HOA VĂN DỆT THỔ CẨM TRUYỀN THỐNG CHĂM: TỪ NGÔN NGỮ BIỂU TƯỢNG ĐẾN NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ ỨNG DỤNG*

Bài viết phân tích hệ thống hoa văn dệt thổ cẩm truyền thống của người Chăm như một ngôn ngữ biểu tượng phản ánh tín ngưỡng, thế giới quan và bản sắc văn hóa cộng đồng. Từ đó, đề xuất định hướng khai thác hệ hoa văn này như nguồn tư liệu thẩm mĩ cho thiết kế mĩ thuật ứng dụng, góp phần bảo tồn di sản và thúc đẩy sáng tạo trong các ngành thiết kế đương đại.

 

   Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm tại Nam Khánh Hòa có nguồn gốc truyền đời từ thế hệ này sang thế hệ khác, là nét văn hóa truyền thống đặc trưng với lối dệt thủ công khéo léo, màu sắc rực rỡ từ nguyên liệu sợi bông tự nhiên, mang đậm dấu ấn tín ngưỡng, văn hóa của cộng đồng dân tộc Chăm. Người Chăm tương truyền rằng nghề dệt thổ cẩm được Bà mẹ xứ sở Po Inuh Nagar truyền dạy cho họ từ cách trồng bông, xe sợi đến dệt vải, phổ biến ở rất nhiều làng trước đây. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có làng Mỹ Nghiệp (tiếng Chăm gọi Plei Cakleng) được xem là làng nghề còn giữ lại được nghề dệt vải truyền thống mang tính tập trung và đa dạng sản phẩm nhất ở vùng này.

   Dệt thổ cẩm là một quá trình làm ra chất liệu vải thủ công đòi hỏi kỹ thuật cao và sự tỉ mỉ trong từng công đoạn. Người thợ sử dụng các khung dệt làm từ tre, gỗ, nứa cùng với các vật liệu được khai thác ở địa phương để tạo nên những tấm vải thổ cẩm có độ bền đẹp và màu sắc rực rỡ. Thổ cẩm là chất liệu truyền thống được sử dụng để may trang phục và có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của các cộng đồng người thiểu số, không chỉ đáp ứng nhu cầu sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày mà còn khẳng định bản sắc văn hóa và mối liên kết bền chặt giữa cộng đồng với hệ sinh thái bản địa, đặc biệt là trong các dịp trọng đại như lễ hội, nghi thức quan trọng như đám cưới hay cúng tế. “Hoa văn thổ cẩm thể hiện tính triết lý nhân sinh quan, vũ trụ quan sâu sắc; sự hòa hợp, ứng xử của con người với môi trường tự nhiên”1.

   1. Di sản dệt thổ cẩm trong dòng chảy văn hóa, nghệ thuật Chăm

   Dệt thổ cẩm Chăm không chỉ là sản phẩm thủ công mang tính trang trí, có hệ thống hoa văn giàu tính mĩ cảm, mà còn là kho tàng ngôn ngữ biểu tượng mang tính ước lệ cao, sở hữu cấu trúc module, đặc trưng hình học đối xứng, nhịp điệu lặp lại theo dạng hồi văn phản ánh bản sắc văn hóa đặc trưng của một cộng đồng người (bao gồm thế giới quan, hệ tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo...) đã có mặt rất lâu đời ở dải đất duyên hải miền Trung Việt Nam. Việc nghiên cứu hoa văn thổ cẩm Chăm từ góc nhìn biểu tượng, đồng thời định hướng ứng dụng trong nghệ thuật trang trí hiện đại là cần thiết nhằm góp phần bảo tồn, mở ra hướng sáng tạo mới trong thiết kế mĩ thuật ứng dụng, là sợi dây kết nối giá trị truyền thống và hiện đại một cách hài hòa, toàn diện.

   Các biểu tượng của hoa văn, họa tiết trang trí trên thổ cẩm Chăm vừa mang lại giá trị thẩm mĩ vừa phản ánh các giá trị tôn giáo, tín ngưỡng, sắc thái của cộng đồng Chăm, cấu trúc xã hội mẫu hệ với vai trò chủ đạo của người phụ nữ được thể hiện rất rõ trong nghề dệt thổ cẩm này. Nghệ nhân dệt thổ cẩm Phú Thị Mỹ Yến tại làng Mỹ Nghiệp cho biết các biểu tượng được dệt của thổ cẩm Chăm không chỉ mang ngôn ngữ thị giác về ký ức thế hệ mà còn thể hiện tính sáng tạo, lưu giữ, truyền dạy tất cả kỹ thuật, ngôn ngữ biểu tượng, tư tưởng ẩn chứa trong đó gắn liền với nghề dệt vì người Chăm truyền nghề cho con gái dòng họ mẹ mang tính “mẹ truyền con nối” như trong bản thơ Ariya Muk Thruh Palei (Bà tổ quê hương) có đề cập đến sự tinh thông nghề dệt vải được xem là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá sự đảm đang, khéo tay của người con gái Chăm:

   “Anak threm hakak threm duen
   Mang njep ka-mbuen mei daok dara
   Mang yah khing ngap gruk hit
   Threm bitait, threm bipaghaih”.
                    (Tạm dịch: “Em tập đong, tập dệt/ Theo đúng sách dạy con gái/ Khi em muốn tập làm/ Thì gắng tập cho tinh, cho thành thạo”).

   Nghề dệt đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ qua từng khâu. Để hoàn thành được một tấm vải dệt thổ cẩm, người thợ đã đặt vào trong đó rất nhiều công sức qua nhiều công đoạn xử lý khác nhau. “Mỗi hoa văn ẩn chứa giai thoại riêng. Tìm hiểu về dệt thổ cẩm cũng là khám phá thêm về các dân tộc và những câu chuyện mang tính thời đại”2. Với góc nhìn tiếp cận nghề dệt dưới góc độ một chủ thể văn hóa đương đại cho thấy đây không chỉ là hoạt động sản xuất thủ công đơn thuần mà chính là minh chứng rõ nét nhất cho bản lĩnh và khả năng tự biến đổi linh hoạt của người Chăm giữa dòng chảy hiện đại hóa. Thổ cẩm được xem như là một “kho ký ức được mã hóa trên vải”, ghi lại và trao truyền cho thế hệ tiếp nối những giá trị tinh thần cốt lõi và tồn tại nhờ vào tâm huyết gìn giữ văn hóa truyền thống của chính cộng đồng mà trong đó, vai trò của người phụ nữ Chăm hiện lên như những “người giữ lửa” thầm lặng nhưng kiên định, giúp mạch nguồn văn hóa không bị đứt gãy.

   2. Đặc trưng của dệt thổ cẩm

   Chăm Tại Hợp tác xã (HTX) làng nghề dệt thổ cẩm Chăm Mỹ Nghiệp, ông Phú Văn Ngòi - Giám đốc HTX đã giới thiệu toàn bộ quy trình làm thổ cẩm truyền thống của người Chăm qua các khâu trồng và thu hoạch bông, kéo sợi; xử lý nhuộm màu tự nhiên; dệt hoàn chỉnh tấm thổ cẩm đã được phục dựng một cách hệ thống và đưa vào thành mô hình trải nghiệm kích cầu tham quan cho khách du lịch và phục vụ nghiên cứu khi đến làng nghề. Trong từng khâu là các công đoạn xử lý chi tiết và cẩn thận. Đặc biệt, ở khâu dệt, hướng dẫn dệt vải có sự tham gia của các nghệ nhân có “đôi tay vàng” trong làng dệt thổ cẩm như Lâm Nữ Minh, Đạt Thị Nam, Văn Thị Bạch, Vạn Thị Thạng...

 
Sơ đồ các khâu thực hiện của nghề dệt thổ cẩm Chăm Mỹ Nghiệp.

   Sau khâu gia công nguyên liệu bông thì người Chăm thực hiện xử lý nhuộm màu cho sợi từ các nguyên vật liệu có ở địa phương, cùng với kinh nghiệm kỹ thuật được truyền dạy lại từ các bà, các mẹ nên màu của sợi giữ được rất lâu và bóng đẹp. Người Chăm tạo màu đỏ từ nhựa cây phun pan hoặc kalih likun, màu chàm từ cây chàm maow, lấy củ phun jieng tạo màu nâu, cây mun để tạo thành màu đen, cây hla nalanh tạo màu vàng đậm... Qua từng công đoạn cộng với sáng tạo, phối màu linh hoạt các motif trang trí hoa văn, người Chăm tiếp tục dệt nên số lượng sản phẩm phái sinh từ những mẫu hoa văn gốc, qua đó làm tăng tính thẩm mĩ và đa dạng mẫu mã sản phẩm hơn. Hoa văn họa tiết truyền thống chính là yếu tố chính trong nhận diện bản sắc thổ cẩm dân tộc Chăm. Ngay từ nhỏ, các cô gái Chăm ở làng nghề Mỹ Nghiệp đã được truyền dạy chú trọng về tính nguyên bản truyền thống, từng sợi vải được bắt go theo các mẫu hoa văn đặc thù đã tạo cho nghề dệt không còn chỉ là phương tiện giao tiếp hay lưu giữ ký ức, mà là biểu tượng khẳng định bản sắc Chăm giữa dòng chảy văn hóa. Bằng cách làm mới chất liệu và màu sắc trên nền tảng cấu trúc cũ, nghề dệt đã trở thành một “cơ chế văn hóa động”. Cách tiếp cận này giúp chuyển hóa các giá trị truyền thống, tín ngưỡng và thế giới quan của người Chăm thành một ngôn ngữ tạo hình hiện đại, đầy tính biểu tượng.

   “Kỹ thuật dệt truyền thống của người Chăm bao gồm các công đoạn như: mắc sợi, bắt go, dập sợi và dệt...”3. Tùy theo nhu cầu và kích thước sản phẩm dệt mà trong quá trình mắc sợi (li nguh), người thợ sẽ sử dụng khung dệt bản dài dành cho khổ vải hẹp/ dây thổ cẩm (Danâng manyim jih dalah) hay khung dệt ngắn dành cho khăn/ chăn (Danâng manyim aban khan). Người Chăm lưu giữ cho mình kỹ thuật dệt đặc trưng, “đa số hoa văn thổ cẩm Chăm có dạng hình học phản ánh mối liên hệ giữa con người với tự nhiên, hay thể hiện tâm thức, ý niệm với tôn giáo”4 . Mỗi họa tiết và sắc màu được nghệ nhân đưa vào sử dụng được xem là một ngôn ngữ biểu trưng, không chỉ dùng để trang trí mà còn phản ánh thế giới quan, niềm tin tôn giáo và vị thế xã hội của người nghệ nhân trong dòng chảy văn hóa. Có thể chia nhóm hoa văn chủ đạo của thổ cẩm Chăm thành các nhóm sau:

   - Nhóm hoa văn biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng, quyền lực: thần Shiva cưỡi chim trĩ (ganuer matri ndik caguer), rồng (ina garai), chim hăng (bi-nyuer hang), chóp mái/ bầu mái tháp (bi-nyuer pabung), hoa văn tháp thiêng (bimong), lá nhĩ/ lá đề (talei seng), nhau thai (bi-nyuer athaok), dây yếm của vua (talei kabak)...

   - Nhóm hoa văn motif động vật: đồi mồi/ rùa biển (nduk mâh), mai rùa (baong kara), chân chó (takai asau), chân chim cút (takai wak), mắt gà (mata manuk), hoa văn hình người (bingu manuis), con thằn lằn (kacak), cườm bồ câu (takuai)...

   - Nhóm hoa văn motif thực vật: hoa bồng bồng (tem-un), hạt lúa nổ (kamang), đậu ván (baoh rabai), dây leo (haraik), hoa mai (suphi), hoa 4 cánh (ritaih)...

   - Nhóm hoa văn motif hình học: hình thoi (tamul), nắp hộp tròn (hatuk hop wil), nắp hộp có cánh (hatuk hop saw), mỏ neo thuyền (gal-wak), răng cưa (mata kagaik), hạt cườm (baoh jap)...

   Từ các nhóm chính này, các sản phẩm hoa văn phái sinh sẽ được các nghệ nhân biến đổi sáng tạo linh hoạt với nhiều màu sắc, kích thước lớn nhỏ khác nhau, tạo nên sự đa dạng đầy thú vị cho thổ cẩm Chăm. Tuy nhiên có một số hoa văn khó, mang tính phức tạp cao và do chỉ được truyền trong nội tộc nên có nguy cơ mai một hoặc sẽ biến mất như hoa văn thần Shiva cưỡi chim trĩ, tháp Bimong. HTX đang rất tích cực vận động các gia đình Chăm đóng góp các bản chart dệt sợi để thực hiện lưu giữ và bảo tồn hoa văn cổ xưa đặc biệt này.

   Hoa văn thổ cẩm được dệt chìm nổi trên nền sợi đơn sắc hoặc đa sắc là kỹ thuật cài hoa văn đặc biệt của người Chăm bằng khung dệt thủ công (Krah). Sự kết hợp chặt chẽ giữa sợi dọc và sợi ngang với các mắc sợi được điều chỉnh theo các con go có thứ tự luân phiên mà người thợ dệt phải ghi nhớ, thành thạo cách nâng/ hạ sợi để “bắt” hoa văn, tạo nên bề mặt vải có độ nổi khối và chiều sâu - các dải họa tiết nối tiếp nhau theo chiều dài khổ vải, thường tuân thủ nguyên tắc đối xứng và lặp lại vô tận, nhịp điệu thị giác liên tục, tượng trưng cho sự luân hồi và trường tồn của nòi giống “làm cho hoa văn nổi lên giữa nền vải và đường chỉ ngang mà không bị che khuất giữa các màu”5.

   Người Chăm yêu thích gam màu trắng mang tinh thần biểu tượng rất cao trong tín ngưỡng cộng đồng nhưng họ vẫn đồng thời sử dụng đa dạng các gam màu khác, tạo nên sự phong phú về màu sắc trong các trang phục dân tộc. Màu sắc trong thổ cẩm Chăm được phối hợp trẻ trung, tươi tắn, mang tính ứng dụng cho các dịp lễ hội như đỏ, vàng, cam, xanh biển, xanh lá cây... được lặp lại theo suốt chiều dài tấm vải thổ cẩm. Văn hóa Chăm có sự ảnh hưởng và giao thoa tiếp biến với văn hóa, tín ngưỡng Ấn Độ, thể hiện tư duy tín ngưỡng và ngôn ngữ biểu tượng rõ nét qua phương thức tạo hình, bố cục hoa văn trên thổ cẩm với hệ thống đặc trưng. Phần lớn hoa văn, họa tiết trang trí trên thổ cẩm sẽ được ứng dụng vào những bộ trang phục của người Chăm mặc trong các nghi thức lễ tục của cộng đồng (vị trí dây thắt lưng, cạp váy, talei san hoặc trên aban - váy quấn bằng vải tấm, khan - váy may ống…). Dây thắt lưng thổ cẩm talei kabak vốn là điểm nhấn rực rỡ với hệ thống hoa văn đa dạng trong trang phục lễ hội của phụ nữ Chăm. Thế nhưng, di sản này đang đứng trước nguy cơ thất truyền khi thế hệ trẻ không còn mặn mà với nghề dệt vải. Những kỹ thuật bắt hoa văn cổ truyền hiện chỉ còn lưu giữ trong ký ức và đôi bàn tay của số ít nghệ nhân cao tuổi - những “di sản kiến thức sống động” hiếm hoi còn lại trong cộng đồng Chăm.

   3. Phát triển nghiên cứu văn hóa di sản, nghệ thuật dân tộc vào các dự án/ học phần thiết kế chuyên ngành

   Thiết kế mĩ thuật ứng dụng khai thác giá trị văn hóa bản địa như một nguồn vốn tư duy sáng tạo, bao gồm việc tiếp nhận và chuyển hóa các hệ thống hoa văn, phong tục tín ngưỡng và đời sống xã hội của từng vùng miền thành tư liệu thẩm mĩ cho ngôn ngữ thiết kế. Việc ứng dụng yếu tố bản địa không chỉ củng cố tính nhận diện vùng miền mà còn tạo ra sự giao thoa bền vững giữa truyền thống và hiện đại. Đây chính là nhịp cầu kết nối quá khứ với thực tại, giúp phục dựng các quy trình sản xuất cổ truyền, đồng thời mở ra không gian thử nghiệm mang nhiều tính sáng tạo. Qua đó, những giá trị di sản được hồi sinh với diện mạo mới, đáp ứng trọn vẹn nhu cầu thẩm mĩ đương đại.

   Chương trình đào tạo các chuyên ngành thiết kế được Khoa Mỹ thuật và Thiết kế, Trường Đại học Văn Lang (VLU) hỗ trợ, khuyến khích nghiên cứu và thực hiện các đề tài thiết kế ứng dụng công nghệ mới dựa trên các giá trị truyền thống dân tộc, kết hợp với các yếu tố hiện đại và cá nhân hóa, giúp cho các sản phẩm thiết kế vừa duy trì, phát huy truyền thống vừa thể hiện sự sáng tạo, đa dạng trong kỷ nguyên công nghệ, tạo sức hấp dẫn cao hơn đối với khách hàng. Các học phần/ dự án tuân thủ nguyên tắc học tập thực tiễn và trải nghiệm thực tế, hợp tác với nhiều làng nghề thủ công, trung tâm văn hóa, nghệ thuật địa phương để tổ chức các chương trình chuyên nghiệp và trao đổi học thuật liên quan đến nghệ thuật di sản truyền thống, nhằm tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, phân tích, học tập các kỹ thuật, vật liệu, sự sắp xếp của các motif hoa văn truyền thống dân tộc và kết hợp vào thiết kế các sản phẩm ứng dụng thực tế.

   3.1. Ứng dụng trong ngành Thiết kế thời trang và phụ kiện

   Sinh viên ngành thời trang được trải nghiệm trực tiếp tại làng nghề dệt thổ cẩm Chăm Mỹ Nghiệp để thực hiện khảo sát điền dã, thu thập các thông tin và nghiên cứu những đặc điểm văn hóa, nghệ thuật dân tộc Chăm. Thông qua quá trình phác thảo và ứng dụng các hoa văn thổ cẩm dân tộc Chăm vào các bộ sưu tập thời trang, phụ kiện trang sức, mang lại hiệu quả thiết thực không chỉ trong môi trường học thuật mà thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp. Điều này tạo ra sự năng động, sáng tạo cho không gian học tập, trao đổi kiến thức thú vị cho cả giảng viên và sinh viên khi tiếp cận các chủ đề liên quan đến nghệ thuật dân tộc, tiến hành nghiên cứu và ứng dụng nhiều dự án lấy cảm hứng từ các họa tiết truyền thống dân tộc, bao gồm các kỹ thuật thiết kế, chế tác hiện vật, phục chế..., tạo ra các nền tảng học tập và trao đổi thiết kế hấp dẫn. Sinh viên được trang bị thêm các kỹ năng nghiên cứu như phỏng vấn chuyên gia, ghi chép điền dã, vẽ ghi - nghiên cứu mẫu vật liệu, các phương pháp sản xuất để tạo mẫu, tìm kiếm ý tưởng thiết kế từ nhu cầu địa phương và xu hướng xã hội để áp dụng nghiên cứu vào thiết kế sản phẩm.


Hình 1. BST thời trang đương đại ứng dụng thổ cẩm Chăm với họa tiết biểu tượng thần Shiva cưỡi chim trĩ (ganuer matri ndik caguer) (Ảnh: NTTA, 2025)

Hình 2. BST phụ kiện túi xách ứng dụng thổ cẩm Chăm với hoa văn mỏ neo (gal-wak) và mắt gà (mata manuk) (Ảnh: NTTA, 2025)

   3.2. Ứng dụng trong sản phẩm ngành Thiết kế nội thất

   Nguồn cảm hứng sáng tạo từ di sản truyền thống, các làng nghề thủ công mang đậm bản sắc dân tộc được sinh viên ngành Thiết kế nội thất, VLU thực hiện trong quá trình phát triển ý tưởng thiết kế với nhiều giá trị độc đáo. Những giá trị văn hóa, nghệ thuật, lịch sử phát triển của một dân tộc không chỉ thể hiện bản sắc văn hóa của vùng miền mà còn là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận cho các nhà thiết kế. Mẫu thiết kế của nhóm sinh viên được phát triển từ cảm hứng trang phục truyền thống Chăm - áo dài trắng cùng dây thắt lưng thổ cẩm talei kabak dệt motif hoa văn hình thoi đôi (tamul ayau), mai rùa (baong kara).

   3.3. Ứng dụng trong ngành Thiết kế công nghiệp

   Sự kết nối giữa các yếu tố công năng và thẩm mĩ của sản phẩm tạo dáng công nghiệp thể hiện sự sáng tạo có tính ứng dụng cao trong các sản phẩm thực tế, trong đó vai trò định hướng của chuyên ngành Thiết kế công nghiệp nhấn mạnh tính độc lập trong việc khai thác chất liệu của làng nghề thủ công mĩ nghệ truyền thống bản địa. Sáng tạo nghệ thuật thông qua các yếu tố của quá trình tiếp cận lịch sử, nền văn hóa, nghệ thuật dân gian đa dạng kết hợp với sự phát triển tất yếu của xã hội hiện đại, cộng hưởng với các yếu tố công nghiệp bên ngoài đã định hình thị hiếu thẩm mĩ hiện tại của người dùng. Bộ sản phẩm được sinh viên ngành Thiết kế công nghiệp lấy cảm hứng từ các chất liệu có tại các làng nghề truyền thống Chăm (dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp, chạm bạc Bàu Trúc, gốm Bàu Trúc).


Hình 3. Bộ sản phẩm khai thác chất liệu thổ cẩm, gốm, bạc của người Chăm (Nguồn: Sinh viên K25 ngành Thiết kế công nghiệp)

   Nghiên cứu chuyên sâu để ứng dụng trong thiết kế mĩ thuật ứng dụng là một quá trình sáng tạo mà sinh viên áp dụng hiệu quả, tạo nên sự khác biệt so với các sản phẩm hiện có trên thị trường. Hình dáng, hoa văn trang trí và kỹ thuật thể hiện triển khai từ ý tưởng thiết kế là những yếu tố liên quan mật thiết, định hình nên đặc điểm của các dự án thiết kế này. Sinh viên ngành Mỹ thuật ứng dụng, trong quá trình nghiên cứu và khám phá, đã tích hợp hệ thống hoa văn trang trí truyền thống với bố cục được thể hiện phù hợp với hình thức thiết kế sản phẩm. Với sự phong phú về chủng loại sản phẩm, sự đa dạng về hình dáng, kết hợp với sắp xếp các khối trang trí theo nhiều phong cách biểu đạt khác nhau, đã mang lại sự hoàn thiện và tự do trong việc hoạt động nghiên cứu, đồng thời cũng tạo nên tính mới mẻ trong việc khám phá và thể hiện các giá trị truyền thống của dân tộc đối với các sản phẩm thiết kế mĩ thuật hiện đại. Sự kết hợp giữa nghệ thuật tạo hình và hệ thống hoa văn trang trí của di sản đã chắp cánh cho quá trình sáng tạo của sinh viên chuyên ngành thiết kế trở nên ngày càng hoàn thiện và có ý nghĩa đối với cộng đồng, nâng cao tính sáng tạo và độc đáo của các sản phẩm thiết kế công nghiệp giữa công nghệ gia công hiện đại và kỹ thuật truyền thống với tư duy thiết kế tạo hình mới, tạo ra các sản phẩm thiết kế công nghiệp mang nhiều thế mạnh dân tộc riêng biệt, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

   4. Kết luận

   Ứng dụng thổ cẩm Chăm vào thiết kế mĩ thuật hiện đại không chỉ dừng lại ở hành động tôn vinh di sản mà còn là chiến lược phát triển bền vững cho các làng nghề truyền thống. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy một sự đứt gãy trong tư duy khai thác: đa phần các thiết kế mới chỉ dừng lại ở việc sao chép bề mặt mà thiếu đi sự thấu cảm về chiều sâu văn hóa. Nếu thiếu đi sự am tường về ngữ nghĩa và ngữ cảnh gốc, việc ứng dụng hoa văn dễ rơi vào bẫy “hình thức hóa thẩm mĩ” - nơi các biểu tượng thiêng liêng bị biến thành lớp vỏ trang trí thiếu đi cảm xúc. Do đó, đòi hỏi nhà thiết kế phải xác lập một thái độ ứng xử đúng đắn, dựa trên tính trung thực và trách nhiệm đạo đức đối với di sản dân tộc truyền thống.

   Các yếu tố truyền thống được đưa vào thiết kế mĩ thuật ứng dụng đương đại là hướng đi phù hợp nhằm bảo tồn di sản dân tộc. Nghệ thuật dệt thổ cẩm Chăm chính là một kho tàng tiềm năng với kỹ thuật tạo hình và hoa văn mang đậm bản sắc bản địa. Trước sức ép của quá trình công nghiệp hóa và nguy cơ đứt gãy thế hệ kế thừa, việc duy trì giá trị nghệ thuật này đã trở thành trách nhiệm riêng của cộng đồng và là mối quan tâm chung cho các chuyên gia nghiên cứu, nhà thiết kế và cơ quan quản lý các cấp để có thể tạo được đầu ra sản phẩm ổn định, phát triển du lịch cộng đồng gắn liền với trải nghiệm thực tế tại làng nghề dệt truyền thống. Đồng thời tạo sự liên kết với các nhóm ngành mĩ thuật ứng dụng để đưa chất liệu thổ cẩm vào trong các thiết kế cập nhật xu hướng mới, hiện đại, từ đó nâng cao giá trị sử dụng và sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

 

 

 

Chú thích:
* Nghiên cứu này thuộc đề tài mã số VLU-2510- DT-KMC-GV-0029, được tài trợ bởi Trường Đại học Văn Lang
1 Nguyễn Anh Bằng, Vũ Tiến Đức (2021): “Giá trị di sản văn hoá dệt thổ cẩm của các dân tộc thiểu số tại chỗ vùng Tây Nguyên”, Tạp chí Khoa học xã hội Tây Nguyên, 1, tr. 67-75.
2 Phúc Nguyên (2024): “Có nhiều cơ hội và tiềm năng để lan tỏa văn hóa thổ cẩm, nhưng cần nhiều thời gian”, nguồn: https://advertisingvietnam.com/ article/co-nhieu-co-hoi-va-tiem-nang-de-lan-toavan-hoa-tho-cam-nhung-can-nhieu-thoi-gian-l23733, truy cập 20.1.2026.
 3, 5 Nguyễn Ngọc Thanh (2018), Đặc trưng văn hóa vùng Nam Trung Bộ, NXB. Khoa học xã hội, tr. 209.
4 Ethnicity Vietnam (2021), Dòng chảy sắc màu được kể bởi dân tộc Pà Thẻn/ Mường/ Chăm, NXB. Thanh niên.

 

Bình luận

    Chưa có bình luận