình gồm ba yếu tố cơ bản: trước hết, nó là sự chuyển tải có chủ đích từ một hoặc nhiều tác phẩm khác mà khán giả có thể dễ dàng nhận diện; tiếp đến, đó là một hành động sáng tạo kết hợp với diễn giải, mang tính chiếm dụng hoặc gìn giữ giá trị nguyên gốc; và cuối cùng, chuyển thể cũng là một quá trình tương tác liên văn bản kéo dài với văn bản được chuyển thể1. Từ góc nhìn này, có thể coi chuyển thể là một dạng phái sinh nhưng không phải sự sao chép đơn thuần. Bản thân một tác phẩm được chuyển thể luôn tồn tại như một thực thể độc lập, sở hữu kết cấu chồng lớp và khả năng tái kiến tạo mới mẻ trên nền chất liệu cũ, nhờ đó giữ được mối liên kết với di sản văn hóa mà vẫn phù hợp với bối cảnh và công chúng mới. Trong một nghiên cứu khác, Julie Sanders đưa ra nhận định rằng chuyển thể có thể chia thành hai dạng: adaptation (giữ gìn tinh thần nguyên gốc của văn bản) và appropriation (thiên về biến đổi tự do) nhằm đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ, kỹ thuật và thị hiếu đương đại. Nhà nghiên cứu này cũng nhấn mạnh hiện tượng textual migration (di cư liên văn bản), trong đó các yếu tố văn học được dịch chuyển sang sân khấu, biến đổi hình thức nhưng vẫn lưu giữ một phần cấu trúc nội dung để tạo ra sự tiếp nối của các thế hệ2.
Những quan điểm trong các lý thuyết trên có thể dùng để lý giải vì sao truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn hay giai thoại dân gian Việt Nam hoàn toàn có thể thích ứng với ngôn ngữ sân khấu, miễn là vẫn giữ được trục giá trị văn hóa cốt lõi. Nhìn chung, có thể xem kịch bản sân khấu lấy chất liệu từ văn học dân gian như một tiến trình tái hiện các nghi thức, tập tục truyền thống theo cách có thể lặp lại, được tập dượt và biểu diễn có chủ đích (hoặc làm sống lại giá trị cũ, hoặc sáng tạo nên một ý nghĩa mới mang hơi thở thời đại cho di sản văn học truyền thống). Chính cách nhìn này đã mở rộng quan niệm nghệ thuật sân khấu không chỉ là kể chuyện mà còn là hình thức lưu giữ ký ức văn hóa dân tộc, qua đó kết nối các thế hệ quá khứ với hiện tại. Song song đó, ta cũng có thể thấy rằng chuyển thể trong sân khấu hiện đại không còn thuần túy sao chép hay dựng lại mà phải đan xen các yếu tố thị giác, công nghệ, âm nhạc để tạo nên sản phẩm văn hóa nghe nhìn vừa giàu chiều sâu văn hoá truyền thống vừa gần gũi với khán giả đương đại. Đây chính là cơ sở thực tiễn để hiểu vì sao những vở hát bội trên sân khấu TP.HCM hiện nay có kết hợp các yếu tố âm thanh, ánh sáng hiện đại trong hình thức biểu diễn nhằm hấp dẫn khán giả trẻ nhưng vẫn tôn trọng yếu tố truyền thống trong chuyển tải nội dung.
Trong tiến trình phát triển của sân khấu truyền thống Việt Nam, văn học dân gian từ lâu đã đóng vai trò là nguồn chất liệu phong phú và bền vững. Các thể loại như truyện cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại, ngụ ngôn, cùng hệ thống ca dao, tục ngữ, thành ngữ… đã trở thành nền tảng cho việc hình thành cốt truyện, xây dựng nhân vật và ngôn ngữ thoại trong nhiều vở diễn. Có thể nói chuyên khảo Vai trò của văn học dân gian với sân khấu truyền thống (1995) của Cát Điền là một công trình tiêu biểu, đã hệ thống hóa mối quan hệ khăng khít giữa văn học dân gian và các loại hình sân khấu cổ truyền như chèo, tuồng, cải lương. Tác giả đã chỉ ra rằng các motif truyện kể dân gian được sân khấu kế thừa và sáng tạo không chỉ giữ cho kịch bản gần gũi với khán giả đại chúng mà còn góp phần bảo lưu những giá trị đạo đức, thẩm mĩ truyền thống. Đồng thời, ngôn ngữ dân gian giàu hình ảnh, nhịp điệu và vần điệu được vận dụng khéo léo vào lời thoại sân khấu, tạo nên sức truyền cảm mạnh mẽ. Tác giả cũng khẳng định yếu tố diễn xướng dân gian từ lối hát, điệu múa đến cách kể chuyện đã ảnh hưởng sâu sắc tới nghệ thuật trình diễn của sân khấu. Qua đó, nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng việc tiếp tục khai thác, chắt lọc và phát huy vốn văn học dân gian chính là hướng đi quan trọng để sân khấu truyền thống duy trì sức sống và giữ vững căn tính văn hóa dân tộc trong bối cảnh xã hội đổi thay3.
Xét riêng về nghệ thuật hát bội, vai trò truyền tải và gìn giữ bản sắc dân tộc trong kịch bản cũng đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng các kịch bản tuồng cổ không chỉ khai thác đề tài lịch sử mà còn dựa trên truyện cổ tích, truyền thuyết và giai thoại dân gian. Ngay từ đầu thế kỷ XX, Đạm Phương nữ sử (1923) đã đề cập khái quát đến nguồn gốc tích truyện của kịch bản tuồng, bà khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa tuồng và văn học dân gian: “Tuồng hát có cái thi vị cổ phong, phần nhiều dùng những tiếng ca dao, ngạn ngữ, thơ hay, văn cũ, tiếng trợ ngữ, câu thành ngữ rất nhiều, lại tiếng nói thông đủ ba kì, thật là một áng văn chương rất quí hóa”4. Vũ Ngọc Phan (1933) trong bài “Tuồng hát An Nam” đăng trên Revue Franco-Annamite đã phác họa một bức tranh khái quát về nguồn gốc và tiến trình phát triển của nghệ thuật tuồng. Ông nhấn mạnh mối liên hệ mật thiết giữa tuồng và kho tàng văn học dân gian, cho rằng phần lớn kịch bản tuồng Việt Nam bắt nguồn từ truyện kể dân gian, truyền thuyết và sử thi của dân tộc5.
Sang thập niên 1940, Đoàn Nồng cho ra mắt chuyên khảo Sự tích và nghệ thuật hát bộ (1942), ông mạnh dạn sưu tầm và khảo cứu các trích đoạn tuồng dân gian tiêu biểu, hướng đi này đã đặt nền móng cho hướng nghiên cứu chuyển thể văn học dân gian vào tuồng sau này6. Trong tuyển tập Traditional Theatre in Southeast Asia (1995), Chua Soo Pong – nhà nghiên cứu sân khấu người Singapore – đã giới thiệu hát bội Việt Nam như một loại hình sân khấu cung đình mang tính bản địa độc đáo, nằm trong hệ thống các nghệ thuật trình diễn truyền thống của khu vực Đông Nam Á. Ông nhấn mạnh vai trò của hát bội trong việc bảo lưu và truyền tải các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, đồng thời khẳng định đây là một minh chứng tiêu biểu cho khả năng bản địa hóa và sáng tạo trên nền tảng giao lưu văn hóa khu vực7.
Trong phần mở đầu công trình Tuồng – Hát bội và bản sắc sân khấu truyền thống Việt Nam (2001), Hoàng Châu Ký đã dẫn lại nhận định của giáo sư âm nhạc Trần Văn Khê về vị trí và ý nghĩa của hát bội trong đời sống văn hóa dân tộc. Theo Trần Văn Khê, hát bội không chỉ là một loại hình sân khấu cung đình mang tính bản địa độc đáo mà còn là hình thức nghệ thuật tiêu biểu góp phần bảo tồn và truyền tải những giá trị truyền thống của Việt Nam. Hoàng Châu Ký xem đây là ý kiến có giá trị nền tảng, giúp khẳng định vị thế của hát bội trong hệ thống di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia8. Đoàn Thị Cảnh trong bài viết “Hát bội trong lễ hội Nam Bộ xưa và nay” (2016) cũng đã phân tích vai trò trung tâm của hát bội trong nghi lễ đình làng Nam Bộ xưa và khảo sát sự biến đổi của hình thức này trong đời sống cộng đồng đương đại, đồng thời đưa ra các đề xuất bảo tồn phù hợp với bối cảnh hiện tại9.
Bên cạnh các khảo cứu lý thuyết, một số bài viết cũng chú ý đến trường hợp chuyển thể cụ thể như những giai thoại dân gian, truyện cười dân gian được đưa lên sân khấu hát bội. Ví dụ nổi bật là vở Nghêu Sò Ốc Hến – một tích truyện hài dân gian quen thuộc – đã được Giáo sư Hoàng Châu Ký và soạn giả Tống Phước Phổ chỉnh lý, dàn dựng lại năm 1965, thổi vào đó hơi thở thời đại mới. Bản tuồng cải biên Nghêu Sò Ốc Hến của Hoàng Châu Ký không chỉ giữ được tính trào lộng dân gian mà còn lồng ghép tinh thần thời đại, trở thành một trong những vở tuồng đặc sắc nhất trong giai đoạn kháng chiến. Sự thành công của trường hợp này đã khuyến khích các nghệ sĩ và nhà nghiên cứu tiếp tục tìm về kho tàng truyện cổ, giai thoại dân gian để làm giàu chất liệu cho nghệ thuật tuồng10.
Trong những thập niên gần đây, hướng nghiên cứu này tiếp tục được mở rộng với các công trình chuyên sâu. Nguyễn Thị Huyền Trang (2023) đã bảo vệ luận án tiến sĩ Nghiên cứu kịch bản tuồng Nam Bộ trước 1945, trong đó tác giả khảo sát toàn bộ hệ thống tuồng Nam Bộ, phân loại các kịch bản theo đề tài nguồn gốc (dã sử, truyền thuyết, tích truyện dân gian, chuyển thể tiểu thuyết…). Luận án của Huyền Trang cung cấp cái nhìn khái quát về các chất liệu cốt truyện đa dạng hình thành kịch bản tuồng Nam Bộ cho thấy nhiều vở tuồng thời kỳ này đã dựa trên truyện kể dân gian hoặc lịch sử được dân gian hóa để chuyển tải bài học đạo lý, nhân sinh11.
Như vậy, xuyên suốt các quan điểm lý luận từ quốc tế đến Việt Nam đều thống nhất rằng chuyển thể tác phẩm văn học, hay cụ thể là văn học dân gian, sang kịch bản sân khấu chính là một hành vi sáng tạo có tính kế thừa và đối thoại, đòi hỏi sự trung thành với tinh thần dân gian nhưng cũng phải mở rộng, đổi mới, cập nhật, thậm chí phản biện lại quan điểm của quá khứ để phù hợp với bối cảnh xã hội, nhận thức, tư duy và thị hiếu của khán giả hôm nay. Đối với hát bội, việc lấy chất liệu từ văn học dân gian không chỉ tạo nền tảng cốt truyện giàu kịch tính và tính biểu tượng mang bản sắc truyền thống mà còn góp phần bảo tồn và tái hiện hệ giá trị, thẩm mĩ, phong tục, lối sống của cộng đồng người Việt từ xưa đến nay. Mỗi kịch bản hát bội phỏng theo truyện dân gian vừa lưu giữ bản sắc văn hóa qua ngôn ngữ, hình tượng và nghi thức sân khấu truyền thống vừa khẳng định sức sống bền bỉ của di sản trong đời sống nghệ thuật đương đại. Đây chính là cầu nối để bản sắc dân tộc được kế thừa và lan tỏa qua các thế hệ, đồng thời được giới thiệu rộng rãi ra thế giới.
2. Kịch bản hát bội tại Thành phố Hồ Chí Minh sau 1975: tái tạo bản sắc dân tộc từ di sản văn học dân gian
Vì là một loại hình nghệ thuật tổng hợp nên sân khấu có những thuận lợi trong việc truyền tải nội dung bằng cách kết hợp nhiều phương tiện (lời nói, âm nhạc, động tác, múa, đạo cụ) nhằm kể lại câu chuyện tới khán giả một cách sinh động. Có thể thấy các kịch bản sân khấu hiện nay không chỉ nhằm phục vụ mục tiêu giải trí hay phản ánh vấn đề xã hội đương thời mà còn lồng vào đó chức năng giáo dục xã hội lẫn gợi lại giá trị văn hoá truyền thống. Trong mục này, chúng tôi điểm qua nội dung của các kịch bản sân khấu thuộc loại hình hát bội đã và đang phục vụ cộng đồng tại TP.HCM từ sau năm 1975 đến nay để làm rõ xu hướng kết nối giữa dân gian và hiện đại trong quá trình sáng tạo kịch bản của các soạn giả, đạo diễn. Họ là những nhà chuyên môn đã bền bỉ theo đuổi mục tiêu tái tạo chất liệu văn học dân gian vào sáng tạo kịch bản sân khấu và đã đạt được những thành tựu đáng chú ý, cho thấy con đường tiếp cận này rất tiềm năng để vừa bảo tồn vừa lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống trong môi trường đô thị năng động như TP.HCM.
Sân khấu hát bội trên địa bàn TP.HCM, mặc dù sau 1975 vẫn có các đoàn duy trì biểu diễn định kỳ phục vụ các sự kiện chính trị nhưng phải đến giai đoạn sau 1992, khi nhà nước ban hành chính sách bảo tồn di sản, hát bội mới được quan tâm phục dựng, tuy chưa đều đặn và quy mô còn nhỏ. Từ năm 2005 trở đi, Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP.HCM bắt đầu đầu tư mạnh hơn, tổ chức các chương trình biểu diễn cố định, đào tạo diễn viên trẻ, đồng thời phục dựng nhiều vở tuồng cổ như Sơn Hậu, Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, góp phần đưa hát bội trở lại đời sống văn hóa đô thị. Đặc biệt, giai đoạn từ 2017 trở về sau, hát bội đã có mặt trở lại thường xuyên hơn trong các liên hoan nghệ thuật truyền thống và biểu diễn phục vụ khán giả tại địa phương và du khách. Bên cạnh các vở tuồng khai thác lịch sử và văn học cổ điển Trung Hoa vốn đã quá quen thuộc với khán giả từ trước 1975 thì các vở hát bội tiêu biểu được phục dựng và biểu diễn tại TP.HCM trong những năm gần đây đã khẳng định sức sống mạnh mẽ cũng như vai trò truyền tải các giá trị văn học dân gian Việt Nam trên sân khấu đương đại. Có thể nhắc đến ở đây các vở tuồng lấy cảm hứng từ những nhân vật nữ anh hùng trong truyền thuyết như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, An Tư công chúa hay Mị Châu cùng với các vở tuồng lấy cảm hứng từ tinh thần nhân văn sâu sắc của người Việt qua các nhân vật cổ tích như Thị Kính, Thạch Sanh…
Trưng Nữ Vương thuộc hệ thống tuồng cổ dân gian được lưu truyền và được soạn diễn từ nhiều gánh hát lớn nhỏ khác nhau, có nội dung khai thác truyền thuyết Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Hán, ca ngợi lòng yêu nước và khát vọng giành độc lập dân tộc trong những năm dài Bắc thuộc12. Tuồng Trưng Nữ Vương vốn đã phổ biến trước 1975, được Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP.HCM phục dựng vào năm 2019 và công diễn chính thức tại Nhà hát lớn TP.HCM góp phần tái khẳng định hình ảnh những vị nữ vương anh hùng trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm dài lâu của dân tộc, gợi lên lòng tự hào về truyền thống và xây dựng ý thức nhân dân trong việc gìn giữ biên cương lãnh thổ trong thời kỳ hiện đại. Với vở tuồng này, nghệ thuật hát bội đã tái hiện bản sắc văn hóa Việt Nam không chỉ qua nội dung đề cao tinh thần yêu nước mà còn ở ngôn ngữ tượng trưng, hình thức hóa trang, y phục, và động tác bộ pháp mang tính quy phạm chặt chẽ. Các thủ pháp này giúp khắc họa rõ tính cách nhân vật, tạo nên tính trang trọng và khí thế anh hùng, đồng thời phản ánh thẩm mĩ truyền thống của sân khấu cung đình Việt Nam.
Triệu Ẩu xuất quân là kịch bản tuồng lấy chất liệu từ truyền thuyết dân gian về nữ tướng Triệu Thị Trinh, soạn giả đã dựng lại hình tượng Bà Triệu cưỡi voi trắng một ngà với khí phách lãnh đạo đội nữ quân phất cờ khởi nghĩa chống quân Ngô. Bà Triệu nổi tiếng với câu nói đầy khí khái trong lịch sử nước Nam: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”13. Vở tuồng này đã được Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP.HCM công diễn năm 2018 và gây tiếng vang lớn vì đã mang lại giá trị về nhiều mặt, khơi gợi lại lịch sử chống ngoại xâm kiên cường của dân tộc trong thời kỳ phong kiến tự chủ. Nội dung vở diễn đã đào sâu mục đích giáo dục tinh thần tự tôn và lòng tự hào về đức tính trung hậu, anh hùng của người phụ nữ Việt Nam từ quá khứ.
Nhắc đến đức hi sinh hạnh phúc riêng mình của người nữ vì quốc gia dân tộc thì cũng phải kể đến nhân vật An Tư công chúa trong vở tuồng cùng tên, câu chuyện về nàng chủ yếu được ghi chép trong sách sử, kể về sự hi sinh thầm lặng, chấp nhận hòa thân với tướng giặc để trì hoãn bước tiến của quân Nguyên Mông, tạo cơ hội cho triều đình củng cố lực lượng14. Sau này, một số tác phẩm văn học như tiểu thuyết lịch sử hay kịch nói và hát bội đã hư cấu thêm, phát triển hình tượng An Tư công chúa như một nhân vật hi sinh vì đất nước. Sự kết hợp giữa yếu tố sử thi và mĩ học trên sân khấu hát bội đã giúp vở diễn vừa tôn vinh khí phách dân tộc, vừa gìn giữ giá trị nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam. Vở tuồng này do Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP.HCM phục dựng và công diễn vào năm 2015.
Vở tuồng Quan Âm Thị Kính dựa trên tích truyện Phật giáo dân gian phổ biến khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ, mang giá trị luân lý sâu sắc15. Thị Kính là biểu tượng của sự nhẫn nhịn, hi sinh dù phải chịu bao nhiêu áp bức và oan khuất của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Vở tuồng này trước 1975 đã rất phổ biến trong sân khấu hát bội của cả nước và vẫn được nhiều đoàn hát bội cộng đồng và Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP.HCM diễn liên tục cho đến nay, giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức xã hội và tín ngưỡng dân gian. Quan Âm Thị Kính qua nghệ thuật hát bội không chỉ truyền tải thông điệp nhân quả, từ bi của Phật giáo mà còn thể hiện rõ bản sắc văn hóa dân tộc ở lối diễn ước lệ, cách hát - nói kết hợp nhạc lễ, phục trang và hóa trang đặc trưng phân định chính - tà, thiện - ác. Sự hòa quyện giữa tích truyện xưa và hình thức trình diễn kết hợp giữa truyền thống với hiện đại đã giúp vở tuồng vừa là biểu hiện đậm nét của niềm tin dân gian, vừa góp phần bảo tồn ngôn ngữ và mĩ cảm sân khấu cổ truyền Việt Nam.
Chiếc áo thiên nga là vở diễn của Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP.HCM tham gia Liên hoan Tuồng và Dân ca kịch toàn quốc 2022, được chuyển thể từ truyền thuyết Nỏ Thần nổi tiếng trong dã sử Việt Nam về câu chuyện tình có kết thúc bi thương của Mị Châu và Trọng Thủy16. Với Chiếc áo thiên nga, nghệ thuật hát bội đã khéo léo vận dụng ngôn ngữ ước lệ tượng trưng để tái hiện không gian cung đình và chiến trận, kết hợp bộ pháp, thủ pháp hóa trang và âm nhạc trống - kèn đặc trưng, tạo nên một trường cảm xúc trang trọng mà bi tráng. Việc chuyển thể truyền thuyết Nỏ thần không chỉ giữ nguyên yếu tố văn hóa dân gian mà còn làm nổi bật tinh thần trung quân, hiếu nghĩa và ý thức bảo vệ non sông là những giá trị cốt lõi trong bản sắc văn hóa Việt Nam.
Vở tuồng Thạch Sanh được phóng tác từ truyện cổ tích cùng tên rất quen thuộc với người Việt Nam bao thế hệ17. Trên sân khấu hát bội, Thạch Sanh không chỉ truyền tải nội dung truyện cổ tích mà còn được khắc họa đậm nét qua hệ thống ước lệ truyền thống: lớp “chằn tinh” và “đại bàng tinh” được thể hiện bằng thủ pháp múa bộ kết hợp hóa trang cách điệu, giúp khán giả hình dung quái vật qua động tác hình thể và sắc màu mặt nạ. Trang phục của Thạch Sanh thường mang tông trắng và xanh, gợi sự trong sáng, chính trực, còn Lý Thông dùng màu tối và đỏ đậm để ám chỉ sự gian ác, phản trắc. Các làn điệu hát bội như xướng, nói lối, hát nam được sử dụng linh hoạt, vừa tạo cao trào kịch tính trong các trận chiến, vừa lắng đọng trong những đoạn bày tỏ tấm lòng khoan dung. Nhờ vậy, vở Thạch Sanh trên sân khấu hát bội không chỉ là một câu chuyện cổ tích kể lại bằng hình thức diễn xướng mà còn là một sản phẩm văn hóa đặc sắc, hội tụ ngôn ngữ sân khấu truyền thống, thẩm mĩ thị giác – thính giác dân tộc và giá trị đạo đức – nhân văn của văn học dân gian Việt Nam.
Nhìn chung, qua phân tích kịch bản của một vài vở tuồng tiêu biểu sử dụng chất liệu văn học dân gian đã và đang được công diễn trên sân khấu hát bội tại TP.HCM hiện nay, có thể thấy rằng về nghệ thuật biểu diễn và hình thức sân khấu, nhiều khía cạnh đặc thù của hát bội đã được nghiên cứu như là biểu hiện của mĩ cảm dân tộc, là nơi gìn giữ và có khả năng tái tạo di sản dân tộc bằng đặc trưng loại hình sân khấu tổng hợp. Các vở tuồng được kể đến ở trên trong quá trình lan tỏa đến người xem đã hoàn thành tốt chức năng gìn giữ và lan tỏa bản sắc tốt đẹp bao đời của dân tộc Việt Nam, đều cùng cho thấy rằng loại hình nghệ thuật hát bội không chỉ đơn thuần là hình thức sân khấu nghe nhìn mang tính giải trí mà còn đóng vai trò gìn giữ, chuyển tải và làm sống động những giá trị nhân bản, nhân nghĩa, những chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc qua kịch bản mang chất liệu tự sự dân gian đậm đà.
3. Kết luận
Văn học dân gian với kho tàng truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, giai thoại lịch sử, thơ ca dân gian và bối cảnh văn hóa Việt Nam truyền thống chính là nguồn chất liệu vô giá, giàu tiềm năng giáo dục và chuyển tải tư tưởng nhân văn. Những vở diễn tiêu biểu tại các sân khấu hát bội chuyên nghiệp lẫn dã chiến trong khắp địa bàn TP.HCM đã khắc họa sinh động tinh thần yêu nước, lòng trung hiếu, đức hi sinh, khát vọng công lý, ý thức tự cường, những di sản văn hoá tinh thần lâu đời của truyền thống dân tộc Việt Nam. Hát bội trở thành một phương tiện kể chuyện đầy sức mạnh, khắc sâu những phẩm chất cao quý của dân tộc, khơi dậy niềm tự hào về cội nguồn và vun đắp tinh thần đoàn kết cộng đồng. Đây chính là giá trị cốt lõi giúp văn học dân gian tiếp tục lan tỏa trên sân khấu đương đại, nuôi dưỡng ý thức tự hào dân tộc và vun đắp nhân cách thế hệ trẻ. Một ưu điểm quan trọng là kịch bản dân gian rất dễ đi vào tầm đón nhận của khán giả nhờ sự quen thuộc, gắn với tâm thức cộng đồng, đồng thời dễ đồng cảm khi kết hợp với kỹ thuật biểu diễn mới và ngôn ngữ sân khấu hiện đại. Thông qua ngôn ngữ ước lệ, nghệ thuật cách điệu đặc trưng của hát bội kết hợp cùng kỹ thuật phục dựng hiện đại, những câu chuyện dân gian tưởng như xa xưa đã được hồi sinh, trở nên gần gũi và khơi lên tinh thần khám phá, tìm hiểu sâu hơn di sản truyền thống của cha ông, là minh chứng rõ ràng cho khả năng thích ứng của hát bội với thị hiếu công chúng đương đại.
Bên cạnh đó, việc các đơn vị như Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP.HCM kiên trì duy trì và làm mới các tích dân gian, mở rộng phạm vi biểu diễn để phục vụ miễn phí cho cộng đồng, đặc biệt là trong không gian học đường, không chỉ đóng khung trong sân khấu của nhà hát đã giúp loại hình nghệ thuật truyền thống này không bị mai một, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật cổ truyền giữa lòng đô thị hiện đại. Chính nhờ sự giao thoa giữa kỹ thuật phục dựng, phong cách biểu diễn đặc sắc và nội dung giàu tính giáo dục, các vở hát bội từ chất liệu dân gian đã trở thành cầu nối bền vững giữa di sản văn hóa quá khứ và khán giả đương đại. Do đó, cần tận dụng cơ hội quảng bá văn hóa dân gian Việt Nam đến du khách quốc tế thông qua các buổi diễn trích đoạn hát bội tổ chức tại Đường sách, Đền Hùng, Lăng Ông Lê Văn Duyệt. Việc lồng ghép các buổi biểu diễn hát bội phục dựng từ tích truyện dân gian vào các tuyến tham quan du lịch nội thành, kết hợp thuyết minh đa ngữ và các hoạt động tương tác, sẽ giúp khán giả quốc tế hiểu rõ hơn về giá trị lịch sử, thẩm mĩ và tinh thần nhân bản của văn học dân gian Việt Nam. Qua đó, sân khấu hát bội không chỉ đóng vai trò bảo tồn di sản cho người Việt mà còn trở thành kênh giới thiệu bản sắc Việt Nam ra thế giới, góp phần khẳng định giá trị văn hóa dân tộc trong bối cảnh giao lưu quốc tế ngày càng sâu rộng.
Chú thích:
* Khảo sát từ truyện cổ dân gian.
1 Linda Hutcheon (2006), A theory of adaptation, New York, NY, Routledge, tr. 9.
2 Julie Sanders (2006), Adaptation and appropriation, New York, NY, Routledge, tr. 18-28.
3 Cát Điền (1995), Vai trò của văn học dân gian với sân khấu truyền thống, NXB. Sân khấu.
4 Đạm Phương nữ sử (1923): “Lược khảo về tuồng hát An Nam”, Nam Phong tạp chí (76), tr. 303-307.
5 Vũ Ngọc Phan (1933): “Tuồng hát An Nam”, Revue Franco-Annamite (1), tr. 14-19.
6 Đoàn Nồng (1942), Sự tích và nghệ thuật hát bộ, NXB. Tân Việt.
7 Chua Soo Pong (1995), Traditional theatre in Southeast Asia, Singapore, UniPress (NUS Centre for the Arts) & Seameo spafa.
8 Hoàng Châu Ký (2001), Tuồng – Hát bội và bản sắc sân khấu truyền thống Việt Nam, NXB. Sân khấu.
9 Đoàn Thị Cảnh (2016): “Hát bội trong lễ hội Nam Bộ xưa và nay”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (2), tr. 13-17.
10 Báo Thanh Niên (2023): “Sống mãi người truyền giáo hát bội”, nguồn: https://thanhnien. vn/song-mai-nguoi-truyen-giao-hat-boi185230926212619735.htm, ngày 27.9.
11 Nguyễn Thị Huyền Trang (2023), Nghiên cứu kịch bản tuồng Nam Bộ trước 1945, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
12, 13 Viện Văn học (2001), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập I: “Thần thoại – Truyền thuyết”, NXB. Giáo dục Việt Nam, tr. 342, 383.
14 Nguyễn Huy Tưởng (2010), An Tư, NXB. Kim Đồng.
15, 17 Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 2, NXB. Giáo dục, tr. 1377, 1351.
16 Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 1, NXB. Giáo dục, tr. 518.